Hiển thị các bài đăng có nhãn Cá Chọi - Betta. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cá Chọi - Betta. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 20 tháng 10, 2012

Tìm hiểu về cá Betta Plakat Thái

Tìm hiểu về cá Betta Plakat Thái


Tìm hiểu về cá betta plakat Thái by ST | Tim hieu ve ca betta plakat Thai

Có ba giai đoạn về sự phát triển của Plakat Thái. Giai đoạn đầu tiên liên quan đến cá đá hoang dã. Giai đoạn thứ hai liên quan đến việc lai tạo cá đá hoang dã và cả cá lai. Giai đoạn cuối cùng là tích lũy kiến thức về việc làm thế nào để lai tạo thành công cá Betta thuần dưỡng hay Plakat Thái hiện đại.


1. Tìm hiểu về cá đá
Trong khi khảo sát về những đặc trưng của trò đá cá ở Thái Lan, chúng tôi phát hiện ra rằng trò giải trí này được phát sinh và lan rộng ở mọi vùng đất nước. Chúng tôi có thể lần ngược về quá khứ thông qua những lời truyền khẩu mà một nhà lai tạo thừa hưởng từ tổ tiên của mình cách nay khoảng 200 năm, vào thời mà thủ đô Bangkok mới bắt đầu được thành lập. Điều này có nghĩa người Thái đã chơi cá đá từ trước đó. Chúng ta cũng phải cân nhắc đến môi trường xã hội và chính trị vào thời buổi chiến tranh loạn lạc ấy. Người ta bắt cá Betta ngoài đồng lúa để đá với những con tương tự khác mà không hề có khái niệm về sự khác biệt giữa các loài, hay làm thế nào để lai tạo ra cá đá (như chúng ta biết ngày nay, loài cá đá địa phương ở miền Nam là Betta imbellis, ở miền Trung là Betta splendens, còn ở miền Tây Bắc là Betta smaragdina). Có hai bước để học cách đá cá:

- Bước thứ nhất: Làm sao phân biệt được cá Betta với các loài cá khác. Người nông dân để ý cách chúng giương vây và đá nhau khi họ làm việc ngoài đồng. Cá Betta tạo những ổ bọt ngay trên các luống của ruộng lúa. Trẻ em thường bắt chúng ở đó và đem về nuôi trong lọ thủy tinh. Nông dân thường đem cá ra đá vào buổi chiều, lúc rảnh rỗi rồi sau đó lại thả cá về đồng. Một số trẻ em nuôi cá chỉ để làm cảnh. Ban đầu, trò đá cá chỉ diễn ra giữa bạn bè trong làng. Rồi thông qua các cuộc thách đấu và đá độ mà trò này nhanh chóng được chấp nhận và yêu thích một cách rộng rãi, từ làng này sang làng khác.

- Bước thứ hai: việc thách đấu giữa các làng và các vùng. Trò đá cá trở nên phổ biến hơn khi mà việc thắng hay thua trận trở thành cả một sự kiện. Dần dần phong trào đá cá sản sinh ra những chuyên gia lai tạo và những con cá vô địch. Cũng từ đây mà hình thành ý tưởng làm thế nào để tạo ra con cá đá có thể chiến thắng cá đối thủ. Tuy nhiên, đa số mọi người không quá quan tâm đến vấn đề lai tạo cá đá. Họ chỉ cần biết nơi đâu có bán cá đá chất lượng là đủ. Họ cũng có thể thả con cá thắng trận ở một nơi nhất định rồi sau đó quay lại thu hoạch cá con đem đi đá.

2. Quá trình lai tạo cá đá hoang dã và cá lai
a) Tuyển chọn cá đá hoang dã
Sự xuất hiện những con cá đá tốt nhất là cơ sở để những người nông dân tuyển chọn ra những dòng cá đá. Người ta lấy tên vùng để đặt tên cho những con cá được tuyển chọn tốt nhất. Nhiều người cũng sục sạo vùng đó để kiếm cá hay đôi khi đề nghị người chủ đất bán cá cho họ. Động cơ thắng trận được xem như là yếu tố chủ yếu thúc đẩy sự phát triển của trò đá cá. Trong giai đoạn này, người ta thả con cá thắng trận cùng với một số cá cái ở một nơi nhất định rồi quay lại vào năm sau để thu hoạch lứa cá con. Nguyên tắc tuyển chọn cá đá hoang dã này vẫn còn được áp dụng cho đến tận ngày nay.


b) Thuần dưỡng cá đá hoang dã
- Bối cảnh của trò đá cá hoang dã như mô tả ở trên diễn ra khi người ta còn coi đó như là một trò chơi, thậm chí còn chưa được coi là một sở thích. Tuy nhiên, ngay trò chơi cũng có con đường phát triển của riêng nó. Khi người ta tham gia cuộc chơi một cách nghiêm túc, cố trở thành người thắng cuộc và kiếm tìm sự nổi tiếng cùng với giải thưởng và tiền bạc; tất cả trở thành động lực cho việc tạo nên những con cá đá ngày càng tốt hơn. Việc lai tạo cá đá bắt ngoài tự nhiên sẽ cho kết quả không đảm bảo, ngay cả cá đá lấy từ những vùng đặc biệt cũng không đủ mức độ tin cậy. Trò đá cá trở nên khắc nghiệt và quan trọng hơn khi người ta cá cược nhiều tiền hơn. Một khi người tham gia muốn thắng trận thì họ phải kiểm soát tốt chất lượng cá đá của mình; tức là họ phải kiểm soát cá giống bố mẹ và môi trường lai tạo. Vì vậy nhà lai tạo bắt đầu lai tạo cá của mình trong các hố đào dưới đất, từ đó dần dần hình thành nên dòng cá thuần dưỡng. Ý tưởng cơ bản này được xem như là bước đầu tiên trong việc hình thành cá đá Xiêm hiện đại hay Plakat Thái, tức từ thiên nhiên thâm nhập vào xã hội loài người. Mục đích đàng sau việc lai tạo cá thuần dưỡng là tạo ra cá đá có chất lượng và đủ nhiều để bán và chia xẻ với bạn bè. Bởi vì hoạt động đá cá diễn ra quanh năm, tôi nghĩ điều này thuận lợi cho việc kinh doanh và lai tạo hàng loạt khi nhu cầu thị trường tăng lên. Ở giai đoạn này, một số người lai tạo cá thuần dưỡng sao cho bề ngoài giống như cá đá hoang dã, để rồi lại đem đi đá với cá hoang dã. Việc kiểm soát môi trường và hoạt động lai tạo phải được thực hiện một cách bí mật và phải tương tự với môi trường sinh sống tự nhiên của cá hoang dã. Mục đích của điều này là để đánh lừa và đả bại cá của đối phương. Nó dẫn đến sự cạnh tranh theo hai hướng; một là trò đá cá thực sự diễn ra giữa cá đá với nhau và một là sự cạnh tranh giữa những người chơi cá. Tôi thích loại thứ hai hơn; tức là quá trình mà nhà lai tạo tìm tòi phương thức lai tạo ra những con cá có thể đá bại cá của nhà lai tạo khác. Bấy giờ là lúc cá đá Xiêm bắt đầu phát triển thực sự.


- Ban đầu, nhà lai tạo chỉ muốn lai tạo cá đá trông giống như cá hoang dã nhưng lại khỏe mạnh và lì đòn để đá thắng cá của đối phương. Vào thời đó tôi không nghĩ có người có thể tưởng tượng ra loại cá đá đuôi ngắn (tức loại cá đá tuyển dữ nhất bây giờ). Loại cá đá tuyển chỉ xuất hiện sau rất nhiều thế hệ tuyển chọn cá đá hoang dã cho đến khi nó không còn giữ được màu sắc và hình dạng nguyên thủy nữa. Các thế hệ cá đá được thuần dưỡng lâu đời có kích thước lớn hơn, màu sậm hơn, dế nuôi và dạn dĩ với sự hiện diện của con người hơn. Dưới bàn tay con người, diện mạo cá đá liên tục bị biến đổi triệt để cho đến khi chúng không còn mang hình dạng nguyên thủy nữa. Cá hoang dã không còn có khả năng đá thắng cá thuần dưỡng về mọi phương diện. Điều đó có nghĩa, cá đá hoàn toàn chia làm hai nhóm. Nhóm cá hoang dã (Plakat Pah) và cá lai (Pla Sung) và nhóm cá thuần dưỡng (Plakat Morh). Những nhóm cá này vẫn còn được duy trì ở nhiều trường đá cá ngoại ô Bangkok ngày nay. Sự thay đổi triệt để về hình dạng không chỉ ảnh hưởng đến lối đá của cá mà còn tác động mạnh mẽ đến thế giới cá đá Xiêm dưới phương diện cá cảnh.

c) Lai tạp
- Cá đá lai là kết quả của việc lai tạp giữa cá đá hoang dã với cá đá thuần dưỡng rặt. Tôi sử dụng cụm từ “cá đá thuần dưỡng rặt” đối với những con cá mà cha mẹ của chúng cũng là cá đá thuần dưỡng. Việc tìm ra cặp cá giống tốt là điều vô cùng khó khăn đối với nhà lai tạo, đặc biệt là khi họ muốn cá của mình đá bại cá của đối phương. Việc gia nhập cũng như trao đổi những con cá tốt nhất đến từ miền Nam, miền Đông Bắc và miền Trung của Thái Lan thường được thực hiện cùng với sự thiếu hiểu biết về sự khác biệt giữa các loài cá đá thuần chủng. Hoạt động lai tạo diễn ra mạnh mẽ nhất ở Bangkok và các vùng ngoại ô bởi vì hoạt động đá cá ở đây mang nhiều tính thách thức hơn, tiền đặt cược nhiều hơn và cộng đồng chơi cá cũng đa dạng hơn.

