Thứ Năm, 20 tháng 9, 2012

Bản tin thị trường Cà Phê ngày 21/9/2012

Bản tin thị trường Cà Phê ngày 21/9/2012


Bản tin thị trường cà phê ngày 21/9/2012 by DĐCP | Ban tin thi truong ca phe ngay 21/9

Dường như thị trường Robusta đã chạm đáy và có thể đi ngang để khẳng định xu hướng trước khi bật tăng trở lại.


1. Thị trường London
Giá cà phê Robusta đảo chiều bật tăng khá mạnh. Kỳ hạn giao tháng 11 tăng 24 USD, tương đương 1,18%, lên mức 2.041 USD/tấn và kỳ hạn giao tháng 1/2013 tăng 20 USD, tương đương 0,97%, lên mức 2.056 USD/tấn, mức tăng đáng kể. Lượng giao dịch trong phiên chỉ ở mức trung bình.

2. Thị trường New York
- Giá cà phê Arabica quay đầu sụt giảm. Kỳ hạn giao tháng 12 giảm 5,8 cent, tức giảm 3,44 %, xuống 168,6 cent/lb và kỳ hạn giao tháng 3/2013 giảm 5,75 cent, tức giảm 3,33 %, còn 172,55 cent/lb, mức giảm rất mạnh. Khối lượng giao dịch trong phiên cũng tăng khá.

- Báo cáo của sàn cho thấy lượng tồn kho đang gia tăng và hàng vẫn tiếp tục dồn về.

- Giá cà phê Arabica vẫn chịu sức ép của nguồn cung. Số liệu thống kê xuất khẩu tháng 8 của các nước khu vực Trung Mỹ tăng mạnh lên hơn 70% so với cùng kỳ năm trước, trong khi vụ mùa của Brazil và Colombia đem lại sản lượng dồi dào.

3. Thị trường trong nước
- Hôm nay, giá cà phê nhân xô tại các tỉnh Tây nguyên tăng nhẹ 200 đồng lên mức 41.500 - 41.600 đồng/kg. Thị trường vẫn thấy giao dịch quanh mức 42.000 đồng/kg. - Giá cà phê Robusta chín sớm vẫn giữ mức 7.000 - 7.500 đồng/kg tươi.

- Theo số liệu thống kê của Hải Quan, xuất khẩu cà phê 15 ngày cuối tháng 8 đạt 46.089 tấn, đưa xuất khẩu cà phê tháng 8 đạt 102.664 tấn với trị giá 228,7 triệu USD, giảm 10,2% về lượng và giảm 9,1% về trị giá so với tháng trước.

Tìm hiểu bệnh đóng rong trên tôm Sú

Tìm hiểu bệnh đóng rong trên tôm Sú 

Tìm hiểu bệnh đóng rong trên tôm sú by C.ty UVVN | Tim hieu benh dong rong tren tom su

1. Tổng quan
 - Tôm sú (P. monodon) là đối tượng nuôi nước lợ quan trọng và phổ biến ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Nuôi tôm sú thành công đã và đem lại nguồn thu nhập lớn cho nhiều hộ dân ven biển ĐBSCL. Hình thức nuôi tôm đa dạng như thâm canh, bán thâm canh và quảng canh cải tiến phù hợp cho quy mô hộ gia đình.


- Tuy nhiên, hiện nay tình hình bệnh xảy ra thường xuyên làm ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế của người nuôi. Bên cạnh những bệnh nguy hiểm thường gặp trên tôm sú nuôi thâm canh do tác nhân vi rút hay bệnh liên quan đến gan tụy thì bệnh do các sinh vật bám (bệnh “đóng rong”) cũng gây thiệt hại đáng kể cho nghề nuôi. Các sinh vật bám gây bệnh “đóng rong” bao gồm động vật nguyên sinh, vi khuẩn dạng sợi, tảo bám, vi nấm...
Tôm sú bị bệnh đóng rong 
A: Tôm sú bị đóng rong khắp cơ thể 
B và C: Mang tôm chuyển màu hồng 
D: Mang tôm chuyển màu đen
E: Vỏ tôm bị hà bám
F: Vỏ tôm có lớp nhớt

