Hiển thị các bài đăng có nhãn Cá Lóc Đồng - Lóc Bông. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cá Lóc Đồng - Lóc Bông. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2012

Kỹ thuật sinh sản nhân tạo Cá Lóc

Kỹ thuật sinh sản nhân tạo Cá Lóc


Kỹ thuật sản sinh sản nhân tạo cá lóc by Sưu tầm | Ky thuat sinh san nhan tao ca loc

I. Kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ và sinh sản 
1.1 Ao nuôi vỗ cá bố mẹ 
- Ao nuôi bằng đất hoặc xây có diện tích và độ sâu vừa phải từ 300 – 500 m2, sâu 0,8 – 1,0 m. Đặc biệt phải chú ý xây dựng bờ cao và chắc chắn để tránh cá đi mất. Có thể rào xung quanh bằng lưới chắn với chiều cao 0,6 – 0,8 m. Ao có cống cấp thoát nước chắn lưới kỹ. Trong ao nên cắm chà hoặc thả lục bình (khoảng 20% diện tích ao).

- Trước khi thả cá nuôi cần phái tát cạn ao, dọn và phơi đáy. Sau đó cấp nước vào ao qua lưới lọc, khi đủ yêu cầu thì thả cá.

1.2 Chọn cá bố mẹ nuôi vỗ 
- Chọn cá có độ tuổi 12 tháng trở lên, nặng từ 0,6 – 0,8 kg. Cá tuyển chọn phải khỏe mạnh, không bị sây sát, vây vẩy hoàn chỉnh. Đặc biệt chú ý khi chọn lựa phải nắm vững nguồn gốc đàn cá, nhất là cá thu bắt ngoài tự nhiên, dễ gặp phải đàn cá do sử dụng điện để đánh bắt, cá rất yếu và dễ bệnh, dễ chết.

- Trước khi thả xuống ao, cá được tắm nước muối 2 – 2,5% trong khoảng 10 phút để diệt các loại kí sinh trùng bám trên cá và cá cũng nhanh chóng lành các vết sây sát trên thân.

- Mật độ thả nuôi vỗ từ 2 – 3 kg/10m2 ao, tỷ lệ đực/cái từ 1/1 đến 2/1.

- Mùa vụ bắt đầu nuôi vỗ từ tháng 10 – 11 hàng năm, hoặc 2 – 3 tháng trước mùa sinh sản.

1.3 Thức ăn và quản lý chăm sóc 
Cá có tập tính bắt mồi sống nhưng khi chọn cá nuôi vỗ, nếu là cá được nuôi nhân tạo, quen với các thức ăn mồi chết thì thuận lợi cho nuôi vỗ. Nếu cá thu từ tự nhiên, cần tập cho cá ăn được mồi chết. Thức ăn chủ yếu nuôi vỗ cá bố mẹ là cá tạp, vụn, tép, và các phụ phẩm lò mổ gia súc gia cầm v.v.. thức ăn được đưa vào sàn ăn và đặt sâu cách mặt nước 0,15 – 0,2 m. Cho ăn mỗi ngày 3 – 4 lần, không nên để thức ăn ươn thối. Mồi ăn có kích thước lớn phải bằm nhỏ cho vừa cỡ miệng của cá. Khẩu phần ăn từ 3 – 4% trọng lượng thân. Thường xuyên theo dõi mức độ ăn của cá để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp. Thường xuyên thay nước cho ao giữ cho nước không bị ô nhiễm do thức ăn và chất thải của cá.

II. Kỹ thuật cho cá đẻ 
2.1 Phân biệt cá đực cái 
- Với cá đực thành thục, có các vạch màu sậm trên thân từ vây ngực đến lỗ sinh dục, thể hiện rõ hơn cá cái. Thân cá đực thon, dài, bụng nhỏ và cứng, lỗ sinh dục hẹp nhỏ và hơi lõm vào, tách xa lỗ hậu môn. Cá đực lớn trên 1 kg có thể vuốt lườn bụng để kiểm tra tinh dịch chảy ra nhưng có rất ít.

- Với cá cái có thân ngắn mấp và bụng lớn, mềm. Các vằn đen không hiện rõ từ vây ngực đến lỗ sinh dục như cá đực. Lỗ sinh dục tròn và hơi hồng, nằm sát với lỗ hậu môn. Trứng cá thành thục có đường kính 1,4 – 1,8 mm, màu vàng sậm, nổi trên mặt nước.

2.2 Phương pháp cho đẻ tự nhiên trong ao đẻ 
Ao đẻ bằng đất có diện tích từ 50 – 100 m2, hoặc ao lót bạt cao su diện tích 30 – 50 m2 hoặc bể xây ximăng. Dộ sâu của ao đất từ 0,3 m (chỗ nông) đến 1m (chỗ sâu). Trên mặt ao, bể có thiết kế các khung tre ở một góc ao, bể và thả lục bình hoặc rong (chiếm 40 – 50% diện tích). Mật độ thả 1 cặp/2 m2 (cá 0,5 – 0,8 kg). Sau đó tạo dòng nước chảy nhẹ hoặc phun mưa nhân tạo để kích thích từ 10 – 20 giờ, tùy thuộc vào mức độ thành thục của cá. Trong khi cá đẻ thì ngưng phun nước để không làm hỏng tổ trứng.

2.3 Phương pháp kích thích đẻ trứng bằng tiêm kích dục tố 
 - Biện pháp này nhằm làm cho đàn cá có thể đẻ đồng loạt để thu được một lượng cá bột lớn. Nhưng cũng tùy thuộc vào mức độ thành thục của cá bố mẹ và kinh nghiệm lựa chọn của các nhà kỹ thuật. Cá chọn cho đẻ phải có buồng trứng phát triển ở giai đoạn IV thành thục thì thuốc kích dục tố mới phát huy tác dụng và đẻ có hiệu quả.


- Các chất kích thích sinh sản gồm có não thùy cá (Chép, Mè trắng...), HCG (Human Chorionic Gonadotropin).

- Liều lượng kích thích tố dùng để kích thích sinh sản như sau:
+ Đối với não thùy cá:
. Liều sơ bộ: 1 – 1,5 mg/kg.
. Liều quyết định: 6 – 8 mg/kg, tiêm cách liều sơ bộ 8 – 12 giờ.
+ Đối với HCG:
. Liều sơ bộ 500 UI/kg.
. Liều quyết định: 2.500 UI/kg, tiêm cách liều sơ bộ 12 – 24 giờ.
+ Ngoài ra có thể kết hợp tiêm não thùy và HCG như sau:
. Liều sơ bộ: 500 UI/kg.
. Liều quyết định: 1.200 – 1.500 UI (HCG).
+ 3 – 4 mg não thùy.
+ Cá đực chỉ sử dụng liều lượng bằng 1/3 của cá cái và chỉ tiêm 2 lần duy nhất cùng với liều quyết định của cá cái.

- Sau khi tiêm kích dục tố, tiến hành kích thích nước liên tục cho đến khi cá đẻ. Thời gian từ khi tiêm quyết định đến khi cá đẻ từ 12 – 14 giờ, có khi cá đẻ rải rác đến 20 – 24 giờ.

III. Kỹ thuật ấp trứng cá 
- Vớt trứng cá đưa vào các dụng cụ ấp như thau nhựa, thau nhôm, bể ximăng, hồ đất (lót bạt cao su), bể vòng. Mực nước ấp từ 0,2 – 0,3 m. Mật độ ấp trứng từ 20.000 – 30.000 trứng/m2 mặt nước bể ấp (chẳng hạn một thau nhựa có đường kính 0,5 m có thể ấp được 7.000 – 8.000 trứng).