- Cá lai cũng có chiến lược lai tạo định sẵn; nhà lai tạo muốn tạo ra con cá trông giống như cá đá hoang dã nhưng lại thừa hưởng mọi ưu điểm của cá đá thuần dưỡng. Tuy nhiên, chúng cũng chỉ để đá trong thời gian ngắn, khoảng 30 phút mà thôi. Cá đá hoang dã đá nhanh hơn thế nhiều hay đôi khi còn không chịu đá. Cá đá lai phát triển thành một bước độc đáo riêng trong quá trình lai tạo cá đá.

- Cá đá lai có thể được tìm thấy trên mọi miền đất nước, ở những nơi có hoạt động đá cá. Nhà lai tạo sử dụng cá đá địa phương để lai với con cá đá cực giỏi. Chẳng hạn, người vùng Đông Bắc Thái Lan có thể đem con cá Betta splendens tốt nhất để lai với con cá đá địa phương Betta smaragdina tốt nhất của họ. Người miền Nam lai cá Betta imbellis với cá Betta splendens. Chỉ có thể khẳng định rằng, con cá đá đầu tiên được lai tuyển chọn là loài Betta splendens ở miền Trung Thái Lan; đâu đó giữa cố đô Ayuthaya, vùng Padrew nay là tỉnh Cha Chueng Sao và vùng Mahachai nay là tỉnh Sa Mut Sa Khon.


- Có hai loại cá lai là cá lai hoang dã và cá lai thuần dưỡng. Theo tôi thấy cá lai hoang dã được những người đá cá dễ chấp nhận hơn bởi vì nhà lai tạo chỉ thả chúng vào môi trường tự nhiên và để thiên nhiên đào luyện chúng trở thành cá đá tốt. Nhà lai tạo thả cá giống hay thậm chí cá con vào một khu vực riêng biệt và để chúng tự sinh sản một cách tự nhiên.

3. Lai tạo cá đá thuần dưỡng rặt
“Cá đá thuần dưỡng rặt” có nghĩa là bầy cá được sinh ra từ cặp cá giống thuần dưỡng. Cá được phát triển lối đá một cách có chủ ý theo phương pháp của người huấn luyện. Cá đá thuần dưỡng rặt ngày nay được biết như là loại cá đá đuôi ngắn đang lưu hành trên thị trường. Cá đá thuần dưỡng rặt có nguồn gốc từ các loài Betta hoang dã. Ngoài trường đá cá, người ta không coi cá đá thuần dưỡng là cá đá hoang dã thực thụ bởi vì những khác biệt về kích thước, hình dáng, màu sắc và kỹ năng chiến đấu. Tôi cho rằng đến lúc này thì sự tồn tại của cá đá thuần dưỡng không còn giữ bí mật được nữa. Bấy giờ, trường đá cá hình thành hai thể loại. Loại đầu là đá cá hoang dã (gồm cả cá lai). Trong thể loại này, người ta cố gắng lai tạo cá đá trông giống như cá hoang dã nhưng đá nhanh và lì đòn hơn. Loại thứ hai là đá cá thuần dưỡng rặt theo đó người ta cố gắng phát triển kỹ năng đá và cấu trúc cơ thể theo chủ ý của nhà lai tạo. Do vậy mà ngày nay mới có nhiều dạng cấu trúc cơ thể ngoài trường đá cá. Tôi chia Plakat Thái thành 3 dạng cấu trúc cơ bản là dạng bản lóc, dạng bản rô và dạng bản thát lát. Theo tôi thì sự hình thành dạng cá đá đuôi dài là giai đoạn thứ tư trong quá trình phát triển của Plakat Thái. Vẻ đẹp của cá đá đuôi dài được chào đón trong lãnh vực cá cảnh. Ý tưởng lai tạo các dòng cá theo hướng này hay hướng kia chỉ tập trung vào mục đích tạo ra cá đẹp mà thôi. Kể từ đó, Plakat Thái đuôi dài phô trương sắc đẹp của chúng trên các thị trường cá cảnh khắp thế giới.

Thứ Năm, 24 tháng 5, 2012

Một số bệnh thường gặp ở cá Betta

Một số bệnh thường gặp ở cá Betta


Một số bệnh thường gặp ở cá betta by ST | Mot so benh thuong gap o ca betta

Cần phải chẩn đoán bệnh một cách thật chính xác trước khi tiến hành chữa trị. Chúng ta có thể làm tình trạng của cá còn tệ hơn nữa nếu chữa không đúng bệnh. Thuốc là chất hoá học và dù cho nó có chữa bệnh đi nữa thì cũng ít nhiều làm cho cá bị căng thẳng (không kể những căng thẳng gây ra bởi bệnh tật) vì vậy chỉ nên dùng thuốc khi thật sự cần thiết. Bạn đặt cá ở nơi thật sáng và quan sát những biểu hiện bệnh lý chẳng hạn như những đốm trắng bằng hạt cát hay những mảng bùi nhùi màu trắng. Đấy là những triệu chứng rất cụ thể mà từ đó bạn có thể áp dụng cách chữa trị thích hợp.

I. Thông tin chung
- Bước đầu tiên trong việc chẩn đoán bệnh đó là theo dõi cách thức chăm sóc và cho cá ăn. Những điều này thường gây cho cá các vấn đề về sức khoẻ:
+ Giữ nước sạch, thay nước thường xuyên.
+ Luôn khử clor trong nước máy hay để cho hả trước khi sử dụng.
+ Lọ nuôi cá càng lớn càng tốt.
+ Giữ nhiệt độ nước trên 21 độ C.
+ Nước dùng để thay nên có cùng nhiệt độ với nước cũ (để tránh làm cá bị sốc).
+ Bạn cho cá ăn mấy lần một ngày, mỗi lần cho ăn bao nhiêu và cho ăn loại thức ăn gì. Thay đổi nhiều loại thức ăn sẽ làm cá khoẻ mạnh, nếu chỉ cho ăn một loại duy nhất như thức ăn đông lạnh (pellet) thì cá sẽ bị yếu hay mắc bệnh về bong bóng bơi.

- Đấy là những yếu tố tiềm tàng mà chúng có thể tạo ra một con cá khoẻ mạnh và lanh lợi hay một con cá bệnh hoạn và đờ đẫn.

- Sau khi kiểm tra cách thức mà bạn chăm sóc cá, hy vọng rằng sẽ xác định được bệnh tật có thể phát sinh từ đâu và kịp thời điều chỉnh trước khi nó xảy ra. Cá có thể mắc một số bệnh, vì vậy cần hỏi để lần sau không phạm phải nữa.

- Mỗi người đều áp dụng những cách chữa trị khác nhau cho cùng một bệnh. Một số có tác dụng, một số không rõ kết quả còn một số lại hoàn toàn không đúng. Bạn có thể đã từng nhắm mắt sử dụng một số loại thuốc nào đó và cá khỏi bệnh. Nhưng trên thực tế, nếu không kiểm tra và chẩn đoán một cách cẩn trọng trước khi chữa bệnh cho cá, thì có thể chỉ tình cờ gặp may khi sử dụng đúng thứ thuốc cần thiết mà thôi. Trước khi có thể tích luỹ đủ lượng kinh nghiệm cần thiết, đơn giản cần phải phụ thuộc vào kiến thức của những người khác. Đó là lý do tại sao tôi xây dựng mục chữa bệnh cho cá betta ở đây: nó là một dự án nghiên cứu và chia sẻ thông tin nhằm trợ giúp mọi người trong các vấn đề về sức khoẻ của cá betta.

- Trong hầu hết trường hợp tôi khuyên bạn đừng bao giờ cố chữa trị những triệu chứng không rõ nguyên nhân. Tuy nhiên, Bettamax (đừng nhầm nó với Bettafix và Melafix!) thường được sử dụng như là loại thuốc “điều trị tổng quát” cũng mang lại kết quả trong một số trường hợp. Nó chứa nhiều loại dược chất và vitamin. Tôi không khuyên bạn sử dụng loại dược chất kết hợp như thế này nhưng đôi khi nó lại có ích đối với những trường hợp bệnh không rõ nguyên nhân và với trường hợp cần chữa trị sớm vì cá trông bất thường nhưng chưa thể hiện triệu chứng bệnh cụ thể: chẳng hạn như mất màu, chán ăn, lờ đờ. Nói cách khác, hãy nên chữa trị sau khi tìm hiểu và đưa ra quyết định chính xác hơn là cứ nhắm mắt làm đại.

- Nên sử dụng thuốc kháng sinh đúng cách để ngăn cản sự hình thành của dòng vi khuẩn kháng thuốc do sử dụng không đủ liều lượng. Năm ngày là khoảng thời gian điều trị tối thiểu bằng thuốc kháng sinh, kéo dài hơn một tuần thì càng tốt.

- Nếu không xác định được nguyên nhân gây bệnh, hãy cách ly cá trong hồ điều trị riêng (và thay nước mỗi ngày) để có thời gian theo dõi. Việc này không làm cá khoẻ lên nhưng chắc chắn không làm tình trạng của cá tệ đi.

- Sau khi bạn đã xác định được nguyên nhân gây bệnh cần chữa trị cho cá theo đúng phương pháp và tham khảo phần bệnh cá tương ứng để tìm phương pháp chữa trị đúng.