 2. Dấu hiệu bệnh
 Tôm sú khi bị bệnh đóng rong có biểu hiện khác nhau tùy thuộc vào những loại sinh vật bám và cả những chất bẩn bám trên bề mặt cơ thể (Hình 1A, E và F). Hiện tượng đóng rong ở mang tôm thường làm cho mang đổi màu thậm chí bị đen (Hình 1B, C và D). Hiện tượng đóng rong ở vỏ tôm thường làm vỏ tôm trơn giống như phủ lớp nhớt, vỏ tôm trông có tảo bám trên bề mặt, vỏ tôm không sạch. Bệnh đóng rong rất dễ nhận biết, toàn thân bị dơ, tập trung ở phần đầu ngực hay toàn thân, mang và các phụ bộ. Tôm bị bệnh đóng rong, trên vỏ thường có màu xanh của tảo, màu đen khói đèn hay màu xám đục giống như bùn. Tôm bị bệnh này rất yếu, bỏ ăn, ít di chuyển và cặp mé bờ, đồng thời mang thường bị tổn thương hoặc biến đổi màu sắc. Tôm bị bệnh đóng rong thì hoạt động khó khăn. Bệnh nặng phá hủy vỏ tôm và xâm nhập vào cơ thịt tôm. Ngoài ra bệnh còn tạo điều kiện cho các loại vi khuẩn và ký sinh trùng xâm nhập.

3. Yếu tố nguy cơ gây ra bệnh
Bệnh đóng rong xảy ra do sự phát triển của các sinh vật bám và sự tích tụ các vật chất vô cơ trên bề mặt cơ thể tôm. Hiện tượng này thường xuất hiện ở những tôm có sức khỏe kém. Tôm yếu không thể tự làm sạch cơ thể hay cũng không lột xác bình thường như những tôm khác vì thế trên vỏ tôm thường bị các chất dơ bẩn bám vào. Bên cạnh đó điều kiện ao nuôi xấu thường làm tôm bị suy yếu, các chất dinh dưỡng ngày càng tăng trong quá trình nuôi thúc đẩy sự phát triển của các sinh vật gây bẩn bề mặt. Các loài sinh vật có thể gây bệnh đóng rong ở tôm bao gồm động vật nguyên sinh Zoothamnium spp., Vorticella spp., Suctoria spp.; các động vật chân tơ (barnacles); tảo Spirulina subsalsa, Schizthrix calcicola, Enteromorpha sp., Amphora sp., Nitszchia sp.; nấm Fusarium sp.; vi khuẩn dạng sợi Leucothrix spp. và các loại khác. Bệnh dễ xảy ra ở những ao nuôi có mức nước thấp, rong và tảo phát triển nhiều, những ao có đáy dơ hoặc nguồn nước xấu, nhiều chất hữu cơ.
 
Đặc điểm hình thái của tác nhân gây bệnh 
A: Acineta sp.
B và C: Zoothamnium sp.
D: Epistylis sp.
E: Vi khuẩn dạng sợi Leucothrix mucor trên mang tôm

4. Phương pháp phòng bệnh
 - Bệnh đóng rong gây ra bởi các sinh vật bám khác nhau nên phải chú ý dấu hiệu ban đầu để xử lý hiệu quả nhất. Nên cải tạo chất lượng nước, cho ăn thức ăn có đầy đủ chất dinh dưỡng để kích thích tôm hoạt động và lột xác thường xuyên. Chỉ xử lý tôm bằng hóa chất khi nào bệnh kéo dài dù đã cải thiện chất lượng nước. 

- Cung cấp đầy đủ oxy giúp tôm dễ dàng lột xác hơn. Sử dụng men vi sinh định kỳ. Quản lý chất lượng nước ao tốt, ổn định tảo trong ao và luôn đảm bảo nhu cầu oxy cho tôm.