- Trong quá trình ấp, thay nước 4 – 6 lần một ngày đêm, hoặc có dòng nước chảy nhẹ liên tục. Vớt bỏ ngay những trứng bị ung (màu trắng đục). - Ở nhiệt độ 28 – 30oC, sau 20 – 26 giờ trứng sẽ nở thành ấu trùng. Lúc này ấu trùng còn rất yếu và nổi trên mặt nước, dinh dưỡng bằng noãn hoàng cho đến ngày thứ 3 – 4.

Thứ Tư, 10 tháng 10, 2012

Video Kỹ thuật nuôi cá Lóc

Video Kỹ thuật nuôi cá Lóc


Để giúp người nuôi có thêm thông tin về kỹ thuật nuôi cá lóc chúng tôi giới thiệu độc giả  Video Kỹ thuật nuôi cá Lóc chúng tôi giới thiều với độc giả Video kỹ thuật nuôi cá lóc.



Video Kỹ thuật nuôi cá Lóc, Nguồn: Khuyến nông Việt Nam.

Thứ Tư, 1 tháng 8, 2012

Cách điều trị bệnh nấm thủy mi trên cá Lóc giống

Cách điều trị bệnh nấm thủy mi trên cá Lóc giống


Cách điều trị bệnh nấm thủy mi trên cá lóc giống by C.ty UVVN | Cach dieu tri benh nam thuy mi tren ca loc giong

I. Tổng quan
Cá lóc (Channa striata) là đối tượng được nuôi phổ biến và quan trọng đang phát triển mạnh ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Đây là loài cá dễ nuôi, mau lớn, thịt ngon và là nguồn dinh dưỡng tốt cho con người. Với hình thức nuôi đa dạng và phù hợp cho quy mô hộ gia đình góp phần tăng thu nhập cho nông hộ. Tuy nhiên, hiện nay tình hình bệnh xảy ra thường xuyên làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của người nuôi. Các loại bệnh thường gặp trên cá lóc được ghi nhận là do các tác nhân ký sinh trùng, vi nấm và vi khuẩn. Trong đó, sự nhiễm nấm thủy mi thường xảy ra ở cá lóc giai đoạn giống hoặc tháng nuôi đầu tiên ở nuôi thương phẩm.


II. Bệnh nấm thủy mi và cách điều trị
1. Dấu hiệu bệnh nấm thủy mi trên cá lóc giống
Cá lóc giai đoạn giống nhiễm nấm có dấu hiệu bệnh lý lở loét phần đuôi và có những búi màu trắng trông giống như bông gòn tua tủa trên thân cá, phần gốc của sợi nấm bám vào cơ cá phần còn lại lơ lửng trong nước (Hình 1B). Quan sát mẫu tiêu bản tươi (mẫu bệnh phẩm) cho thấy nhiều sợi nấm bậc thấp, không có vách ngăn ngang (Hình 2).

2. Đặc điểm hình thái nấm thủy mi (Achlya sp.)
- Dựa vào đặc điểm hình dạng, tốc độ phát triển của khuẩn lạc và đặc điểm của sợi nấm, sự hình thành túi bào tử, hình dạng động bào tử và quá trình phóng thích động bào tử xác định được nấm thủy mi nhiễm trên cá lóc giai đoạn giống là nấm Achlya sp.

- Đặc điểm hình thái của nấm Achlya sp.:
+ Khuẩn lạc chủng trên môi trường GYA ở 28 độ C sau 4 ngày nuôi cấy.

+ Sự hình thành túi bào tử (mũi tên).
+ Túi bào tử già và động bào tử hình cầu (mũi tên).
+ Động bào tử được phóng thích và tập trung ở đầu mút (mũi tên).
+ Động bào tử nảy mầm và hình thành sợi nấm mới (mũi tên).
+ Túi bào tử sau khi động bào tử được phóng thích.
Hình B, C, D, E và F quan sát ở độ phóng đại x200.

3. Yếu tố nguy cơ gây ra bệnh
Bệnh thường phát sinh khi chất lượng nước trong ao nuôi giảm, tích tụ hữu cơ nhiều, mật độ nuôi cao, phương pháp quản lý ao nuôi chưa tốt nhất là những khi nhiệt độ nước trong ao nuôithấp hoặc thời tiết thay đổi (giao mùa hoặc trở lạnh). Đặc biệt bệnh nấm thủy mi thường xảy ra ở giai đoạn cá giống hoặc giai đoạn tháng đầu nuôi thương phẩm.

4. Phương pháp phòng bệnh
Phòng bệnh luôn là giải pháp hiệu quả cho sự thành công trong nuôi thâm canh cá lóc. Việc sử dụng thức ăn tự chế với thành phần cá tạp là chính đã tác động tiêu cực đến môi trường ao nuôi đặc biệt là các yếu tố thủy lý hóa cũng như phát sinh các mầm bệnh trong ao nuôi. Một số giải pháp cần được thực hiện như:
- Chuẩn bị ao nuôi kỹ, sên vét bùn, xử lý đáy ao bằng vôi 10 kg/100 m2.

- Mật độ thả nuôi không quá dầy.

- Đảm bảo thành phần dinh dưỡng trong thức ăn nuôi cá lóc, nên chọn thức ăn công nghiệp phù hợp và chất lượng để nuôi cá lóc.

- Tạt vôi định kỳ với liều lượng 3 kg/100 m3, đặc biệt ở những tháng cuối vụ nuôi.

- Định kỳ diệt mầm bệnh bằng thuốc tím, Iodinetheo hướng dẫn nhà sản xuất được ghi trên nhãn thuốc,tạt đều ao.

5. Phương pháp trị bệnh
- Hạn chế tối đa bệnh phát sinh bằng kết hợp xử lý môi trường nuôi và tăng sức đề kháng cho cá nuôi bằng cách bổ sung vitamin C.

- Thuốc tím với liều lượng 10 g/m3 tắm cho cá trong thời gian 30 - 60 phút, hoặc theo hướng dẫn nhà sản xuất.

- Formol với liều lượng 20 ml/m3 tắm trong thời gian 30 - 60 phút và trị liên tục 3 - 5 ngày, lưu ý không được trị quá liều hoặc không thực hiện điều trị lúc trời quá nóng.

- Bronopol với liều lượng được khuyến cáo của nhà sản xuất.

Bài viết đã được mua tác quyền từ tác giả, bất cứ hình thức sao chép nào đều phải có trích dẫn nguồn: Ts. Phạm Minh Đức - Khoa Thủy Sản - Đại Học Cần Thơ.

Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2012

Kỹ thuật nuôi cá Lóc thương phẩm

Kỹ thuật nuôi cá Lóc thương phẩm


Kỹ thuật nuôi cá lóc thương phẩm by ST | Ky thuat nuoi ca loc thuong pham

I. Đặc điểm sinh học
1.1 Phân bố
Cá lóc sống phổ biến ở đồng ruộng, kênh rạch, ao hồ, sông… Cá thích nghi được cả trong môi trường nước đục, tù, nước lợ.