II. Một số bệnh thường gặp trên cá Betta
1. Bệnh nấm thuỷ mi
- Tổng quan: đây là loại bệnh phổ biến và nó làm cá chết rất nhanh vì vậy việc phát hiện và chữa trị sớm là điều rất quan trọng. Mầm bệnh nấm vốn luôn hiện diện trong hồ. Cá thường nhiễm bệnh nấm sau khi bị yếu và mất sức đề kháng vì mắc một số bệnh trước đó hay bị thương.


- Chẩn đoán bệnh: cá thường có những búi màu trắng hay xám như cục bông gòn trên thân, vây hay mang. Bệnh nấm thường bị nhần lẫn với bệnh lở miệng (Columnaris). Lưu ý, khi quan sát thật kỹ chỗ bị bệnh nấm sẽ thấy các sợi nấm mọc ra như tóc trong khi bệnh lở miệng trông giống như cục bông gòn.

- Cách điều trị: cách ly cá bệnh để điều trị, không cần phải chữa trị toàn bộ hồ cá bởi vì mầm bệnh nấm luôn tồn tại trong hồ… và chỉ tấn công một khi cá bị suy yếu vì mắc một bệnh khác trước đó. Bạn có thể điều trị cho cá bằng malachite green, muối, tăng nhiệt độ, methylene blue, formalin hay hydrogen peroxide (dùng bôi trực tiếp lên vết nấm, cần hết sức cẩn thận không để thuốc dính vào mang cá vì nó có thể giết chết cá). Điều quan trọng nhất đó là xác định nguyên nhân làm cá đổ bệnh và giải quyết. Dù vì nguyên nhân nào, cá bị suy giảm hệ miễn dịch tạo cơ hôi để mầm bệnh tấn công. Điều này có thể gây ra bởi nước dơ, nồng độ ammonia tăng hay những nguyên nhân khác chẳng hạn bị cá dữ uy hiếp.

2. Bệnh đốm trắng (trùng quả dưa)
- Tổng quan: bệnh đốm trắng là ký sinh trùng trú ngụ ở bên dưới lớp da của cá. Chúng tạo ra các đốm trắng như hạt muối hay cát phủ đầy cơ thể cá. Cá có thể bơi giật cục và cố quẹt mình vào các vật thể trong hồ. Bệnh này có thể trở nên trầm trọng nhưng may mắn thay nó rất dễ chẩn đoán và chữa trị. Ký sinh trùng phát triển rất nhanh nên việc phát hiện bệnh và điều trị kịp thời là cực kỳ quan trọng. Cần hết sức lưu ý rằng cho dù những đốm trắng có biến mất thì không có nghĩa rằng mầm bệnh đã hoàn toàn bị tiêu diệt. Chúng vẫn tiếp tục sống và tăng trưởng trong nước ngay cả khi rời khỏi mình cá. Đấy là lý do tại sao chúng ta cần tăng nhiệt độ của nước bởi nếu để nước lạnh thì phải mất nhiều tuần để chu trình sinh trưởng của ký sinh trùng được hoàn tất! Bạn nên điều trị liên tục cho cá tối thiểu một tuần để tiêu diệt hết mầm bệnh ký sinh (nếu để nước lạnh thì cần lâu hơn). Ký sinh trên mình cá rất khó tiêu diệt, thuốc chỉ có tác dụng ở giai đoạn ấu trùng trong chu trình sinh trưởng của ký sinh trùng, ngay khi vừa trưởng thành, chúng sẽ lập tức tấn công cá.


- Cách phòng: căng thẳng và giảm sức đề kháng là các nguyên nhân làm mầm bệnh tấn công và nhân rộng trên cá. Tránh làm cá bị căng thẳng bởi các nguyên nhân như nước dơ, nhiệt độ biến đổi đột ngột, ăn quá no… Cách ly cá mới và cây thuỷ sinh để đảm bảo rằng bạn không đem mầm bệnh từ bên ngoài vào hồ. Không nên thay đổi nhiệt độ hồ một cách đột ngột. Luôn bỏ túi đựng cá vào hồ mới khoảng 15 phút để nhiệt độ hai bên cân bằng trước khi thả cá. Nên nhớ rằng, cùng với chất lượng nước, đấy là những nguyên nhân rất phổ biến làm cho cá bị ký sinh trùng tấn công và gây bệnh.

- Cách điều trị: tăng nhiệt độ nước để rút ngắn chu trình sinh trưởng của ký sinh. Tắm nước muối là cách loại bỏ ký sinh hiệu quả. Nước muối làm ký sinh rời khỏi mình cá và rơi xuống hồ điều trị, vì vậy khi thả cá về hồ cũ thì ở đó không còn ký sinh nữa. Những hoá chất có chứa muối đồng như Coppersafe hay Aquarisol cũng điều trị rất hiệu quả. Có nhiều loại thuốc chuyên để chữa bệnh đốm trắng có thể tìm thấy trong các tiệm cá cảnh nhưng bạn nên nhớ rằng thuốc càng mạnh thì cá càng bị căng thẳng. Malachite green được khuyến cáo không nên sử dụng đối với cá da trơn như cá nheo, cá chạch và những cá khác như cá tetra. Điều trị 4 đợt, mỗi đợt kéo dài 3 - 4 ngày, thay khoảng 50% nước trước mỗi đợt điều trị. Tiếp tục điều trị trong hai tuần để đảm bảo rằng tất cả ký sinh đều bị tiêu diệt hết. Nên nhớ rằng, thuốc chỉ có tác dụng lên ấu trùng của ký sinh tức khoảng 3 ngày đầu tiên trong chu trình sinh trưởng của chúng.

* Lưu ý: ở Việt Nam, thuốc trị bệnh đốm trắng thông dụng là methylene blue. Có nhiều nhãn hiệu ở dạng viên và chất lỏng lưu hành trên thị trường. Nên đọc kỹ hướng dẫn tỷ lệ pha thuốc trước khi dùng vì nồng độ mỗi loại có thể khác nhau.

3. Bệnh xù mang
- Triệu chứng:
+ Tạm gọi bệnh này là "xù mang" vì vảy ở vùng mang cá bị bệnh này xù lên. Cá bệnh nặng, vùng vảy xù có dịch trắng như mủ, nếu khều ra sẽ bật máu.
+ Không rõ tác nhân gây bệnh là gì nhưng không phải là nấm.
+ Bệnh này lây rất mạnh và dai dẳng. Mình nuôi cá cả năm không hề thấy bệnh này cho đến khi một con cá mái Thái phát bệnh. Từ đó cá mình thường xuyên bị bệnh này, nhất là những con cá to. Có lẽ phải thay lọ nuôi mới và tẩy rửa toàn bộ lọ cũ để loại trừ mầm bệnh.
+ Bệnh diễn tiến chậm rãi. Cá bị xù mang vẫn ăn uống nhưng ngày càng ít đi, cá lờ đờ, nổi trên mặt nước và sau cùng bị chết.


- Cách phòng bệnh:
+ Cách ly và quan sát kỹ cá mới. Phát hiện và chữa trị cá bệnh càng sớm thì khả năng lành bệnh càng cao và nhanh (trong vòng 1 tuần).
+ Vệ sinh hồ cá bệnh kỹ lưỡng để tránh mầm bệnh lây lan (rửa bằng xà bông tiệt trùng).

- Cách điều trị:
+ Nhỏ thuốc hiệu RID PROTOZOAN (anh N2D mua bên Thái) với liều lượng 2 giọt/2 lít nước (lưu ý: liều lượng này gấp đôi liều lượng chỉ định ghi trên nhãn lọ thuốc là 1 giọt/2 lít).
+ Kết hợp ngâm thuốc với tetra Nhật (loại tetra này tan ngay trong nước, có bán ở các tiệm cá cảnh)
+ Chữa trị liên tục trong 2 - 3 tuần, sau mỗi tuần nên thay nước và giảm liều lượng thuốc còn 1 giọt/ 2 lít.
+ Nếu chỉ ngâm tetra mình thấy không tác dụng, cá sống nhưng tái phát bệnh sau khi ngưng ngâm thuốc. Anh N2D nói dùng tay khều hết vùng vảy xù (có khi bật máu) thì cá sẽ mau lành. Có lẽ các bạn nên làm theo cách này nếu chỉ ngâm tetra mà không có RID PROTOZOAN.
+ Bệnh có thể để lại di chứng trên mang: teo mang (không thể phùng mang). Cá trống lành bệnh vẫn sinh sản bình thường.

4. Bệnh nấm velvet (nấm Oodinium)
- Tổng quan: Oodinium là dạng ký sinh trùng hình que phát triển qua giai đoạn bào tử. Giống như bệnh đốm trắng, chúng trú ngụ bên dưới lớp da của cá. Chúng bắt đầu phát triển từ những đốm nhỏ li ti trên mình cá. Trong điều kiện thích hợp, các bào tử tạo ra một lớp “nhung” (velvet) màu vàng-nâu bao phủ bên ngoài da cá. Bệnh này rất dễ lây. Cá bị nhiễm bệnh thường bơi giật cục, cố cọ quẹt thân mình lên các vật thể trong hồ và thở gấp gáp. Cũng cần lưu ý rằng ngay cả khi cá không còn đốm nào cũng không có nghĩa là bệnh đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Chúng vẫn có thể sống trong nước và dưới đáy hồ. Bạn nên chữa trị liên tục trong một tuần để đảm bảo mầm bệnh bị tiêu diệt hoàn toàn (nếu nước ấm, nếu nước lạnh thì phải lâu hơn). Ký sinh trùng trên mình cá rất khó diệt, chúng chỉ bị tiêu diệt khi rời mình cá và bơi trong nước. Vì vậy, việc tăng nhiệt độ là rất cần thiết. Nếu để nước lạnh thì chu trình sinh trưởng của chúng sẽ diễn ra trong nhiều tuần.