5. Phương pháp trị bệnh
 - Có thể dùng formalin (37 - 40% formaldehyde) với liều lượng thường dùng là 25 - 30 mL/m3 nước ao nuôi, nên dùng ban ngày và sục khí liên tục trong quá trình xử lý. Formalin có tác dụng trực tiếp diệt sinh vật bám và kích thích sự lột xác của tôm.

- Có thể dùng BKC 80 với liều 0,8 mL/m3, đối với các loại BKC có hàm lượng hoạt chất thấp hơn thì sử dụng theo chỉ dẫn nhà sản xuất.

- Sử dụng chế phẩm vi sinh để phân hủy các chất hữu cơ để làm sạch đáy ao thường xuyên. - Sử dụng một số hóa chất diệt tảo, diệt nguyên sinh động vật khi chúng phát triển mạnh trong ao nuôi.

Bài viết đã được mua tác quyền từ tác giả, bất cứ hình thức sao chép nào đều phải có trích dẫn nguồn: Ts. Phạm Minh Đức – Khoa Thủy sản – ĐH Cần Thơ.

Thứ Tư, 19 tháng 9, 2012

Bản tin thị trường Cà Phê ngày 18/9/2012

Bản tin thị trường Cà Phê ngày 18/9/2012

Bản tin thị trường cà phê ngày 18/9/2012 by DĐCP | Ban tin thi truong ca phe ngay 18/9/2012

 Giá cà phê thế giới giảm mạnh do nhà đầu tư bán tháo sau khi không đạt được mức cao.

   
1. Thị trường London
Giá cà phê Robusta phiên qua suy yếu khi các nhà đầu cơ giảm bớt vị thế mua. Kỳ hạn giao tháng 11 giảm 19 USD, tương đương 0,92%, xuống 2.064 USD/tấn và kỳ hạn giao tháng 1/2013 giảm 16 USD, tương đương 0,77%, còn 2.081 USD/tấn, mức giảm đáng kể. Lượng giao dịch chỉ ở mức trung bình.  

2. Thị trường New York
- Giá cà phê Arabica sụt giảm rất mạnh do nhà đầu tư bán tháo sau khi không đạt được mức cao 8 tuần. Kỳ hạn giao tháng 12 giảm 5,45 cent, tức giảm 3,1 %, xuống 175,65 cent/lb và kỳ hạn giao tháng 3/2013 giảm 5,25 cent, tức giảm 2,92 %, xuống còn 179,6 cent/lb.

- Theo các nhà quan sát, dường như đã có một làn sóng chốt lời của nhà đầu tư diễn ra trên sàn Ice sau khi giá cà phê Arabica chạm vào mức 183,7 cent/lb, là mức cao nhất kể từ ngày 24/7, theo dữ liệu của Reuters.

- Theo Hiệp hội chè-cà phê Nga, nhu cầu cà phê toàn cầu gia tăng 2 - 3% mỗi năm, chủ yếu tăng do khu vực Đông Nam Á, và có thể đạt tới 172,2 triệu bao vào năm 2021. Năm nay sản lượng thế giới dự kiến đạt 131,6 triệu bao (bao = 60kg) trong khi nhu cầu ước tính lên đến 137,1 triệu bao.

- Xuất khẩu cà phê của Việt Nam sẽ giảm mạnh vì nguồn cung đã cạn kiệt khi bước vào vụ thu hoạch mới dự kiến trong tháng tới. Tuy nhiên hiện không có áp lực nào về giá, do giá cả đã tăng cao từ năm ngoái đến nay, nên nông dân sẽ không bán sớm ngay sau thu hoạch như mọi năm, theo nhận xét của các thương nhân.  

3. Thị trường trong nước
 Giá cà phê nhân xô tại Tây nguyên đứng quanh mức 42.500 đồng/kg, không đổi so với cuối tuần qua.