1.2 Dinh dưỡng
Cá Lóc là loài cá dữ, ăn tạp thiên về động vật. Cá thường hoạt động bắt mồi ở tầng nước mặt, cá có đặc tính rình mồi và đuổi bắt. Mùa đông khi thời tiết lạnh cá hoạt động ở tầng nước sâu hơn.

1.3 Sinh trưởng
Về tốc độ tăng trưởng: Nếu nuôi cá lóc từ cở 5 – 7cm sau 12 tháng nuôi cá đạt trọng lượng từ 500 – 700 g/con. Cá lớn nhanh từ 4 - 5 tháng tuổi (khi cá đạt được 100 g/con) lúc này cá ăn rất mạnh. Cá ăn nhiều, hoạt động mạnh và lớn nhanh vào mùa Xuân – Hè, đây cũng là giai đoạn cá béo nhất trước khi bước vào mùa sinh sản (đầu mùa mưa).

1.4 Sinh sản
- Cá lóc 1 năm tuổi bắt đầu tham gia sinh sản, mùa vụ sinh sản từ tháng 4 – 8, tập trung vào tháng 4 – 5. Cá thường đẻ vào sáng sớm (sau những trận mưa rào một hai ngày).

- Cá lóc đẻ trứng ở gần bờ, ở chỗ có nhiều rong cỏ cá cái dùng cỏ làm ổ, sau đó cá cái và cá đực kéo đến đẻ trứng và thụ tinh ở đây. Ðẻ xong cả con đực và cái không rời khỏi ổ mà nằm phục dưới đáy bảo vệ trứng cho đến khi nở thành con mới rời ổ và dẫn đàn con đi kiếm ăn, lúc này cá bố mẹ ăn thịt cá con của những đàn cá khác, cho nên đến mùa sinh sản sáng sớm thăm ao hễ phát hiện thấy có cá con là vớt mang sang ao khác.

II. Kỹ thuật nuôi cá lóc
2.1 Ương cá giống trong ao đất
- Diện tích ao ương: Từ 100 - 300m2, ao sâu 1 - 1,2m.

- Mật độ ương từ 300 - 500con/m2.

- Chuẩn bị ao ương theo các bước sau:
+ Dọn sạch cỏ và vệ sinh bờ ao
+ Tát cạn và sên vét sạch bùn đáy ao
+ Phơi đáy ao 2 - 3 ngày (chú ý: nếu ao xây dựng trên vùng đất phèn không được phơi lâu).
+ Dùng vôi với liều lượng 7 - 15kg/100m2 để cải tạo phèn.
+ Cấp nước vào ao khoảng 0,8 - 1m, nước cấp phải lọc qua lưới dày để tránh cá tạp vào ao. Tiến hành gây màu nước.
+ Sau 3 - 5 ngày nước có màu xanh đọt chuối thì tiến hành thả cá. Có thể bổ sung thêm 100 - 200g trứng nước/10.000 cá bột/ngày. Sau một tuần cho cá ăn thêm trùng chỉ với lượng 1 - 1,5kg/10.000 cá. Từ ngày thứ 10 trở đi ta có thể tập cho cá ăn thức ăn tươi sống xay nhuyễn (cá tạp, ốc bưu vàng, tép...).


- Trong thời gian ương cần phải cho cá ăn đều và đủ, tránh cho ăn dư thừa làm ô nhiễm môi trường ao ương dễ gây bệnh cho cá. Định kỳ lọc bỏ cá nhỏ, chọn cá lớn ương tiếp. Sau 2 tháng ương cá đạt 9 - 12cm (khoảng 20g) có thể bán giống hoặc chuyển qua nuôi cá thương phẩm.

2.2 Nuôi cá thương phẩm trong vèo
2.2.1 Mùa vụ nuôi
- Trước đây do nguồn cá giống phụ thuộc nhiều vào tự nhiên nên mùa vụ nuôi phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết hàng năm. Thông thường vụ nuôi tập trung từ tháng 5 - 9, trong đó tập trung nhiều nhất vào tháng 7 - 8.

- Hiện nay cá được cho sinh sản nhân tạo nên người nuôi có thể chọn nuôi cá quanh năm. Tuy nhiên mùa vụ nuôi tập trung chủ yếu vào mùa mưa và mùa nước nổi nhằm tận dụng nguồn thức ăn cá tạp, ốc bưu vàng.

2.2.2 Thiết kế và cách đặt vèo
- Lưới làm vèo được chọn lưới sợi 3,6 ly, kích thước mắt lưới 2,5cm, lưới có màu xanh rêu (lưới Thái).

- Vèo được làm theo hình vuông hoặc hình chữ nhật. Kích thước vèo tùy thuộc vào điều kiện hộ nuôi. Kích thước vèo: 5x3x2 hoặc 4x2x2 hoặc 3x2x2.

- Vèo được đặt cách đáy ao tối thiểu 50cm, không nên để sát đáy ao vì chất thải và thức ăn thừa sẽ tích tụ sẽ gây ô nhiễm vèo nuôi. Vèo nuôi phải được đặt xa bờ để tránh mèo, chuột làm rách vèo. Vèo phải làm nắp đậy để tránh cho cá thoát ra ngoài.

2.2.3 Chọn giống và mật độ thả nuôi
- Cá lóc là loài cá dữ, sự cạnh tranh thức ăn rất cao dẫn đến phân đàn mạnh và sát hại lẫn nhau. Nên chọn đàn cá cùng ngày tuổi và cùng kích thước, khỏe mạnh, không bị xây xát, dị tật và thả với mật độ hợp lý là hết sức quan trọng và quyết định năng suất sau này.

- Mật độ thả nuôi: 50 – 100 con/m2, cỡ giống 9 - 12cm (khoảng 10 - 20g/con).

2.2.4 Thức ăn và cách cho ăn
- Thức ăn cho cá lóc bao gồm thức ăn công nghiệp và thức ăn tự chế. Trong quá trình nuôi có thể tập cho cá ăn thức ăn chế biến từ các nguồn nguyên liệu như: cá tạp, tấm, cám... nhưng phải đảm bảo hàm lượng đạm > 20%.

- Thức ăn được cắt nhỏ cho vừa cỡ miệng cá hoặc được xay nhuyễn rồi cho vào sàng ăn.

- Có thể chế biến thức ăn và khẩu phần ăn theo bảng sau:


2.2.5 Chăm sóc và quản lý
- Hoạt động chăm sóc sức khỏe cá và quản lý môi trường nuôi cá cần phải thực hiện thường xuyên trong suốt vụ nuôi.

- Nhiệt độ: Nhiệt độ nước thích hợp từ 28 – 32 độ C.

- pH: pH nuôi cá lóc có thể dao động từ 6,5 - 8. Không nên để pH nước vượt quá 9 sẽ rất độc cho cá.

- Oxy hòa tan: Nồng độ oxy hòa tan trong ao nuôi cá lóc > 3ppm. Không nên để hàm lượng oxy dưới 2ppm, cá sẽ giảm ăn, chậm lớn.

- Hàng ngày quan sát hoạt động, khả năng bắt mồi của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.

- Thường xuyên kiểm tra cá phát hiện bệnh kịp thời để có biện pháp xử lý hiệu quả.

- Có thể sử dụng BKC hoặc thuốc tím định kỳ 15 ngày một lần với liều 0,5 ppm (500g/ 1000 m3) trong suốt thời gian nuôi để phòng và trị một số bệnh kí sinh trên cá.

- Định kỳ thay nước cho ao nuôi (nếu vèo đặt trong ao).