- Cách phòng bệnh: Cách ly cá mới và cây thuỷ sinh để đảm bảo rằng bạn không đem mầm bệnh từ bên ngoài vào hồ. Không nên thay đổi nhiệt độ hồ một cách đột ngột. Luôn bỏ túi đựng cá vào hồ mới khoảng 15 phút để nhiệt độ hai bên cân bằng trước khi thả cá.

- Cách điều trị: tăng nhiệt độ nước để chu trình sinh trưởng của ký sinh diễn ra nhanh hơn (khoảng từ 21 đến 26 độ). Tắm bằng nước muối làm ký sinh rời khỏi mình cá. Những hoá chất có chứa muối đồng như Coppersafe hay Aquarisol cũng điều trị rất hiệu quả. Có nhiều loại thuốc chuyên để chữa bệnh velvet có thể tìm thấy trong các tiệm cá cảnh nhưng bạn nên nhớ rằng thuốc càng mạnh thì cá càng bị căng thẳng. Malachite green được khuyến cáo không nên sử dụng đối với cá da trơn như cá nheo, cá chạch và những cá khác như cá tetra (sản phẩm dùng riêng cho chúng là Clear Ich của hãng Aquatronics).

5. Bệnh sình bụng
- Tổng quan: nếu nói một cách chính xác thì sình bụng là một triệu chứng chứ không phải là một bệnh. Cá bị sình bụng có phần bụng căng phồng. Có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng này. Đôi khi, bệnh này không lây nhiễm nhưng cá bị bệnh nên được cách ly và điều trị thích hợp. Bụng cá căng đầy nước và không có khả năng đào thải. Bụng căng làm vẩy cá rộp lên trông giống như “quả thông”.


- Triệu chứng:
+ Sình bụng cấp tính: tức bụng căng lên bất thình lình. Cá bị nhiễm khuẩn gây xuất huyết nội.
+ Sình bụng mãn tính: tức bụng căng lên từ từ. Ký sinh trùng hay bướu phát triển ở bụng cá có thể gây nên tình trạng này.
+ Sình bụng mãn tính: tức bụng căng lên từ từ. Cá bị bệnh lao cá Mycobacterium tuberculosis. Bệnh này lây rất mạnh.
+ Những nguyên nhân khác gồm nhiễm virus, tổn thương nội tạng, suy thận vì sử dụng quá nhiều thuốc hay thuốc quá mạnh.

- Cách điều trị: bệnh này rất khó chữa trị nhưng nếu nguyên nhân là vi khuẩn và được phát hiện sớm thì có thể chữa khỏi. Vì vậy cần phải tìm hiểu xem có phải bệnh do vi khuẩn gây ra hay không, việc phát hiện nguyên nhân gây bệnh là một phần của điều trị và phòng bệnh. Khi các vẩy xù lên chứng tỏ cá bị bệnh trầm trọng. Ngâm cá trong nước muối có thể giúp tiêu bớt chất lỏng trong mình cá. Có một loạt các loại thuốc dùng để chữa bệnh sình bụng do nhiễm khuẩn nội tạng. Các loại thuốc chữa bệnh ngoài da không có tác dụng trong trường hợp này.

6. Bệnh sưng mắt
- Tổng quan: sưng mắt vốn không phải là một bệnh mà là một triệu chứng gây ra bởi rất nhiều nguyên nhân khác nhau như nhiễm khuẩn (và có thể nhiễm thêm cả nấm), môi trường (chẳng hạn như nước dơ) hay vết thương sưng tấy ở mắt vì bị cá khác cắn. Cá có thể bị sưng tấy một mắt hay cả hai. Con ngươi lòi hẳn ra khỏi hốc mắt và đôi khi bị mờ đục.



- Cách điều trị: nếu chỉ có một mắt bị sưng thì nguyên nhân thường là vì bị thương và mắt phản ứng bằng cách sưng lên và dồn chất lỏng về đó. Cần cách ly cá và thay nước thường xuyên để mắt có thời gian tự phục hồi. Có thể chữa trị bằng muối epsom tức muối MgSO4 ngậm nước (1 muỗn trà/ 20 lít, sau 3 ngày giảm còn nửa muỗng). Nếu cả hai mắt đều bị sưng thì có lẽ cá bị nhiễm khuẩn và nên điều trị bằng Maracyn, Penicillin hay Tetracycline. Có thể sử dụng kháng sinh Neomycin sulphate (250 mg/ 4 lít) với tầm tác dụng rộng trên các vi khuẩn gram+ và gram- . Bạn cũng có thể dùng những loại kháng sinh khác. Nhưng nếu cá bị quá nặng thì rất khó chữa trị. Có thể cho cá ăn thức ăn có trộn thuốc (vì kháng sinh rất khó thẩm thấu vào cơ thể cá). Chỉ nên dùng kháng sinh trong hồ điều trị để tránh ảnh hưởng đến bộ lọc ở hồ chính.

7. Bệnh đốm đỏ (Aeromonas salmonicida)
- Tổng quan: bệnh gây ra bởi vi khuẩn Aeromonas salmonicida với triệu chứng bao gồm các vết thương hở miệng hay mụn nhọt trên mặt da. Khó lây nhiễm, chỉ lây khi tiếp xúc trực tiếp với phần da nhiễm bệnh. Cá nên được cách ly và chữa trị bằng kháng sinh. Vi khuẩn nhiễm vào máu và lan truyền khắp cơ thể, đặc biệt là các nội tạng quan trọng. Bệnh này lan truyền trong máu rất nhanh chóng và làm các mạch máu nhỏ bị vỡ và vi khuẩn lan ra các tế bào xung quanh. Nếu gặp điều kiện thích hợp, bệnh sẽ trở nên rất trầm trọng.

- Cách phòng bệnh: nước dơ làm bệnh phát triển mạnh hơn. Kiểm tra các nguyên nhân làm cá bị căng thẳng, pH, ammonia, nitrite, nitrate và những vật chủ trung gian truyền bệnh (chẳng hạn như sán lá).

- Cách điều trị: có thể sử dụng các loại thuốc chữa bệnh ngoài da như hydrogen peroxide hay formalin/formol để tắm cho cá. Thuốc kháng sinh, đặc biệt là những loại có thể thẩm thấu vào cơ thể (tetracycline, erythromycin và nitrofurazone không chữa trị bệnh này hiệu quả). Thức ăn có trộn kháng sinh.

8. Bệnh nhiễm khuẩn
- Tổng quan: có vô số các loại vi khuẩn gây bệnh cho cá. Vi khuẩn luôn hiện diện trong nước. Cá bị vi khuẩn tấn công và nhiễm bệnh khi nó yếu đi vì căng thẳng hay vì những nguyên nhân khác (chẳng hạn như nước dơ, bị cá khác bắt nạt, nhiệt độ và môi trường không thích hợp hay thậm chí bị thương). Bệnh nhiễm khuẩn thường gây ra một số triệu chứng điển hình như sau: bơi lờ đờ, bỏ ăn, đôi khi trên thân và vây có xuất hiện những vệt đỏ hay thậm chí lở loét…

- Cách phòng bệnh: thuốc kháng sinh không thực sự tiêu diệt vị khuẩn, thay vào đó nó giúp tăng cường hệ thống miễn dịch để cá tự chống lại bệnh tật. Do vậy, cần hết sức theo dõi và điều chỉnh các yếu tố về môi trường, chất lượng nước, dinh dưỡng và những yếu tố khác. Cá rất dễ bị nhiễm bệnh một khi chúng bị căng thẳng do tác động của các yếu tố môi trường (cá khác đe doạ, nhiệt độ không thíc hợp hay thay đổi đột ngột…) cũng như nước dơ.

- Cách điều trị: có nhiều loại vi khuẩn nên cũng có nhiều loại thuốc chữa bệnh liên quan đến vi khuẩn. Một số thuốc có tác dụng trên vi khuẩn gram âm trong khi số khác lại tác dụng trên các vi khuẩn gram dương. Nếu bạn không biết cá của bạn bị mắc loại vi khuẩn nào thì bạn nên sử dung các loại kháng sinh phổ rộng tức có tác dụng với cả gram âm lẫn gram dương. Hầu hết những vi khuẩn gây bệnh cho cá đều là loại gram âm. Những loại vi khuẩn gram âm thông dụng gồm Aeromonas hydrophila, Aeromonas salmonicida, Flavobacterium columnare (gây bệnh lở miệng), Vibrio và Pseudomonas. Những loại vi khuẩn gram âm khác thuộc lớp coliform (vi khuẩn tiêu hoá) chẳng hạn như E. coli và các vi khuẩn phân huỷ như Nitrosomonas sp., Nitrobacter sp. và septicemia (gây ra những đốm đỏ ở cá).

Thứ Tư, 23 tháng 5, 2012

Thông tin về Betta Halfmoon Plakat

Thông tin về Betta Halfmoon Plakat


Thông tin về betta halfmoon plakat by Diễn Đàn | Thong tin ve betta halfmoon plakat

- Halfmoon Plakat, một dạng cá Betta cảnh, có hình dạng tương tự như con Halfmoon nhỏ. Đây là dòng cá đang phát triển mạnh mẽ vì ngày càng có nhiều người yêu thích HMPK hơn là plakat truyền thống. Điều này dẫn đến việc Halfmoon Plakat lên giá còn plakat truyền thống bị mất giá.


- Một con Halfmoon Plakat, như tên gọi của nó, có vây đuôi xòe rộng hình bán nguyệt nhưng lại ngắn. Halfmoon Plakat được cho là dòng lai giữa plakat truyền thống với Halfmoon đuôi dài. Đến thế hệ F3-F4, dòng HM đuôi ngắn hình thành. Tuy nhiên, có rất nhiều ý tưởng về việc lai tạo Halfmoon Plakat như thế nào.