Bản tin giá cả thị trường tháng 9

Bản tin giá cả thị trường tháng 9

Bản tin giá cả thị trường tháng 9 by Sở NNBT | Ban tin gia ca thi truong thang 9

- Sau 3 tuần triển khai thu mua tạm trữ 500.000 tấn gạo, giá lúa hè thu ở ĐBSCL vẫn chưa được cải thiện, giá lúa vẫn ở mức thấp, nông dân khó đạt lợi nhuận ở mức tối thiểu 30%. Tuần trước, thương lái mua lúa tại ruộng với giá 4.200 đồng/kg, hiện nay do trời mưa nên giá thu mua chỉ còn 3.700 đồng/kg. Giá thành sản xuất lúa hè thu ở ĐBSCL bình quân là 3.993 đ/kg, nếu tính thêm lợi nhuận tối thiểu 30%, nông dân phải bán lúa với giá 5.190 đồng/kg. Trong tuần, giá lúa khô tại kho khu vực ĐBSCL loại thường dao động từ 5.100 - 5.200 đồng/kg, lúa dài 5.300 đồng - 5.400 đồng/kg, nhưng rất ít doanh nghiệp mua lúa trực tiếp từ nông dân, mà chủ yếu mua gạo nguyên liệu thông qua thương lái.

 
- Sau khi tăng lên mức giá 30.000 - 32.000 đồng/chục, tuần qua, giá dừa khô tại các tỉnh ĐBSCL quay đầu giảm. Tại Bến tre, các chủ vựa thu mua còn 27.000 - 28.000 đồng/chục, giảm 4.000 - 5.000 đồng/chục (tùy vùng); nếu thương lái mua trực tiếp tại vườn giá 20.000 - 26.000 đồng/chục, giảm 2.000 - 4.000 đồng/chục (tùy vùng). Dừa xiêm cũng giảm 3.000 - 5.000 đồng/chục ở mức 32.000 - 35.000 đồng/chục; dừa dứa đứng giá mức tuần trước 7.000 đồng/trái. Tại cơ sở Hương Miền Tây huyện Mỏ cày Bắc, giá dừa xiêm xanh đúng chuẩn xuất khẩu, trọng lượng 1,3kg trở lên được thu mua 60.000 đồng/chục. Với mặt hàng cơm dừa, hiện các doanh nghiệp chế biến cơm dừa sấy tại Bến Tre thu mua chỉ còn 4.000 – 4.300 đồng/kg.Trong tuần, các địa phương trên địa bàn tỉnh đã triển khai thực hiện gói hỗ trợ người trồng dừa trị giá 80 tỷ đồng, trích từ ngân sách tỉnh. Theo chủ trương trên, mỗi ha dừa sẽ được hỗ trợ 100kg phân hóa học, trị giá 1,5 triệu đồng, để nông dân chăm sóc dừa, nâng cao năng suất, tăng thu nhập và giữ vững diện tích dừa hiện có. Thông qua nguồn vốn sự nghiệp khoa học khoảng 3,5 tỷ đồng tỉnh sẽ hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm; hỗ trợ nông dân trồng xen, nuôi xen tôm càng xanh trong vườn dừa; hỗ trợ một phần kinh phí để doanh nghiệp tham gia xúc tiến thương mại tại thị trường nước ngoài; khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nghiệp mở các điểm thu mua dừa nguyên liệu trực tiếp trong dân nhằm giảm chi phí trung gian.

- Bưởi Da xanh đang vào chính vụ, giá đã giảm 2.000 - 5.000 đồng/kg so với tuần trước , bưởi Da xanh loại 1 ở mức 28.000 - 30.000 đồng/kg, bưởi Da Xanh loại 2 ở mức 22.000 - 26.000 đồng/kg ( tùy vùng). Giá bưởi Năm Roi ở ĐBSCL lại tăng ở mức giá cao nhất so với nhiều năm trở lại đây. Tại vùng bưởi Năm Roi xã Mỹ Hòa (huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long), Phú Hữu (huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang) bưởi loại 1 (từ 1,2kg trở lên) được thương lái thu mua với giá từ 17.000 - 18.000 đồng/kg; bưởi từ 0,9kg trở lên cũng có giá từ 12.000 - 13.000 đồng/kg.