- Thường xuyên kiểm tra vèo nuôi cá (hệ thống dây giăng, lưới…). Thường xuyên vệ sinh lưới vèo tránh rong rêu bám nhiều làm kí sinh trùng phát triển mạnh gây ảnh hưởng đến cá nuôi.

2.2.6 Thu hoạch
- Cá nuôi sau 4 - 5 tháng có thể đạt kích cỡ 500 - 1.000g/con, trung bình 700g/con.

- Trước khi thu hoạch 1 - 2 ngày không nên cho cá ăn nhằm hạn chế cá chết trong quá trình vận chuyển.

- Khi thu hoạch nên dùng vợt để xúc cá, các dụng cụ dùng để chứa đựng cá phải nhẵn hạn chế cá bị sây sát.

- Sau khi thu hoạch dùng ghe đục hoặc thùng chứa để vận chuyển cá đến nơi tiêu thụ.

Thứ Năm, 7 tháng 6, 2012

Kỹ thuật nuôi cá Lóc Đầu Nhím trên bể xi măng

Kỹ thuật nuôi cá Lóc Đầu Nhím trên bể xi măng


Kỹ thuật nuôi cá lóc đầu nhím trên bể xi măng by ST | Ky thuat nuoi ca loc dau nhim tren be xi mang

I. Đặc điểm sinh học
1. Ðặc điểm hình thái
Vây lưng có 40 - 46 vây; vây hậu môn có 28 - 30 tia vây, vảy đường bên 41 - 55 cái. Ðầu cá quả O.maculatus có đường vân giống như chữ "nhất" và 2 chữ bát còn đầu cá O.arbus tương đối nhọn và dài giống như đầu rắn.


2. Phân bố và tập tính sống
- Ngoài tự nhiên cá lóc phân bố ở nhiều loại thủy vực nước ngọt, lợ. Chúng có mặt ở sông, kênh rạch, ao, đầm lầy, ruộng, đìa… Cá thích sống nơi có thực vật thủy sinh (rong, cỏ, bèo…) để thuận lợi cho việc rình và bắt mồi.

- Cá có thể sống trong cả môi trường nước ngọt và lợ (8 - 12‰), độ pH thích hợp 6,3 – 7,5, nhiệt độ phù hợp cho tăng trưởng của cá 25 – 30 độ C. Cá thường trú ẩn trong lùm cây cỏ.

- Đặc biệt, nhờ vào cấu tạo thích nghi của cơ quan hô hấp, sự phát triển của cơ quan hô hấp phụ trên mang, ngoài việc sử dụng oxy có trong nước, cá còn có khả năng lấy oxy trực tiếp từ ngoài không khí (khí trời).
- Cá có thể sống trong môi trường chật hẹp, trong điều kiện nước dơ bẩn, nước tù, thiếu oxy. Đây cũng là ưu thế để phát triển các mô hình nuôi thâm canh trong ao, vèo và bể bạt...

3. Đặc điểm dinh dưỡng
- Cá mới nở sử dụng dinh dưỡng từ khối noãn hoàng trong 3 ngày. Từ ngày thứ 4 - 5, khi noãn hoàng đã hết, cá bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài là các loài động vật phù du kích cỡ nhỏ vừa với cỡ miệng chúng (luân trùng, trứng nước) hay lòng đỏ trứng. 5 - 7 ngày sau cá có thể ăn trùn chỉ hay thức ăn tổng hợp dạng bột.

- Khi cá lóc đạt chiều dài khoảng 5 - 6 cm thì có thể rượt bắt các loại cá, tép con có kích cỡ nhỏ hơn. Khi cá có chiều dài trên 10cm thì khả năng rình bắt mồi rất tốt và có tính ăn như cá trưởng thành.
- Cá lóc là động vật ăn thịt, có tập tính rình bắt mồi. Trong điều kiện nuôi, cá quen dần với việc ăn thức ăn tĩnh, cá ăn được nhiều loại thức ăn: cá biển, phụ phế phẩm của nhà máy chế biến, phế phẩm từ lò mổ gia súc, gia cầm và thức ăn viên tổng hợp.

4. Đặc điểm sinh trưởng
- Giai đoạn nhỏ, cá tăng chủ yếu về chiều dài. Cá càng lớn thì sự tăng trọng càng nhanh.

- Trong tự nhiên, sức lớn của cá không đều, phụ thuộc vào thức ăn sẵn có trong thủy vực, do vậy tỉ lệ sống trong tự nhiên của cá thấp.

- Trong ao nuôi, có thức ăn đầy đủ và chăm sóc tốt thì tỉ lệ sống của cá cao và đạt trọng lượng trung bình 0,5 - 0,8 kg/con sau 6 - 8 tháng (cá lóc đen và lóc bông); 0,6 - 0,7kg/con sau 3,5 - 4 tháng (cá lóc môi trề và đầu nhím).

II. Một số loài cá lóc phổ biến ở Việt Nam
1. Cá lóc đen
- Mô tả: Cơ thể hình lăng trụ, đầu dẹp, đuôi tròn. Lưng và hai bên hông sậm màu với những đốm đen và màu gạch, bụng màu trắng; đầu to như đầu rắn, gãy khúc, miệng có đủ răng, vảy rất lớn.

- Sinh học: Sống ở miền nhiệt đới, trong môi trường nước ngọt và nước lợ, ở tầng giữa. Độ pH: 7.0 – 8.0; độ cứng: 20; nhiệt độ: 23 – 27 độ C. Thức ăn bao gồm cá, ếch nhái, rắn, côn trùng giun đất, nòng nọc và động vật giáp xác. Di cư từ sông Mekong vào các vùng nước xung quanh, xâm nhập vào vùng ngập lũ theo mùa và trở về nơi cư trú khi mùa khô đến. Cá sống sót qua mùa khô bằng cách tự chôn mình vào bùn ở đáy hồ, kênh và đầm lầy để giữ ẩm cho phổi và tiêu thụ chất béo dự trữ trong cơ thể.

- Nơi sống và sinh thái: cư trú ở ao hồ, các nhánh sông vừa và nhỏ, suối, vùng ngập lũ và các con kênh chảy chậm; ưa thích các cánh đồng nước đục và có bùn; sống trong đầm lầy và các con sông miền đồng bằng. Thường xuất hiện ở độ sâu 1 - 2 m, nước tĩnh.

- Phân bố: Việt Nam: cả ba miền; Thế giới: trải dài từ Pakistan đến miền nam Trung Quốc.

2. Cá chuối
- Sinh học: sống ở miền nhiệt đới, trong môi trường nước ngọt, ở tầng giữa. Thức ăn gồm động vật giáp xác, côn trùng cỡ lớn, ếch nhái và cá.


- Nơi sống và sinh thái: Cư trú nơi có đáy bùn và thực vật nổi ở sông hay hồ.

- Phân bố: Việt Nam: miền Bắc, lưu vực sông Hồng; Thế giới: miền Nam Trung Quốc. Loài này cũng du nhập vào Đài Loan, Nhật Bản và Philippin.

3. Cá lóc bông
- Mô tả: Cá trưởng thành có một sọc to và đậm dọc theo thân, cá non có hai sọc màu cam dọc theo thân.


- Sinh học: sống ở miền nhiệt đới, trong môi trường nước ngọt, ở tầng giữa, nhiệt độ thích hợp: 25 - 28 độ C. Thức ăn chủ yếu là cá, đôi khi ăn cả động vật giáp xác.