- Có nhiều quan điểm về vấn đề một con Halfmoon Plakat lý tưởng phải như thế nào. Một số người cho rằng miễn là đuôi cá xòe đủ 180 độ thì chúng được coi là Halfmoon Plakat, trong khi những người khác đòi hỏi cạnh đuôi cần phải thẳng. Một số người nghĩ rằng vây hậu môn phải sắc và nhọn như plakat truyền thống trong khi những người khác lại cho rằng vây hậu môn phải càng ngắn và tù thì càng tốt. Sau đây là những “ý tưởng” khác nhau về Halfmoon Plakat.
- Halfmoon Plakat cạnh đuôi tròn.


- Halfmoon Plakat vây hậu môn ngắn và tù.


- Halfmoon Plakat cạnh đuôi thẳng.


- Cá nhân tôi cho rằng một con Halfmoon Plakat lý tưởng phải có thân dày như plakat truyền thống và các vây có tỷ lệ thích hợp, cả ba vây (vây lưng, vây đuôi và vây hậu môn) xếp chồng lên nhau. Vây hậu môn không nên quá dài, thêm vây lưng thẳng đứng và rộng thì càng tốt.

- Đây là một con Halfmoon Plakat mà tôi thấy rất gần với Halfmoon Plakat lý tưởng mà mọi người cố gắng đạt tới. Vây lưng lớn, vây đuôi khi xòe ra rất đẹp và cả 3 vây chồng lên nhau một cách rất dễ thương.

- Đây là hình dạng của một con Halfmoon Plakat lý tưởng:




- Hãy quan sát những cái đuôi ở trên. Cái đầu tiên có cạnh đuôi cong ở mức có thể chấp nhận được. Cái thứ 2 có cạnh đuôi thẳng và hơi rướn lên phía trước là dạng đuôi lý tưởng. Cái thứ 3 hoàn toàn không chấp nhận được vì quá tròn và trông giống như đuôi của plakat truyền thống. Nó không đạt nếu so sánh với hai hình đầu.

- Hai vây đuôi đầu tiên có tia vây phân làm 4 nhánh nhưng vây đuôi thứ ba chỉ phân làm 2 nhánh, điều không được chấp nhận đối với một Halfmoon Plakat chính hiệu.


- Hãy quan sát những cái vây lưng ở trên. Hình 1 và 2 là những cái vây lưng lý tưởng. Cái thứ nhất rộng, phát triển mạnh về phía sau và thẳng đứng. Cái thứ hai rộng và xếp chồng một cách thích hợp lên vây đuôi. Cái thứ 3 không đủ rộng và không xếp chồng lên vây đuôi. Vây đuôi này không đạt so với hai vây đuôi đầu.


- Hãy quan sát những cái vây hậu môn ở trên. Vây hậu môn ở hình đầu là ít lý tưởng nhất. Thứ nhất nó quá dài nên không tỷ lệ với vây đuôi. Thứ hai, nó không xếp chồng thích hợp lên vây đuôi. Vây thứ hai trông rất tù và ngắn. Với tôi nó không đẹp lắm nhưng chấp nhận được chừng nào nó tỷ lệ hài hòa với thân và các vây khác. Vây hậu môn thứ 3 theo tôi là lý tưởng nhất. Đầu cuối của nó vòng xuống, hướng về phía sau và xếp chồng một cách thích hợp lên vây đuôi.

- Cấu trúc cơ thể






- Bây giờ hãy bỏ qua vây và quan sát cấu trúc cơ thể. Hình 1 thể hiện một con plakat đỏ có cấu trúc cơ thể rất đẹp. Đầu cong đến miệng và thân rất dày, hình dạng lý tưởng. Hình 2 thể hiện một con plakat xanh dương với cấu trúc cơ thể tuyệt vời, đầu cong thân dày. Không quá dài mà cũng không quá mảnh dẻ. Các vây có tỷ lệ thích hợp. Hình 3 thể hiện một con plakat xanh lá cây. Thân hình quá mảnh dẻ và không tỷ lệ với các vây vì nó trông quá nhỏ so với các vây. Dạng cấu trúc cơ thể này không đạt so với hai dạng đầu.

- Một Halfmoon Plakat lý tưởng phải có các vây và thân hình tỷ lệ tùy theo độ tuổi và đặc điểm của cá. Cạnh đuôi phải thẳng, đuôi xòe rộng 180 độ. Vây lưng nên to và thẳng đứng, không nên cong hay nhỏ vì nó sẽ không thể xếp chồng lên vây đuôi được. Vây hậu môn nên hơi hướng về phía sau và xếp chồng lên vây đuôi.

Thứ Bảy, 19 tháng 5, 2012

Tìm hiểu về cá Betta Splendens đuôi dài

Tìm hiểu về cá Betta Splendens đuôi dài


Tìm hiểu về cá Betta splendens đuôi dài by ST | Tim hieu ve ca betta splendens duoi dai

1. Nguồn gốc cá Betta splendens đuôi dài
- Loài cá Betta splendens là sản phẩm của ngành cá cảnh Thái Lan thông qua sự lai tạo tự nhiên mà không hề có sự can thiệp của công nghệ gen hiện đại. Thứ hai, Betta splendens phát triển dựa trên quá trình tương tác có tính xã hội; nó là thành quả của việc trao đổi kiến thức truyền thống ở tầng lớp nông dân Thái Lan. Người ta tin rằng cá đá xuất hiện cách đây 600 năm vào thời hoàng đế Sukhothai, vị vua đầu tiên của Thái Lan. Những nhà lai tạo xưa kia, thường là những nông dân, học hỏi thông qua sự quan sát rồi sau đó thử nghiệm bằng cách đem cá đi đá. Họ hình thành một nhóm gọi là nhóm những nhà lai tạo và đá cá. Họ thường truyền đạt kiến thức về cá đá thông qua con đường truyền khẩu. Việc hé lộ kiến thức cho những người thân cận nhất đảm bảo rằng sẽ có người kế thừa và tiếp tục phát triển nó. Để thêm phần nghiêm trọng, họ thường căn dặn rằng “đừng đem những bí quyết này nói cho bất kỳ ai vì chúng có thể giúp tạo ra những con cá vô địch” (câu nói truyền thống này vẫn còn được duy trì cho đến tận ngày nay). Bằng việc truyền đạt kiến thức như vậy mà cá đá ở Thái Lan phát triển hết sức độc đáo nhưng đồng thời kỹ thuật lai tạo lại lập đi lập lại hay nói cách khác là không hề có sự tiến bộ nào. Chúng ta có thể thấy rõ điều này khi xét đến sự phát triển mạnh mẽ của cá Betta đuôi dài ở Mỹ so với cá Betta đuôi dài ở Thái Lan.


- Ngày nay, hầu hết những nhà lai tạo cá nghiêm túc vẫn thuộc tầng lớp nông dân Thái Lan. Tôi thấy có trách nhiệm ghi nhận và công bố về những kiến thức và trí tuệ của họ như là một phần của lịch sử Thái Lan ngày nay lên mạng Internet.

- Ở Thái Lan khi nói về Plakat, người ta phân biệt ra làm hai loại là loại đuôi dài và loại đuôi ngắn. Cả hai đều là Betta thuần dưỡng, có nguồn gốc từ loài Betta hoang dã. Cách nay khoảng 40 năm, Betta hoang dã có thể được tìm thấy ở khắp nơi từ những vùng ngập nước vào mùa lũ đến các con kênh dẫn nước trên đồng ruộng.


- Dạng Betta đuôi dài xuất hiện từ khi nào? Nếu chúng ta quan sát màu sắc và hình dáng của các cá thể Betta hoang dã thì có thể thấy chúng chỉ khác nhau về kích thước. Hiển nhiên là các nhà lai tạo chỉ làm cho chúng to hơn và chủ yếu là hung dữ hơn lên mà thôi. Tuy nhiên, câu châm ngôn “bạn không thể có tất cả những gì mà mình mong muốn” luôn đúng và thích hợp ở đây. Vậy đâu là nơi mà chúng ta mất dấu về quá trình phát triển của dạng cá đá đuôi dài và dạng cá đá đuôi ngắn? Betta hoang dã có hình dạng toàn thân rất cân đối, các vảy và vây sáng lấp lánh và rất cuồng nhiệt mỗi khi giương vi phùng mang; không dạng Betta thuần dưỡng nào có hình dáng và hành vi tương tự. Nói một cách ngắn gọn sự khác biệt giữa dạng hoang dã và thuần dưỡng chỉ ở kích thước mà thôi.

2. Giả thuyết về sự xuất hiện của Betta đuôi dài
a) Thuyết giả lập môi trường
Thuyết này cho rằng con cá Betta cái thẩm thấu màu sắc và hình dạng của môi trường và truyền cho bầy con của nó. Theo thuyết này, giả sử rằng bạn muốn tạo ra con cá Betta đuôi dài màu vàng thì bạn có thể vẽ hình con cá đực đuôi dài màu vàng lên giấy rồi dán lên thành lọ nuôi con cá cái. Sau 1 - 2 tháng, chúng ta đem con cá cái lai với một con đực bất kỳ. Bầy cá con có thể xuất hiện một số cá thể có màu sắc và hình dáng như cá vẽ trên giấy bên cạnh số lượng lớn giống như cá mẹ và cá bố. Sau khi thu được những cá thể đầu tiên có đuôi hơi vàng và dài, nhà lai tạo sẽ đem con cá đực đuôi dài và vàng lai với con cá cái cũng đuôi dài và vàng ở cùng bầy. Bằng việc lặp đi lặp lại quá trình này, dạng cá Betta đuôi dài sẽ dần dần được hình thành.

b) Thuyết chuyên hóa
- Nếu như thuyết giả lập dựa trên yếu tố môi trường thì thuyết chuyên hóa lại dựa trên yếu tố xã hội. Nhiều văn bản bằng tiếng Thái đều cho rằng con cá Betta splendens đuôi dài xuất hiện cách nay trên một trăm năm. Trong các văn bản nước ngoài, sự xuất hiện lần đầu tiên của cá Betta đuôi dài ở San Francisco hỗ trợ cho giả thuyết trên.