- Trong tuần, giá cá điêu hồng vẫn ở mức thấp do còn ảnh hưởng tin đồn không có cơ sở là ăn cá bị bệnh, khiến nông dân nuôi cá điêu hồng tại các tỉnh ĐBSCL thiệt hại nặng nề, bán dưới giá thành từ 25.000 – 26.000 đồng/kg, trong khi đó, giá thành nuôi cá đã ở mức 28.000 đồng/kg; hàng ngàn lồng cá tới thời điểm thu hoạch phải neo lại vì không có người mua. Cũng như hiện nay, thời điểm tháng 4, tháng 5 vừa qua, giá cá điêu hồng thương phẩm xuống tới mức thấp nhất trong những năm gần đây, chỉ còn 20.000 đồng/kg cũng do tin đồn cá nhiễm chất cấm Trilfuralin;cuối tháng 5, sau khi các cơ quan chức năng bác tin đồn, giá cá điêu hồng đã tăng lên. Đây có thể chỉ là chiêu ép giá không lành mạnh của một bộ phận thương lái làm ăn không chân chính,với tin đồn không căn cứ. Các ngành chức năng ở các địa phương cần điều tra phối hợp tìm ra đầu mối phát tin đồn thất thiệt, có biện pháp xử lý, tránh để nông dân rơi vào tình trạng như hồi tháng 4. Trong tuần giá cá tra tại các tỉnh ĐBSCL tiếp tục tăng thêm 1.000 - 1.500 đồng/kg so với tuần trước do nhu cầu nhập khẩu của các nước tăng trở lại sau kỳ nghỉ hè; gói hỗ trợ 9.000 tỉ đồng với lãi suất ưu đãi là liều thuốc kích thích các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản đẩy mạnh thu mua, giúp kéo giá cá ở thị trường nội địa tăng lên, cá đạt tiêu chuẩn xuất khẩu (0,8 – 0,9 kg/con, thịt trắng) lên mức 22.500 đồng/kg, cá quá lứa, chất lượng thịt xấu từ 20.000 – 21.000 đồng/kg. Trong tuần giá heo hơi tăng 1.000 – 1.500 đồng/kg ở mức 38.000 - 38.500 đồng/kg,giá heo giống cũng tăng 2.000 đồng/kg ở mức 40.000 - 42.000 đồng/kg.

- Trong tuần, ở thị trường Bến Tre giá phân giảm từ 500 - 1.000 đồng/kg; phân DAP giá 735.000 - 750.000 đồng/bao (50 kg), bán lẻ 16.000 đồng/kg; phân NPK 723.000 - 725.000 đồng/bao, bán lẻ 15.000 đồng/kg;phân Kali 620.000 - 625.000 đồng/bao,bán lẻ 13.000 đồng/kg; phân Urea (Phú Mỹ) 525.000 đồng/bao, bán lẻ 11.500 đồng/kg.

- Giá nông – Thủy sản – Vật tư Nông nghiệp:

 

Thứ Ba, 18 tháng 9, 2012

Thông tin về sản phẩm sinh học Tricô-ĐHCT

Thông tin về sản phẩm sinh học Tricô-ĐHCT


Thông tin về sản phẩm sinh học Tricô-ĐHCT by ST | Thong tin ve san pham sinh hoc trico-dhct

1. Tổng quan
- Nấm Trichoderma là nhóm VSV đất gồm nhiều loài có ích đã được nghiên cứu và sử dụng rộng rải trong trồng trọt ở nhiều quốc gia.


- Là loài nấm phân bố rộng rải trên nhiều vùng địa lý, sinh thái khác nhau, có nhiều tác động trên hệ sinh vật, thảm thực vật đất và đất trồng do đặc điểm là loài nấm đối kháng với các loài sinh vật gây hại quan trọng như Fusarium, Rhizoctonia, Phytophthora, Pythium…, những loài vi khuẩn và tuyến trùng cho cây trồng trong đất bằng cách ký sinh hoặc tiết các kháng sinh, enzyme để ức chế hoặc phân hủy VSV đối kháng. Ngoài ra Trichoderma còn có khả năng tiết các enzyme để phân hủy hữu cơ (cơ chế hoại sinh), qua đó nấm có thể giúp phân hủy nhanh chất hữu cơ trong đất để tạo thành dinh dưởng cho cây trồng, người ta còn ứng dụng nấm Trichoderma để phân hủy hữu cơ để ủ phân cho mau hoai mục.