- Nơi sống và sinh thái: cư trú ở vùng trũng và đầm lầy; sống ở vùng nước sâu; trong các dòng chảy và kênh lớn nước tĩnh hay chảy chậm.

- Phân bố: Việt Nam: đồng bằng sông Cửu Long; Thế giới: Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaysia và Indonesia.

4. Cá lóc môi trề
Đây là loài chưa được mô tả và đặt tên chính thức. Tuy nhiên, cá lóc môi trề được nuôi rất phổ biến ở những vùng ngập lũ như An Giang và Đồng Tháp. Cá lóc môi trề có bề ngoài tương tự như cá lóc đen nhưng đuôi có màu phớt xanh, đặc biệt môi dưới trề ra đặc điểm này lộ rõ ở những cá thể trưởng thành.


5. Cá lóc nhím
Là con lai giữa cá lóc môi trề và cá lóc đen, đây là loài cá được nuôi phổ biến và được ưa chuộng trên thị trường.


III. Kỹ thuật nuôi
1. Chọn địa điểm nuôi
- Đảm bảo nguồn nước tốt, cấp thoát nước một cách chủ động. Có thể sử hoặc nước ao hồ, sông để nuôi cá, nếu sử dụng nguồn nước ngầm thì tốt nhất nên có bể lọc.

- Bể nuôi nên xây gần nhà để tiện trong việc chăm sóc và quản lý và bảo vệ.

- Chọn những vùng đất ít bị ảnh hưởng của lũ lụt.

2. Xây dựng bể nuôi
- Diện tích bể nuôi từ 10 – 100 m2 tùy theo điều kiện từng gia đình.

- Nếu bể nuôi có diện tích lớn thì nên ngăn ra thành các bể nhỏ để tiện chăm sóc và có thể tách riêng cá theo từng cỡ để nuôi khi cá phân đàn.

- Bể nuôi có độ sâu từ 1 – 1,5 m. Có thể xây bể nổi hoặc bể chìm. Xây bể chìm thì bể sẽ chắc chắn hơn và nhiệt độ nước trong bể nuôi ổn định hơn so với bể nổi hoàn toàn trên mặt đất. Tuy nhiên chỉ xây bể chìm khoảng 1/2 - 1/3 chiều cao của bể, nếu xây chìm quá thì sẽ khó thoát nước và bể nuôi dễ bị ngập khi xảy ra mưa lụt.

- Đáy bể nên nghiêng về cống thoát nước để có thể thoát nước được dễ dàng. Đặt ống thoát nước kết hợp luôn với chống tràn để chống ngập nước khi có mưa lớn.

- Xung quanh bể rào lại bằng lưới hoặc phên tre đan để cá lóc ngăn cá lóc nhảy ra ngoài và tránh bị ngập lụt vào mùa mưa lũ.

- Ao nuôi có thể sử dụng mái che hoặc dùng lưới che để giảm nắng giảm nhiệt độ nước ao nuôi vào mùa nắng.

3. Xử lý bể trước khi nuôi
a) Đối với bể mới xây:
- Dùng phèn chua hoặc dùng thân chuối chát xắt nhỏ cho nước vào đầy bể xi măng và tiến hành ngâm bể từ 7 – 10 ngày để làm sạch xi măng mới.

- Xả nước ngâm ra và cho nước sạch vào để rửa sạch bể rồi ngâm tiếp bể bằng nước sạch.

- Xả nước và rửa lại bể sau đó cho nước mới vào, bón vôi để ổn định pH, đo các yếu tố môi trường nếu phù hợp thì tiến hành thả cá.

- Tốt nhất đối với bể mới xây nên tiến hành thả cá để thử nước. Sau 3 ngày nếu cá thả thử nước vẫn sống tốt thì tiến hành thả giống.

b) Đối với bể cũ:
- Chỉ cần ngâm bể bằng nước sạch 2 – 3 ngày rồi tiến hành chùi rửa sạch sẽ cho nước vào.

- Bón vôi để ổn định và nâng cao pH, tiến hành đo các yếu tố môi trường nếu phù hợp thì tiến hành thả giống.

4. Lựa chọn con giống
- Ngoại hình cá cân đối, vây, vẩy đầy đủ, không xây xát, màu sắc tươi sáng, bơi lội nhanh nhẹn, không có dấu hiệu nhiễm bệnh.

- Kích cỡ cá thả: Nên thả cá giống đồng cỡ để tránh thả hiện tượng phân đàn, cạnh tranh thức ăn và ăn thịt lẫn nhau. Để hạn chế tỉ lệ hao hụt, người mới nuôi nên thả cá có cỡ khoảng 8 - 10cm.

5. Thả cá giống
- Mật độ thả tùy theo trình độ nuôi của từng gia đình, kích cỡ cá thả, khả năng cung cấp thức ăn ... Tuy nhiên mật độ thả không quá 50 con/m2. Mật độ thả thích hợp từ 10 – 25 con/m2.

- Nên thả cá giống vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát. Tránh thả cá vào lúc trời nắng nóng hoặc trời có mưa to.

- Trước khi thả cá cần ngâm bao cá trong ao từ 10 – 15 phút để cân bằng nhiệt độ nước trong bao cá và ngoài ao. Sau đó cho nước từ từ vào bao cá và để cá tự bơi ra ngoài.

- Để phòng bệnh cho cá, trước khi thả cá cần tắm cho cá bằng nước muối với nồng độ 2 – 3% (với 10 lít nước ta hoà 2 – 3 lạng) trong thời gian từ 5 – 10 phút. Trong thời gian tắm nước muối cần quan sát hoạt động của cá, nếu cá phản ứng mạnh cần thả cá ra ao.

6. Thức ăn và chế độ cho ăn
a) Thức ăn:
- Cá lóc là động vật thịt, rất háu ăn. Trong tự nhiên cá chỉ ăn các mồi động, có tập tính rình bắt mồi.

- Đối với cá lóc nuôi ta có thể sử dụng các loại thức ăn như sau:
+ Các loại cá tạp giá rẻ, tép nhỏ, cua ốc ngoài ruộng đồng.
+ Nên cho cá ăn thêm thức ăn chế biến để khi không có nguồn cá tạp thì có thể sử dụng thức ăn chế biến để thay thế. Thức ăn chế biến bao gồm: cá tạp (hoặc bột cá), cám gạo, bột bắp, bột sắn với hàm lượng đạm trong thức ăn lớn hơn 20%.
+ Có thể sử dụng tép hoặc khuyết khô để làm thức ăn cho cá nếu không có nguồn cá tạp. Sử dụng thức ăn loại này ít làm bẩn nước nhưng giá thành thức ăn sẽ cao và cá chậm lớn hơn.
+ Có thể sử dụng tép hoặc khuyết khô để làm thức ăn cho cá nếu không có nguồn cá tạp. Sử dụng thức ăn loại này ít làm bẩn nước nhưng giá thành thức ăn sẽ cao và cá chậm lớn hơn.
+ Ngoài ra ở những địa phương có nhiều nguồn phân trâu, phân bò có thể kết hợp nuôi giun quế để làm thức ăn bổ sung đạm cho cá nuôi cũng như các động vật nuôi khác.

b) Chế độ cho ăn:
- Nên cho cá ăn ngày 2 lần vào buổi sáng và chiều mát để đảm bảo cho cá phát triển nhanh.