- “Ở Thái Lan, việc lai tạo cá đá cũng như gà đá được duy trì từ hàng trăm năm nay, phát triển thành những dạng đặc biệt. Không hề có con cá đá nào được nhập vào Mỹ mãi cho đến năm 1928, khi hai chiếc tàu buôn cập bến San Francisco từ Bangkok. Những con cá với vây cực lớn này đã tạo nên một cơn sốt trong giới chơi cá cảnh ở đây. Có một loại sậm màu, vây đỏ. Những cá này lai với nhau, rồi với cá đuôi ngắn và những con cá Xiêm khác đến từ nước Đức…” (Lucile Quarry Mann, Tropical fish, New York, 1954).

- Nếu những cứ liệu trên đây là chính xác thì nhìn chung, người Mỹ biết đến cá đá đuôi dài khoảng 30 năm sau khi nó được lai tạo thành công ở Thái Lan. Tôi tin rằng cá đuôi dài được phát triển từ cá đuôi ngắn mà chúng lại có nguồn gốc từ cá Betta hoang dã.

- Cá Betta đuôi dài là sản phẩm từ hoạt động lai tạo và can thiệp của con người, do đó những lý giải về mặt xã hội học ít nhiều phải được cân nhắc đến. Hơn một trăm năm trước chúng tôi không lai tạo cá vì các mục đích thương mại mà chỉ với mục đích giải trí chẳng hạn như để đá hoặc nuôi làm cảnh (thật khác với ngày nay khi thương mại và lợi nhuận là mục đích chính của các nhà lai tạo). Bây giờ, trở lại ý kiến của tôi, các cậu bé luôn nuôi cá đá đuôi ngắn giống như cha và ông mình từng làm. Nhưng còn các cô bé thì sao? Loại cá nào thích hợp cới các cô bé? Loại cá đá đuôi ngắn thì lại quá dữ tợn (nên nhớ rằng vào thời đó chỉ có đàn ông mới nuôi cá đá, thường là để đem đi thi đấu). Các cô bé lại muốn có loại cá cảnh tương tự như tụi con trai nhưng chỉ để nuôi chơi. Đây là lý do loại cá đuôi dài xuất hiện. Cha hay chú của các cô bé, và cũng là nhà lai tạo, cố ý lai tạo ra những cá thể Betta đuôi dài để làm vừa lòng con gái hay cháu gái của họ. Những cá thể có đuôi dài rất dễ phát hiện vì chúng trông rất khác biệt với những cá thể khác trong cùng bầy. Tôi cho rằng sự phát triển của cá đuôi dài bắt đầu khi cô bé đem khoe con cá đuôi dài của mình với chúng bạn. Các cô bạn gái này sau đó lại về nhà nài nỉ cha hoặc chú mình, cũng là những nhà lai tạo khác, tạo ra những con cá đuôi dài tương tự. Tôi nghĩ bây giờ độc giả có thể hình dung những gì diễn ra sau đó.

- Truyền thống lai tạo ra những con cá đặc biệt để cho con nít nuôi chơi hãy còn được duy trì ngày nay. Ở mỗi khu vực, hầu hết các nhà lai tạo đều dành một bầy cá đặc biệt cho con cháu trong nhà chơi. Một số người lai tạo ra những màu sắc đặc biệt trong khi những người khác lại đem lai cá thuần dưỡng với cá hoang dã để trẻ em đem đá với cá tương tự của chúng bạn. Mục đích của việc lai tạo là để đem đi đá với những con cá Betta hoang dã. Loại cá này đá không bền nhưng cá lai lại khắc phục được nhược điểm này.

- Tôi cho rằng lúc đầu dạng cá đuôi dài xuất hiện đâu đó ở các tỉnh lân cận Bangkok. Sự hình thành các câu lạc bộ cá cảnh tạo nên nhu cầu thương mại đối với dạng cá này. Giá cả của chúng rất đa dạng, tôi xin trích dẫn như sau: “cách nay hai, ba năm, loài Betta splendens thuần dưỡng có chất lượng rất đắt, khoảng 30 đô la một cặp” (Christopher W. Coates, Tropical Fishes for a Private Aquarium, 1950: trang138).

- Ngày nay, các cô bé ở Thái Lan thích nuôi dạng cá đuôi dài làm cảnh, trong khi các anh em trai của họ vẫn thích nuôi dạng cá đuôi ngắn để đá.

c) Qua tên gọi
- Thuyết này dựa trên yếu tố ngôn ngữ để giải thích về nguồn gốc của cá đuôi dài. Nó hoàn toàn dựa trên cách đánh vần tên cá. Ở Thái Lan người ta gọi cá đuôi dài là “Plakat Cheen”. Plakat Cheen có thể được dịch thành “cá đá Trung Hoa” (“Plakat” là “Cá đá”, “Cheen” là “Trung Hoa”). Tên này ám chỉ rằng cá đá đuôi dài đến từ Trung Hoa, hay ít ra nó phải có mối liên hệ nào đó đến người Hoa hay đất nước Trung Hoa. Có người nói rằng các thầy tu người Hoa và cũng là các nhà lai tạo cá đem cá Betta đuôi dài vào thị trường cá cảnh ở đây.

- Từ Plakat Cheen có ba cách hiểu:
+ Thứ nhất: Từ Cheen có thể hiểu là nước Trung Hoa hay người Trung Hoa. Điều này có thể hiểu là cá Betta đuôi dài có nguồn gốc từ Trung hoa và được đem vào Thái Lan thông qua các thủy thủ và thương thuyền cách nay trên trăm năm. Tuy nhiên, các chứng cứ (văn bản và truyền khẩu) đều bác bỏ khả năng này và cho rằng nó chỉ là từ vay mượn mà thôi.
+ Thứ hai: Cheen có nghĩa là người Hoa. Họ có thể là nhà sư, thường dân hay nhà lai tạo cá cảnh. Tôi vừa xem TV cách đây vài ngày và rất ngạc nhiên khi có chương trình cho rằng các nhà sư Trung Hoa là những người đầu tiên tạo ra cá đuôi dài cách nay khoảng một thế kỷ. Một nguồn tài liệu khác của Thái lại cho rằng các nhà lai tạo người Hoa là những người lai tạo cá đuôi dài thành công đầu tiên. Cá nhân mà nói, tôi thích cách giải thích này. Nó dường như củng cố cho ý kiến của tôi trước đây. Cá đuôi dài không dùng để đá mà chỉ để nuôi làm cảnh với động cơ thương mại ẩn dấu đàng sau sự xuất hiện của chúng. Các nhà lai tạo người Hoa rất giỏi trong việc phát hiện và phát triển những dòng cá mới. Người Hoa nắm giữ thị trường cá cảnh ví dụ như cá chép, cá vàng, cá bảy màu…Một yếu tố khác nữa đó là người Thái Lan không bán cá đá của mình như cá cảnh hay bán cho người ngoài. Người ta sợ rằng dòng cá của họ bị hỏng vì nuôi dưỡng hay huấn luyện sai cách hay chỉ đơn giản là sợ chúng bị bán cho đối thủ hay kẻ lừa đảo (nên nhớ rằng chất lượng của dòng cá gắn liền với tên tuổi của nhà lai tạo và số lượng tiền đặt cược). Những nhà lai tạo người Hoa có thể phát hiện ra giá trị của những con cá lộng lẫy và dự đoán rằng nếu tạo ra được những con cá có màu sắc đẹp hơn, vây dài hơn thì chúng sẽ là sản phẩm bán chạy. Khi còn trẻ, tôi còn nhớ là cá Betta đuôi dài được bày bán ở khắp các tiệm cá cảnh. Những người bán hàng đều là người Hoa và họ không bao giờ nói về khả năng đá của chúng. Sự phát triển của cá Betta đuôi dài sẽ mãi là điều bí mật bởi vì theo truyền thống của người Hoa, họ sẽ không bao giờ nói ra bí quyết kinh doanh cho người ngoài.
+ Thứ ba: Cheen là khái niệm so sánh về người Hoa hay nước Trung Hoa, lối so sánh ẩn dụ về những gì tương tự như như vậy; ví dụ như: nói to như người Hoa, mắt trông giống như mắt người Hoa, hay thiết kế theo phong cách Trung Hoa…

Thứ Năm, 17 tháng 5, 2012

Kinh nghiệm nuôi cá Betta

Kinh nghiệm nuôi cá Betta


Kinh nghiệm nuôi cá betta by Cá Cảnh VN | Kinh nghiem nuoi ca betta

- Hồ nuôi: Lý tưởng nhất cho cả Halfmoon (HM) và Plakat (PK) là loại hồ có kích cỡ 12x17x20 cm, vừa đảm bào tính thẫm mỹ, vừa tạo thoải mái cho cá sống lâu dài.

- Thức ăn: Tốt nhất là nên cho ăn trùn chỉ. Đây là loại thức ăn bổ dưỡng, giúp cá phát triển toàn diện, dễ tìm và rẻ. Nếu biết cách, sẽ trữ được đến 4 ngày.