- Tricô-ĐHCT là kết quả nghiên cứu của Bộ môn BVTV, Đại học Cần thơ, được phân phối bởi AGPPS, là sản phẩm phối hợp nhiều chủng nấm Trichoderma spp. Có mật độ 108 bào tử/g sản phẩm. Dùng để phòng trừ các bệnh hại trong đất như bệnh vàng lá thối rể trên cây ăn trái, cây công nghiêp, chết cây con trên màu do nấm Fusarium gây ra và bệnh do tuyến trùng.

2. Quy trình ủ phân
a) Chuẩn bị nguyên vật liệu
- Thực vật đã phơi héo: rơm, cỏ, lục bình, lá cây... (xác bã thực vật).

- Phân chuồng hoai: bò, heo, gà, vịt…

- Bạt nhựa (không dùng nylon trong).

- Phân urê: 50 g/m3.

- Tricô-ĐHCT: 20 - 30 g/ m3.

b) Cách thực hiện
- Xác bã thực vật được làm ẩm trước một ngày.

- Xếp xác bã thực vật thành lớp khoảng 20 cm, phân chuồng khoảng 5 - 10 cm, sau đó tưới Tricô-ĐHCT cộng với urê lên. Tiếp tục xếp lớp (khoảng 5 lớp) đến khi đống ủ đạt chiều cao 1,2 - 1,5 m.

3. Một số lưu ý
Sau mỗi lớp dùng chân đạp để đống ủ được nén dẽ. Tưới nước vừa đủ ẩm (nắm chặt tay vừa rịn nước).
- Dùng bạt nhựa phủ và chèn kỹ đống ủ để giữ ẩm. Trong mùa mưa nên đánh rãnh xung quanh đống ủ để thoát nước.

- Kiểm tra nhiệt độ và độ ẩm hàng tuần. Nếu nhiệt độ trên 50 độ C và ẩm độ 40 - 60% (vừa ướt mép tay thì được) thì cần bổ sung thêm nước và urê.

- Sau 3 tuần, giở bạt ra kiểm tra đảo đống ủ.

- Thời gian ủ hoai trung bình: 1,5 - 2 tháng (rơm và lục bình chỉ cần 1 tháng).

- Mỗi mét khối đống phân đã ủ hoai mục dùng bón cho 300 - 500 m2 lúa, rau, màu hoặc 10 - 20 cây ăn trái trưởng thành.

Thứ Hai, 17 tháng 9, 2012

Bản tin thị trường Cà Phê tuần 37 (10/9 – 15/9/2012)

Bản tin thị trường Cà Phê tuần 37 (10/9 – 15/9/2012)


Bản tin thị trường cà phê tuần 37 (10/9 – 15/9/2012) by DĐCP | Ban tin thi truong ca phe tuan 37 (10/9 – 15/9/2012)

Giá cà phê tại Tây nguyên tuần qua tăng 500 đồng, lên lại mức 42.500 đồng/kg, nhưng thị trường ngoài vẫn thu hút với giá xấp xỉ 43.000 đồng/kg nhân xô.

Biểu đồ giá cà phê Robusta kỳ hạn tháng 11/2012 tuần 37 (10 – 15/2012)

- Thị trường cà phê thế giới vừa trải qua một tuần lễ khá hiếm hoi khi giá cà phê trên 2 sàn tăng trưởng suốt từ đầu tuần cho đến cuối tuần.

- Tại sàn Liffe NYSE London, tổng cộng với 5 phiên tăng, giá cà phê Robusta kỳ hạn giao tháng 11 tăng tất cả 34 USD, tương đương tăng 1,66%, lên mức 2.083 USD/tấn và kỳ hạn giao tháng 1/2013 tăng tất cả 36 USD, tương đương tăng 1,75%, lên mức 2.097 USD/tấn.