- Thời điểm mới thả giống thức ăn cá tạp cần được xay nhuyễn để vừa với cỡ miệng của cá hoặc hấp chín rồi lấy phần thịt cho cá ăn.

- Khi cá lớn hơn thì chỉ cần cắt cá tạp vừa với cỡ miệng của cá.

- Không sử dụng các loại thức ăn đã ươn thối để cho cá ăn.

- Tốt nhất nên sử dụng sàn ăn để cho cá ăn để có thể điều tiết lượng thức ăn phù hợp và làm giảm ô nhiễm nước trong bể giúp hạn chế thay nước.

- Khẩu phần ăn cho cá hằng ngày sẽ được định lượng cho phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng ở các giai đoạn phát triển của cá.


- Ngoài ra tùy theo điều kiện sức khỏe của cá, điều kiện thời tiết để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.

7. Chăm sóc, quản lý cá nuôi
- Giữ môi trường nước trong sạch, định kỳ 2 - 3 ngày thay nước một lần.

- Hằng tháng tiến hành cân cá để kiểm tra tốc độ sinh trưởng của cá nuôi.

- Nếu có nhiều bể nuôi nên tiến hành phân cỡ cá nuôi riêng từng bể để đảm bảo cá phát triển tốt, hạn chế cạnh tranh thức ăn.

- Sử dụng lưới hoặc phên tre để rào quanh bể cá nuôi tránh trường hợp cá nhảy ra khỏi bể và ngăn không cho cá thoát ra ngoài khi bị ngập lụt

IV. Một số bệnh thường gặp và cách phòng trị
1. Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp
- Xử lý bể cẩn thẩn trước khi thả cá để diệt trừ các mầm bệnh trong bể nuôi.

- Chọn mua cá giống chất lượng cao, không mua cá bị bệnh. Tắm cá bằng nước muối để phòng bệnh trước khi thả.

- Cho cá ăn đầy đủ số lượng và chất lượng để nâng cao sức đề kháng của cá.

- Bón vôi và treo túi vôi đầu nguồn nước cấp để phòng bệnh cho cá.

- Duy trì các yếu tố môi trường thích hợp cho sự phát triển của cá nuôi. Chủ động nguồn nước để thay khi môi trường nuôi bị ô nhiễm

2. Một số bệnh thường gặp
a) Bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn Aeromonas:
* Tác nhân gây bệnh: Do vi khuẩn Aeromonas gây ra.


* Dấu hiệu bệnh lý
- Dấu hiệu đầu tiên là cá kém ăn, bỏ ăn nổi lờ đờ trên tầng mặt. Da cá thường đổi màu tối, cá mất nhớt. Xuất hiện các đốm xuất huyết màu đỏ trên thân, các gốc vây, quanh miệng, râu xuất huyết hoặc bạc trắng. Xuất hiện các vết loét ăn sâu vào cơ, có mùi hôi thối, trên vết loét thường có nấm và kí sinh trùng kí sinh. Mắt lồi đục, hậu môn viêm xuất huyết, bụng có thể chướng to, các vây xơ rách, tia vây cụt dần.

- Cá bị bệnh xoang bụng xuất huyết.

* Phòng và trị bệnh
- Phòng bệnh: Áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp.

- Trị bệnh:
+ Cá giống dùng phương pháp tắm trong thời gian 1 giờ. Oxytetracyline nồng độ 20 – 50 ppm hoặc Streptomycine nồng độ 20 – 50 ppm.

+ Cá thịt dùng phương pháp trộn vào thức ăn để cho ăn. Sulfamid với liều lượng 150 – 200mg/kg cá/ngày.

b) Bệnh nấm thủy mi:
* Tác nhân gây bệnh: Do các loài nấm thủy mi gây ra.

* Dấu hiệu bệnh lý:
- Trên da xuất hiện những vùng trắng xám, có các sợi nấm nhỏ mềm. Sau vài ngày sợi nấm phát triển, đan chéo thành từng búi trắng như bông, có thể nhìn thấy bằng mắt thường.

- Bệnh xuất hiện nhiều ở trong ao nước tù đọng, có nhiều mùn bã hữu cơ, mật độ nuôi dày, cá giống bị xây xát. Vết thương ngoài da do kí sinh trùng, vi khuẩn gây ra.

* Phòng và trị bệnh
- Áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp.

- Trị bệnh: Tắm bằng formol nồng độ 200 – 300 ppm trong 15 – 30 phút hoặc phun xuống ao, bể nuôi 2 lần/tuần với nồng độ 10 – 20 ppm.

c) Bệnh trùng bánh xe Trichodina:
* Tác nhân gây bệnh
- Xuất hiện ở ao nuôi mật độ cao, môi trường bẩn.

- Hình tròn, vận động như bánh xe quay tròn.

- Ký sinh trên da, mang, gốc vây, xuất hiện mùa mưa, nhiệt độ môi trường thấp.

* Biểu hiện: Có nhớt màu trắng hơi đục, nổi đầu nơi nước chảy, ngứa ngáy, nhô đầu lên mặt nước, lắc mạnh đầu, lờ đờ, đảo lộn, chìm xuống đáy, chết.

* Phòng, trị bệnh:
- Biện pháp phòng: Giữ môi trường nuôi luôn sạch, mật độ nuôi không quá dày.

- Cách điều trị:
+ Dùng Sulphat đồng (CuSO4) ngâm, nồng độ 0,5 - 0,7g/m3 nước hoặc tắm cá, nồng độ 2 - 5 g/m3 nước trong 5 – 15 phút.
+ Dùng muối ăn (NaCl) 2 - 3% tắm cá 5 - 15 phút.

d) Bệnh trùng quả dưa:
* Tác nhân gây bệnh: Do trùng quả dưa Ichthyophthiriosis gây ra.

* Dấu hiệu bệnh:
- Ký sinh trên da, mang và vây, bám tập trung phát triển thành các đám hạt màu trắng, nhìn thấy bằng mắt thường.

- Thường gặp cá giống.

* Biểu hiện: Nổi đầu từng đàn trên mặt nước, bơi lờ đờ do trùng bám nhiều ở mang, phá hoại biểu mô mang làm cá ngạt thở.

* Biện pháp phòng, trị bệnh:
- Áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp.

- Không nuôi mật độ dày, không thả lẫn với cá khỏe.

- Trước khi thả dùng hỗn hợp muối ăn (NaCl) và thuốc tím (KMnO4) tắm cho cá, liều lượng 7 kg muối ăn + 4 g thuốc tím/m3, tắm cho cá trong 10 - 15 phút.

7. Thu hoạch cá nuôi
- Thu hoạch cá tránh vào những thời điểm nhiều cá đồng để đảm bảo giá cá bán được cao hơn.

- Sau khi nuôi khoảng 4 tháng ta tiến hành thu tỉa những cá lớn (đạt cỡ 0,5 – 0,6 kg/con) thu hoạch.

- Sau 5 tháng nuôi cá đạt được kích thước thương phẩm (0,5 – 0,6 kg/con) ta tiến hành thu hoạch toàn bộ cá trong bể nuôi.