- Cách rửa và trữ trùn chỉ: Khi mua trùn về, cho vào thau. Cho nước sạch vào, dùng tay khuấy cho trùn rã ra. Tay khuấy nước tạo thành vòng xoáy mạnh để những thứ dơ bẩn dính trong mớ trùn bong ra. Sau đó bạn để lắng trong 1 phút rồi xả bỏ nước đó. Làm lại như thế thêm một lần nữa rồi cho nước mới vào gần đầy thau. Cho sủi khí 24/24. Những lần thay nước sau, không cần khuấy nước nữa mà chỉ cần vớt trùn ra, đổ bỏ lớp trùn đã chết, cho nước mới vào và lại thả trùn vào trở lại. Mỗi ngày, trước mỗi lần cho ăn ta phải thay nước trùn chỉ để đảm bảo vệ sinh nguồn thức ăn, một trong những yếu tố quan trọng trong việc nuôi Betta cảnh.

- Chế độ cho ăn: mỗi ngày 2 lần, sáng và chiều, cho ăn mỗi lần 1 lượng trùn bằng hạt đậu xanh . Lưu ý không nên cho ăn nhiều hơn, cá sẽ khó tiêu hoá, dễ sình bụng hay gặp các bệnh đường ruột. Cũng không nên cho ăn quá ít, cá sẽ bị suy và không phát triển bình thường, cá sẽ không phát hết vẻ đẹp của nó.

- Nước nuôi cá Betta: nếu dùng nước máy thì nước phải được phơi ngoài trời ít nhất là 24h trước khi sử dụng

- Chế độ thay nước: không nên có quan niệm cứng ngắt về chu kỳ thay nước cá. Chu kỳ này thay đổi theo tình trạng nước máy ban đầu, sức khỏe của cá và một số yếu tố ngoại cảnh như nơi đặt để cá có gần nơi ánh sáng mạnh hay yếu, có nhiều bụi bay vào hay không… Quan trọng là mỗi ngày khi ngắm cá, nên để ý xem có hồ nào nước ngã màu hay bị đục hơn những hồ khác hay không, ta sẽ ưu tiên thay những hồ này trước. Nếu không vấn đề gì thì trung bình mỗi tuần thay nước một lần là được.

- Để cá luôn khỏe và sung mãn: Bình thường, các hồ nuôi được che chắn bởi những tấm chặn để cá không thấy mặt nhau, tránh cho chúng không bị tổn thương khi phải tấn công vào thành hồ do bản năng hiếu chiến của chúng. Nhưng nếu ta không cho chúng thấy mặt nhau quá lâu cũng không tốt. Mỗi ngày, trước khi cho ăn, nên dành ra 5 phút cho chúng thấy mặt nhau và phùng mang kè nhau. Điều này giúp cá củng cố bản năng hiếu chiến của chúng và giúp bộ đuôi không bị xếp lại quá lâu, làm tăng nguy cơ dính đuôi. Điều này đặc biệt quan trọng đối với dòng cá Halfmoon, loài cá mang vẻ đẹp ở bộ đuôi xòe căng 180 độ.


- Một số lưu ý khi chọn nuôi Betta cảnh: đối với PKHM, độ căng 180 độ của đuôi khá lâu bền. Nhưng đối với HM đuôi dài thì độ căng đuôi phụ thuộc nhiều vào độ tuổi của cá và môi trường sống của chúng. Do đó nước nuôi cá HM phải sạch, đảm bảo không có vi khuẩn có hại cho cá. Và khi ta chọn mua HM để nuôi, ta nên chọn cá còn tơ (khoảng 3 hay 4 tháng tuổi), bởi vì độ bung đuôi đẹp nhất của cá thường kéo dài từ tháng thứ 3 đến tháng thứ 9 là tối đa, nghĩa là ta chỉ có thể sở hữu một chú HM đẹp trong vòng trung bình nửa năm. Đây cũng là điều khiến cho nhiều bạn tìm đến với cá Plakat HM, một loài có độ căng đuôi lâu bền hơn HM đuôi dài. Riêng mình nghĩ, cả HM và PKHM đều có nét hút hồn riêng của chúng, một bên là nét đẹp thướt tha, uyển chuyển đầy quyến rủ, một bên là linh hoạt mạnh mẽ đầy sức sống.

Thứ Tư, 16 tháng 5, 2012

Betta Armageddon - dòng cá đốm lửa

Betta Armageddon - dòng cá đốm lửa


Betta Armageddon - dòng cá đốm lửa by ST | Betta Armageddon – dong ca dom lua

Như tên gọi của nó “Armageddon” dòng cá này thể hiện đặc trưng của mình là những đốm lửa (màu đỏ, cam) rất dữ dội trên bộ vây đuôi có nền vàng. Thân của dòng này thường có màu sẫm tuy nhiên cũng có một số ngoại lệ có màu sáng. Chỉ với bộ vây đuôi đã làm chúng ta liên tưởng đến máu, lửa và những trận chiến khốc liệt, có lẽ chính vì thế mà dòng cá này được đặt tên là Armageddon. Mời các bạn xem vài hình ảnh của dòng betta Armageddon độc đáo này:













Kỹ thuật nuôi cá chọi betta Thái Lan

Kỹ thuật nuôi cá chọi betta Thái Lan


Kỹ thuật nuôi cá chọi betta Thái Lan by ST | Ky thuat nuoi ca choi betta thai lan

- Cá chọi betta Thái Lan thuộc họ Cá sặc (Belontidue), phân bố ở Thái Lan, Việt Nam, Indonexia, Malaysia, Ấn Độ. Cá sống và phát triển tốt ở nhiệt độ từ 25 - 30 độ C, độ pH : 7, dH = 10 độ, dCH = 2 độ, chiều dài toàn thân cá từ 5 - 8cm.


- Màu sắc: do lai tạo nên màu sắc đã thay đổi nhiều so với cá nguyên thủy, cá cái màu nâu với những ọc ngang không rõ rệt. Cá đực màu đỏ ánh kim loại, màu tím pha lục, màu xanh cầu vòng, màu xanh trắng, màu ngọc xám... vây lưng tròn và vây hậu môn rất dài.

- Ngày nay kỹ thuật lai tạo đã cho ra đời những cá hể cá chọi có dáng vẻ thước tha, kích thước phát triển lớn.

- Thức ăn: côn trùng, trùng chỉ, lăng văng, giun động vật giáp xác và thức ăn tổng hợp

- Ở phương Tây cũng có loài Betta này mà nguồn gốc từ vùng Bolivia và Chi Lê. Trong khi phương Đông có cá Betta Thái từ xưa nên nó mang tên gọi là cá chọi xiêm.

- Trong các loài cá nhiệt đới thì loài này có màu sắc đậm nhất, càng lộng lẫy hơn là vây cá như một dải lụa có cả đỏ, xanh, trắng. Chúng rất hung hăng nên trong một bể không thể nuôi chung một loài nào khác vì chúng sẽ đánh nhau đến chết.

- Ở Thái việc chọi cá không chỉ là trò giải trí thông thường mà còn để tạo thanh thế cho những ông chủ có cá thắng cuộc. Trước đây, Hoàng cung Thái còn tổ chức Hội thi chọi cá hàng năm. Cá chọi cũng được quản lí chặt chẽ, cấm xuất khẩu cá cái. Cho đến khi có một người Pháp bí mật đưa được một con (cá cái) ra nước ngoài và thấy người ta đả sản xuất được cá con, Thái Lan mới bỏ lệh cấm xuất khẩu nói trên.

- Cá đực, cái cái dể phân biệt, vây dài là cái đực và vây ngắn là cá cái. Thường cá đực màu xanh lục đậm, vây đỏ, cá cái màu trắng có ánh xanh lam, vây ngực vàng nhạt, vây lưng xanh lam nhạt.

- Ở Thái Lan tình hình cá chọi cũng như thời trang, mỗi năm có một sự lựa chọn cho một "mốt" mới. Vì vậy các nhà nuôi cá không ngừng lai tạo để dáp ứng như cầu nói trên.

- Sinh sản: Betta Táhi Lan có tập tính như là cá thiên đàng (Paradis fish), thích hợp nước có môi trường nhiệt độ 25 - 26 độ C, lúc đẻ 28 - 30 độ C. Khi cá đực bắt đầu thổi bong bóng làm ổ thì 2 - 3 ngày sau là cá cái đẻ trứng, nên chú ý viêc ghép đôi, nếu không hợp chúng sẽ không sống được với nhau.

- Bễ nuôi nên thả ít thực vật thủy sinh nổi (như bèo ho dâu...) chiếm 1/3 diện tích mặt nước là tốt nhất. Cá đực là bong bóng phủ 1/3 diện tích mặt nước là tốt nhất. Cá đực là bong bóng phủ 1/3 diện tích , nên cần dành lại 1/3 để chỗ cho cá có thể lên măt nước lấy không khí

- Cá đực và cá cái ban đầu có thể nuôi chung, nhưng khi ban đầu đẻ trứng, cá đực có thể trở chứng tấn công cá cái. nếu nuôi trong bể có các dạng cây thủy sinh trên mặt hoặc lơ lững trong nước, có thể giúp cá cái có chỗ tránh được những động tác vũ phu của chàng sở khanh trở chứng kia.

- Nhưng cũng trong lúc đẻ trứng, cá đực và cá cái lại bán sát bên nhau để làm công việc sinh tồn, phóng và thụ tinh cho trứng. Cá cái đẻ trứng chìm xuống bể, cá đực bơi xuống lượm từng trứng để đưa lên đặt vào nơi đã chuẩn bị (bọt nước). Sau 1 - 2 ngày trứng nở, cá con ẩn nấp dướp lớp bọt, nếu có con nào rớt xuống đáy, cá đực lập tức theo xuống ngay để đưa lên lại. Nhưng nếu nhiều con cá con bị rớt thì cá đực sẽ hết sức tích cực lao lên lao xuống tận tình hết mức trong nghĩa vụ thiêng liêng này.