- Tương tự, tại sàn Ice New York, giá cà phê Arabica kỳ hạn giao tháng 12 tăng tất cả 18,05 cent, tương đương tăng 11,07%, lên mức 181,1 cent/lb và kỳ hạn giao tháng 3/2013 tăng tất cả 18,3 cent, tương đương tăng 10,99%, lên mức 184,85 cent/lb, mức tăng rất mạnh.

- Nguyên nhân tăng là niềm tin vào các nhà lãnh đạo châu Âu và ECB chắc chắn sẽ tìm ra lối thoát cho các nước đang lâm vào khủng hoảng nợ công cũng như các nền kinh tế lớn trên thế giới sẽ có những giải pháp tích cực để thoát khỏi sự trì trệ như hiện nay. Tâm điểm của sự chú ý là gói QE3 của Cục dự trữ liên bang Mỹ FED cuối cùng cũng được tung ra sau khi Trung quốc và EU công bố các biện pháp kích thích. Kinh tế thế giới biến động mạnh sau những hành động này.

- Mức tăng của giá cà phê Roubsta không như kỳ vọng cho dù giá cả các loại hàng hóa nông sản đều tăng mạnh khi động thái của Fed đã thu hút nhà đầu tư trở lại thị trường. Trái lại, khối lượng giao dịch những phiên gần đây rất mỏng cho thấy, nhà đầu tư còn chần chừ vì hàng của Indonesia sẵn sàng để xuống tàu và nhất là Việt Nam, cường quốc sản xuất và xuất khẩu Robusta số 1 thế giới, đang đối diện vụ thu hoạch mới. Sức mua giảm sút còn do các nhà quản lý sàn áp dụng biện pháp ngăn chặn đầu cơ thao túng giá trên sàn.

- Trong khi đó, giá cà phê Arabica tăng lên mức cao nhất trong bảy tuần, bởi lượng hàng xuống tàu sụt giảm trong tháng Tám và nông dân các nước sản xuất loại cà phê có chất lượng cao này còn kỳ vọng giá tăng thêm nữa. Chỉ tính từ đầu năm đến nay, giá cà phê Arabica đã mất xấp xỉ 25%.

- Tại Việt Nam, cà phê Robusta tươi, chín sớm, được giao dịch quanh mức 7.500 đồng/kg. Những nhà thu mua chế biến cà phê tươi cho rằng, số cà phê chín sớm này thường có nhân khá nhỏ, thấp thành vì những vùng chín sớm là những vùng bị hạn hán, thiếu nước cục bộ trong mùa mưa.

- Giá cà phê Robusta xuất khẩu loại 2, 5% đen vỡ, có mức trừ lùi 30 USD theo giá giao tháng 11 tại London.

Thứ Năm, 13 tháng 9, 2012

Kỹ thuật kích thích Dứa Cayen ra hoa trái vụ

Kỹ thuật kích thích Dứa Cayen ra hoa trái vụ


Kỹ thuật kích thích dứa cayen ra hoa trái vụ by ST Báo | Ky thuat kich thich dua ra hoa trai vu

Theo các kết quả thí nghiệm của Viện Nghiên cứu Rau quả được tiến hành trong 3 năm 2002 - 2004 tại Tam Điệp (Ninh Bình), Nghĩa Đàn (Nghệ An) và các thử nghiệm của Tổng công ty Rau quả, nông sản được thực hiện tại Hòn Đất (Kiên Giang) và Sơn Động (Bắc Giang) trên các giống dứa Cayen Trung Quốc và Thái Lan trong 2 năm 2004 - 2005 thì bà con nông dân và các đơn vị trồng dứa cần chú ý một số điểm sau đây khi sử dụng các loại hoá chất để xử lý dứa Cayen ra hoa trái vụ.


1. Tuổi cây
Chỉ nên xử lý ra hoa đối với những lô dứa có tuổi từ 13 - 14 tháng sau khi trồng, tương ứng với chiều cao từ 80 - 90cm và có 38 - 40 lá hoạt động.