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2012

Một số lưu ý khi nuôi cá Lóc Bông trong bè

Một số lưu ý khi nuôi cá Lóc Bông trong bè


Một số lưu ý khi nuôi cá lóc bông trong bè by TTKN AG | Mot so luu y khi nuoi ca loc bong trong be
Cá lóc bông (Channa micropeltes) là loài cá sống ở sông, ao, hồ, đầm lầy, ...Tuy sống được ở nhiều vùng sinh thái nhưng ở sông thì tốc độ lớn của cá lóc bông nhanh hơn nhiều. Hình thức nuôi, chủ yếu là nuôi bè. Vì nuôi trong lồng bè nên nguồn nước không thể chủ động, cho nên nếu có dịch bệnh và môi trường xấu xảy ra trong nước sông, thì không thể kiểm soát, khống chế được, gây ra thiệt hại về kinh tế cho người nuôi là không nhỏ. Do đó nuôi cá lóc bông trong lồng bè thì người nuôi cần thực hiện các biện pháp phòng ngừa sau:


- Trước khi nuôi phải vệ sinh lồng bè thật kỹ, dùng bàn chải sắt chà rửa sạch đáy, hai vách bè và hai mặt lưới trước, sau bè để loại bỏ lớp rong bám và mùn bã hữu cơ, công tác vệ sinh này sẽ được thực hiện định kỳ thường xuyên hằng tháng trong suốt vụ nuôi vì sự có mặt của rong bám và mùn bã hữu cơ cũng làm giảm lưu tốc dòng chảy của bè và đây được xem là giá thể lưu trữ mầm bệnh của những vụ nuôi trước lưu lại, nếu không loại bỏ mầm bệnh, dễ lây sang đối tượng nuôi mới.

- Thay hoặc vá lại những tấm gỗ ở đáy và vách bè đã mục yếu, hai mặt lưới trước, sau bè có nguy cơ mất an toàn trong suốt vụ nuôi, kiểm tra hệ thống dây neo đậu, phao nâng, kết cấu của bè để tránh thất thoát cá nuôi do các tác động cơ học của dòng chảy, sóng tàu, mưa bão...

- Cá lóc bông nuôi ở bè cần dòng nước lưu thông thường xuyên. Nên chú ý vào những lúc nước đứng trong thời gian dài, phải dùng máy đạp nước đặt ở đầu bè để tạo dòng nước lưu thông cho cá. Dòng nước chảy quá mạnh, không tốt cho cá vì lúc đó cá sẽ hoạt động nhiều, làm cá mệt, tiêu hao nhiều năng lượng dẫn đến cá chậm lớn hơn bình thường, hiệu quả kinh tế không cao. Do đó khi nước chảy quá mạnh, dùng bạt cao su chắn đầu bè nhằm hạn chế tốc độ dòng chảy.

- Cá lóc bông nuôi trong bè ít bệnh tật, cá chỉ hao hụt nhiều ở giai đoạn mới thả nuôi trong hai tháng đầu, do một số bệnh ký sinh trùng và bệnh đường tiêu hoá. Tuy nhiên các loại bệnh này hoàn toàn có thể hạn chế được nếu chúng ta biết cách chăm sóc hợp lý như trước khi thả cá giống vào bè, phải tắm dung dịch nước muối pha loãng 3 - 4% trong thời gian 3 - 5 phút để tiêu diệt các loài vi khuẩn ngoại ký sinh trên da cá. Do giai đoạn cá giống ương trong ao nước tĩnh nên khi đưa ra ngoài bè, phải luyện cho cá quen với môi trường nước chảy bằng cách dùng bạt cao su chắn đầu bè rồi dần dần mở tấm bạt ra cho cá quen dần với môi trường nước sông. Sau khi thả cá vào bè thì định kỳ mỗi tháng hai lần, treo túi vôi kết hợp với muối trước lồng bè để hạn chế mầm bệnh xâm nhập lên cá. Do cá giống còn nhỏ, bộ máy tiêu hoá tuy có hoàn chỉnh nhưng khả năng tiêu hoá các loại thức ăn cá tạp không như cá trưởng thành, do đó trong các buổi cho ăn hằng ngày, cần trộn men tiêu hoá vào thức ăn để bổ sung một số loài vi khuẩn có lợi trong đường ruột, tăng cường tiêu hoá tốt thức ăn mà cá đã ăn vào đồng thời phải thường xuyên định kỳ bổ sung Vitamin C vào trong thức ăn cho cá trong suốt quá trình nuôi để cơ thể cá nuôi có sức đề kháng tốt, chống lại các tác động xấu của môi trường bên ngoài.

- Thức ăn cho cá cần chú ý là phải chọn thức ăn cá tươi không bị ươn thối. Cá biển làm mồi phải chú ý nguồn cung cấp, vì cá biển có thể được ướp hoá chất làm cho cá tươi nhưng khi cá lóc bông ăn vào thì bị còi cọc, chậm lớn, hệ số chuyển đổi thức ăn cao gây thiệt hại cho người nuôi. Do chi phí đầu tư thức ăn cho cá lóc bông hơn 80% tổng chi phí nuôi nên chúng ta cần đặc biệt chú ý nguồn thức ăn cho cá để đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất trong vụ nuôi.

Thứ Hai, 14 tháng 5, 2012

Mô hình nuôi cá Lóc bằng thức ăn công nghiệp

Mô hình nuôi cá Lóc bằng thức ăn công nghiệp


Mô hình nuôi cá lóc bằng thức ăn công nghiệp by KNVN | Mo hinh nuoi ca loc bang thuc an cong nghiep

Gần đây, phong trào nuôi cá lóc thương phẩm ở Bình Thuận phát triển mạnh, mang lại hiệu quả kinh tế ổn định cho người dân địa phương. Tuy nhiên, đối với nghề nuôi cá lóc hiện nay, khó khăn lớn nhất là quản lý nguồn nước và nguồn thức ăn cá tạp tươi đảm bảo chất lượng và số lượng.


- Vào mùa gió bấc (thường kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau) nguồn cá biển khan hiếm và giá lúc này cũng tăng cao nhiều so với vụ cá nam (thường kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9). Bên cạnh đó, Bình Thuận không phải là một tỉnh có nguồn nước ngọt dồi dào như các tỉnh miền Tây Nam bộ, do đó cá lóc chỉ phù hợp với một số địa điểm - nơi có nguồn nước ngọt dồi dào quanh năm - để thuận lợi cho việc thay nước hàng ngày trong ao cá.

- Ngoài ra, việc cho ăn bằng thức ăn tươi sống gây ô nhiễm nhanh chóng nguồn nước trong ao, và để giảm thiểu tình trạng cá bệnh người nuôi phải thay nước hàng ngày hoặc cho nước vào ra liên tục trong ao. Một số vùng nuôi không có điều kiện nguồn nước thuận lợi, việc nuôi cá lóc trở nên rất khó khăn do cá thường xuyên bị bệnh, việc sử dụng các loại thuốc kháng sinh, hóa chất diệt khuẩn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người tiêu dùng. Bên cạnh đó, do chất lượng cá tạp phải đảm bảo tươi nên hàng ngày người dân phải đi mua cá về sau đó tiến hành sơ chế (rửa, xay hoặc chặt...) rồi mới cho cá ăn. Công việc này tốn nhiều thời gian, công sức và tiền của người dân.

- Để góp phần nâng cao hiệu quả trong quá trình sản xuất của người dân, tháng 8/2011, Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Bình Thuận đã thực hiện mô hình “Nuôi cá lóc bằng thức ăn công nghiệp” với quy mô 500m2 tại hộ ông Châu Minh Tâm, xã Vĩnh Hảo, huyện Tuy Phong. Mô hình nghiệm thu ngày 26/12/2011. Qua gần 4 tháng nuôi cá đạt cỡ trung bình 420g/con, tỷ lệ sống đạt 60%. Kết quả cho thấy cá lóc thích nghi tốt với điều kiện môi trường, nguồn nước khu vực nuôi. Cá lóc cũng thích nghi tốt với thức ăn công nghiệp và đạt tốc độ tăng trưởng tốt.