- Cá con sau 3 ngày là rời khỏi nơi bọt nước, bắt dầu bơi lội bình thường, lúc này có thể nuôi chúng bằng lượng thức ăn dạng nhỏ như bột, nếi có lòng đỏ trứng thì tốt (ko nên cho quá nhiều).

- Bình thường tuồi 3 thọ của chúng từ 2 - 3 năm, năm thứ nhất cường tráng, năm thứ hai suy nhược, nhất là cá cái, yếu hơn cá đực nhiều. Nếu cả bố mẹ đề khỏe mạnh và tương xứng, có thể đạt 80% cá con có chất lượng tốt. Nếu chỉ một bố hoặc mẹ tốt thường sinh sản ra khỏang 30% cá con tốt.

Thứ Tư, 25 tháng 4, 2012

Các lỗi màu ở cá Betta đỏ

Các lỗi màu ở cá Betta đỏ


Các lỗi màu ở cá betta đỏ by Cá Cảnh | Cac loi mau o ca betta do

Trường hợp cá màu đỏ bao gồm nền sậm và nền nhạt. Tuỳ theo màu sắc cá mà chúng được xếp theo đơn sắc hay đa sắc. Tuy nhiên có thể nhận biết được một số lỗi màu sau (tùy theo màu săc của cá):


1. Kỳ trắng (lỗi rất nhẹ).

2. Màu không lan đến vây ngực (lỗi rất nhẹ).

3. Vảy đen (lỗi nhẹ, nếu bị nhiều thì lỗi nặng; trọng tài nên cân nhắc việc tái phân loại vào lớp nhị sắc trong trường hợp nghiêm trọng).

4. Màu thân hơi nhạt hơn màu vây (lỗi nhẹ, nếu bị nhiều thì lỗi nặng; trọng tài nên cân nhắc việc tái phân loại vào lớp nhị sắc trong trường hợp nghiêm trọng).

5. Viền vây đen (lỗi nhẹ).

6. Đầu có màu kem hay màu thịt ((lỗi nhẹ, nếu bị nhiều thì lỗi nặng).

7. Viền vây trong suốt hay có sọc (lỗi nhẹ).

8. Hiển thị màu vàng hay cam (lỗi nặng).

9. Đốm, vạch hay mảng đen (lỗi nặng).

10. Hiển thị màu ánh kim (lỗi nặng nếu chỉ dính ở một vài tia vây hay vảy).

11. Hiển thị màu ánh kim (lỗi nghiêm trọng – nếu dính quá nhiều, trọng tài nên cân nhắc việc tái phân loại vào lớp đa sắc).

12. Hiển thị metallic (lỗi nghiêm trọng nếu chỉ dính ở một vài tia vây hay vảy).

13. Hiển thị opaque (bị loại; nếu chỉ dính ở kỳ thì lỗi nghiêm trọng).

Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2012

Kỹ thuật lai tạo cá Betta

Kỹ thuật lai tạo cá Betta


Kỹ thuật lai tạo cá betta by Diễn Đàn | Ky thuat lai tao ca betta

Cá cẩm thạch được lai tạo trong các lọ đựng bơ đậu phộng bởi một tù nhân tên là Orville Gulley. Câu chuyện như sau, Orville cố gắng tạo ra cá betta bướm đen và vô tình phát hiện ra gen cẩm thạch. Ông gửi vài con cho Walt Maurus, một thành viên IBC (và một số nhà lai tạo khác) người phát hiện ra vẻ đẹp của chúng và bắt đầu lai tạo dòng cá này. Chúng giống như những con ngựa Pinto trong thế giới cá betta với những vệt sẫm trên nền thân màu nhạt hay ngược lại. Con cá cẩm thạch đầu tiên có hai màu đen/trắng nhưng sau đó người ta phát triển thành vô số dạng màu khác nhau và dùng chúng để tạo ra những dòng cá betta mới.


1. Kỹ thuật lai tạo cá Betta
- Gen cẩm thạch cỏ vẻ như chỉ trội một phần (có người lại cho rằng nó là gen đồng trội hay gen lặn một phần) vì thế lai cẩm thạch với cá đơn sắc sẽ tạo ra đa số là cá đơn sắc và một số ít cá cẩm thạch. Nếu cá cha mẹ đều mang gen cẩm thạch thì tỷ lệ cá con cẩm thạch sẽ cao hơn. Gen cẩm thạch tác động lên bề ngoài của cá theo cách không thể đoán trước được, tức là bất kỳ kiểu kết hợp màu sắc và hoa văn nào. Tuy nhiên, nhà lai tạo có lẽ phải trải qua nhiều thế hệ (và tuyển chọn) trước khi hình thành ý tưởng và sau đó lại đối diện với thách thức tạo ra dòng cá mới.

- Lai tạo cá cẩm thạch với nhau thường tạo ra cá đơn sắc nền sẫm, đơn sắc nền nhạt, cá bướm và cá cẩm thạch. Cá bướm đơn sắc xuất xứ từ dòng cẩm thạch sẽ có cùng đặc điểm di truyền với cá đơn sắc cũng ở dòng cẩm thạch; khi cá bướm lai với cá đơn sắc xuất xứ từ dòng đơn sắc, cá con sẽ mang gen bướm trội một phần.

- Lai giữa cá đơn sắc nền sẫm hay đơn sắc nền nhạt xuất xứ từ dòng cẩm thạch sẽ tạo ra cá cẩm thạch, cá đơn sắc và cá bướm. Nếu gen cẩm thạch được giới thiệu vào dòng cá đơn sắc thì sẽ cực kỳ khó để quay trở lại dòng cá đơn sắc. Cá con sẽ luôn dính ít nhiều màu cẩm thạch hay màu lạ. Lai xa dòng cẩm thạch với dòng khác sẽ tạo ra hiệu ứng “cẩm thạch” trên màu sắc của các dòng đó.

2. Hiện tượng Gen nhảy
- Một trong những nguyên tắc cơ bản mới được phát hiện gần đây trong ngành di truyền đó là sự tồn tại của “yếu tố di chuyển” hay còn gọi là “gen nhảy”. Trên thực tế, tồn tại những gen mà chúng có khả năng di chuyển từ vị trí này sang một vị trí khác trên chuỗi nhiễm sắc thể. Đôi khi chúng chèn vào một vị trí và tác động lên hoạt động của gen ở vị trí đó. Điều này làm cho tế bào (và các nhân bản của nó) không có khả năng hoàn tất một nhiệm vụ cụ thể liên quan đến gen đó. Bởi vì gen nhảy chỉ tạm thời nằm ở một vị trí cụ thể trên chuỗi nhiễm sắc thể, cho nên sự mất tác dụng của gen chỉ là tạm thời.

- Nếu gen nhảy tồn tại và nó chèn vào vị trí gen chịu trách nhiệm tạo ra sắc tố đen, nó sẽ làm ngưng việc sản xuất sắc tố đen từ đó các tế bào (và nhân bản của chúng) không thể tạo ra sắc tố đen. Điều này tạo ra những đốm chẳng hạn đốm trắng hay đốm mờ. Điều ngược lại cũng có thể xảy ra! Nếu tế bào không có khả năng tạo ra sắc tố đen bởi vì sự hiện diện của gen nhảy, và khi gen này dời đi thì tế bào (và các nhân bản của nó) lại có khả năng tạo ra sắc tố đen và màu đen lại xuất hiện. Đôi khi những đốm đen trên nền thân nhạt màu của cá cẩm thạch bỗng xuất hiện điểm trắng ở chính giữa (trông giống như con mắt). Điều này có thể giải thích một cách dễ dàng nếu bạn nghĩ rằng những tế bào nhân bản ban đầu không thể tạo ra sắc tố đen bởi vì sự hiện diện của gen nhảy (tạo ra nền thân nhạt màu) sau đó gen nhảy dời đi làm cho màu đen xuất hiện (tạo ra những chấm đen), rồi ở một số tế bào, gen nhảy quay lại và hạn chế sắc tố đen làm xuất hiện điểm trắng bên trong những đốm đen.

- Lý thuyết về “gen nhảy” có thể được sử dụng để giải thích tại sao một số cá cẩm thạch lại không hề có hoa văn “cẩm thạch”. Nếu “gen nhảy” không chèn (trường hợp nền sẫm) hay dời đi (trường hợp nền nhạt) ở bất kỳ tế bào nào trong suốt quá trình sinh trưởng của cá thì hoa văn “cẩm thạch” sẽ không xuất hiện. Bây giờ, điều này cũng có thể xảy ra với những màu khác… chẳng hạn các màu xanh lục, xanh dương, xanh thép và đỏ. Gen nhảy sẽ chèn vào chuỗi gen và bật hay tắt khả năng tạo sắc tố ở những tế bào nhân bản.

- Có rất nhiều bằng chứng cho thấy gen nhảy hay “yếu tố di chuyển” có thể là nguyên nhân tạo ra đặc điểm “cẩm thạch” ở cá betta. Sự xuất hiện của đặc điểm cẩm thạch có thể được lý giải bằng lý thuyết này. Nhưng để chứng minh nó có thể sẽ rất khó khăn. Có một điều chắc chắn luôn đúng: cho dù bạn có thích cơ chế di truyền của cá cẩm thạch hay không thì cũng phải thừa nhận rằng chúng rất đẹp.

Bài đăng phổ biến