2. Thời gian xử lý
Đối với đất đèn (khí đá) thì nên xử lý vào ban đêm từ sau 19 – 23 giờ thì tỷ lệ cây ra hoa cao hơn nhiều so với xử lý ban ngày, vì ban đêm các khí khổng trên lá mới mở hoàn toàn nên việc hấp thụ axetylen tốt hơn. Đối với ethrel hoặc ethephon có thể xử lý cả ban đêm và ban ngày (vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát). Cả 2 loại hoá chất đất đèn và ethrel đều phải xử lý lại lần 2 sau lần 1 từ 2 - 3 ngày mới cho hiệu quả cao.

3. Thời vụ xử lý
Các thí nghiệm cho thấy có thể xử lý dứa ra hoa trái vụ từ tháng 4 đến đến tháng 11, tuy nhiên với các tỉnh phía Bắc thì tỷ lệ ra hoa cao nhất ở các tháng 4 đến 5 và tháng 10 (từ 87 - 96%); các tháng 7 đến tháng 8 do bị mưa nhiều, cây sinh trưởng mạnh nên tỷ lệ ra hoa thường đạt thấp (72 - 73%). Những tháng này cần tăng nồng độ cao hơn từ 1,5 đến 2 lần so với các tháng 4,5. Với các tỉnh phía Nam, các tháng 9, 10 là các tháng mưa nhiều, cây sinh trưởng mạnh, khó xử lý, bà con cần lưu ý tăng nồng độ như đã nói ở trên. Kết qủa xử lý trên các mô hình dứa Cayen trồng ở Sơn Động (Bắc Giang) và Hòn Đất (Kiên Giang) tháng 11 năm 2004 cho kết quả rất cao: Tỷ lệ cây ra hoa từ 85 đến 96%, hiện nay sắp cho thu hoạch. Một trong những chỉ tiêu đánh giá quan trọng là thời gian từ khi xử lý đến thu hoạch quả giúp người trồng dứa dự kiến được thời gian cho thu hoạch sản phẩm cung cấp theo yêu cầu chế biến của nhà máy để xác định thời gian xử lý thích hợp. Thời gian từ ra hoa đến thu hoạch quả dài nhất là ở thời vụ xử lý tháng 10, với 171,8 ngày, tiếp theo là các thời vụ xử lý tháng 9, 8 và tháng 7, với thời gian tương ứng là 165,3 ngày, 142,8 ngày và 135,5 ngày. Xử lý ra hoa vào các thời vụ tháng 4, 5 và tháng 6 cho thời gian từ khi xử lý đến thu hoạch quả đạt ngắn nhất (121,8 - 124,3 ngày).

4. Hoá chất xử lý
Với đất đèn khô nên xử lý với khối lượng 1 - 1,5g/cây (loại tốt); với đất đèn đã pha thành dung dịch nồng độ 1 - 1,5% rót vào nõn cây 50ml/nõn. Để có hiệu quả cao khi sử dụng, nên pha dung dịch đất đèn như sau: Dùng can nhựa có dung tích 20 lít chứa 10 lít nước sạch rồi đổ vào 100 - 150g đất đèn loại tốt, đậy gần kín, lắc nhẹ trong vòng 5 - 10 phút cho đất đèn tan hết, đổ vào bình bơm có phễu lọc, tháo vòi đồng ở đầu phun rồi xịt vào nõn dứa. Chú ý: Không đổ đầy nước trong can, để hở nắp tránh can bị phồng, nổ gây nguy hiểm do áp suất của axetylen sinh ra khi pha chế. Với ethrel: Có thể sử dụng loại ethrel 40% (40g/lít) của Trung Quốc hiện đang bán nhiều ở các địa phương để phun hoặc rót vào nõn dứa. Có thể pha thêm 2% đạm urê (20kg/ha) vào dung dịch ethrel thì tỷ lệ ra hoa càng cao. Kinh nghiệm cho thấy rằng nếu mua đúng loại thuốc ethrel đảm bảo chất lượng, làm đúng qui trình thì xử lý bằng ethrel rẻ hơn nhiều so với xử lý bằng đất đèn mà lại dễ làm hơn.

* Lưu ý: Trước khi xử lý 2 tháng ngừng bón phân, đặc biệt là bón đạm.

Bài đăng phổ biến