1. Chuẩn bị ao nuôi
- Diện tích ao nuôi: 2.000 - 5.000m2. Diện tích lớn sẽ tương đối khó khăn trong việc quản lý và chăm sóc cá.

- Đối với ao mới phải súc rửa ao bằng cách cho nước vào ao ngâm khoản 2 - 3 ngày sau đó xả bỏ rồi tiếp tục cấp nước vào ngâm rồi xả bỏ. Tiến hành quá trình súc rửa trên ít nhất 2 - 3 lần trước khi thả giống để có môi trường ao nuôi ổn định cho cá phát triển.

- Đối với ao đã qua sử dụng: Xả cạn nước ao, súc rửa hoặc sên vét bùn cho sạch. Gia cố bờ, cống, lưới rào ao đề phòng địch hại như ếch, rắn, chim cò ăn cá. Chích điện hoặc dùng Saponin (10kg/1.000m2) để diệt cá tạp còn sót trong ao. Bón vôi với lượng tùy thuộc vào độ phèn của đất. Sau đó phơi ao 5 - 7 ngày thì cấp nước vào.

- Đối với những ao phèn thì không tháo sạch nước để tránh xì phèn.

- Cấp nước vào ao qua lưới lọc để tránh cá tạp và địch hại vào ao ăn cá. Mực nước cấp vào từ 0,6 - 0,8m. Gây màu nước bằng hỗn hợp cám gạo (1kg) + Bột đậu nành (1kg) hòa với nước ngâm qua đêm tạt đều cho 1.000m2. Ngày tạt 2 lần, tối ngâm thì sáng tạt, sáng ngâm thì chiều (16 - 17h) tạt. Bổ sung thêm mỗi ngày 2kg cá tạp nấu chín xay nhuyễn tạt đều ao để màu nước lên tốt hơn. Sau 2 - 3 ngày màu nước lên tốt thì tiến hành thả cá giống. Cũng có thể gây màu nước bằng nhiều cách khác như sử dụng phân hóa học, phân chuồng hoặc chế phẩm sinh học gây màu nước.

2. Thả giống
- Mật độ nuôi: Cá lóc là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao tuy nhiên chi phí cho vụ nuôi tương đối lớn, do đó tùy thuộc vào điều kiện nguồn nước, ao hồ và kinh tế gia đình mà người dân quyết định mật độ nuôi thưa hay dày. Thường cá lóc được nuôi ở mật độ 20 - 30con/m2. Ao có nguồn nước không thật thuận lợi thì chỉ nên nuôi mật độ thưa không quá 10con/m2.


- Mùa vụ thả giống: Do chủ động về nguồn thức ăn nên người nuôi có thể thả giống quanh năm, tùy điều kiện nguồn nước, nguồn giống và tính toán giá thành sau thu hoạch. Mùa vụ chính thả giống là từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm, lúc này nguồn cá giống và nguồn nước cũng dồi dào tuy nhiên giá thương phẩm sau thu hoạch thường thấp hơn so với vụ nghịch do sản lượng thu hoạch dồi dào từ nhiều địa phương.

- Chọn giống: Con giống đồng đều về kích cỡ, khỏe mạnh, màu sắc sáng đẹp, thân hình
cân đối, không mang các dấu hiệu nhiễm bệnh. Tốt hơn hết người dân nên chọn mua tại các cơ sở sản xuất uy tín.

3. Thức ăn và cách cho ăn
a. Trường hợp cho cá ăn bằng cám công nghiệp ngay từ nhỏ:
Do cá giống mới thả còn nhỏ, chưa quen với việc ăn bằng cám viên công nghiệp nên việc tập cho cá chuyển đổi loại thức ăn cần tiến hành theo các bước sau:

- Giai đoạn tập ăn 1: Tập cho cá quen với mùi vị thức ăn công nghiệp:
+ Cá giống mới thả: Khẩu phần thức ăn hàng ngày bằng 10% trọng lượng đàn cá. Phối trộn theo tỷ lệ: 70% cá tạp tươi + 30% cám công nghiệp. Nếu là dạng cám bột thì trộn vào chung với cá tạp theo tỷ lệ trên rồi xay nhuyễn, trường hợp cám viên thì ngâm qua nước cho mềm sau đó trộn chung với cá tạp tươi rồi xay nhuyễn.
+ Hỗn hợp thức ăn sau khi xay nhuyễn được cho vào sàng để cá vào ăn.
+ Mỗi ngày tăng 10% lượng cám công nghiệp trong tỷ lệ phối trộn cho đến khi đạt tỷ lệ 50% cá tạp + 50% cám công nghiệp thì chuyển sang giai đoạn tập ăn cám viên.

- Giai đoạn tập ăn 2: Tập cho cá quen ăn thức ăn dạng viên:
+ Sau khoản 5ngày tập, cá ăn quen với mùi vị cám công nghiệp thì tiếp tục tập cho cá ăn dạng thức ăn viên.
+ Cách thực hiện: Trộn thêm 5% cám công nghiệp dạng viên (trong tổng lượng thức ăn cho cá ăn hàng ngày). Ban đầu cám nên được ngâm nước trước cho mềm rồi trộn chung với hỗn hợp thức ăn đã xay nhuyễn của giai đoạn tập ăn 1. Hỗn hợp thức ăn trên được rải xuống sàng để cho cá ăn. Ban đầu có thể cá chưa quen sẽ nhả các hạt thức ăn viên ra, trường hợp như vậy cần tập tiếp với tỷ lệ phối trộn như trên thêm 2 - 3ngày nữa cho đến khi cá không còn nhả các viên thức ăn ra nữa thì thôi.
+ Những ngày sau đó thì lượng cám viên tiếp tục tăng lên 10%/ngày đồng thời thời gian ngâm nước cũng ngắn dần cho đến khi không ngâm nữa (cho cá ăn quen với thức ăn viên cứng). Khi thấy cá đã hoàn toàn quen với việc ăn thức ăn viên thì chuyển hoàn toàn sang cho ăn bằng thức ăn viên công nghiệp.

- Giai đoạn cho ăn hoàn toàn bằng cám viên:
+ Từ tháng thứ hai đến khi thu hoạch: Cá đã ăn quen cám viên thì cho ăn hoàn toàn bằng cám viên. Khẩu phần thức ăn dao động từ 3 - 7% trọng lượng thân, tùy giai đoạn phát triển của cá. Do chất lượng của từng loại cám viên khác nhau vì vậy người dân nên cho ăn theo hướng dẫn của nhà sản xuất để đạt hiệu quả tốt nhất.
+ Ở giai đoạn này thức ăn được rải trực tiếp xuống ao cho cá ăn, không còn cho ăn trong sàng nữa.

b. Trường hợp tập cho cá ăn bằng cám công nghiệp khi cần thiết:
Do tập tính tạp ăn của cá người dân hoàn toàn có thể chuyển đổi linh hoạt trong việc sử dụng thức ăn công nghiệp và cá tạp vào bất cứ lúc nào trong suốt vụ nuôi nhằm chủ động về nguồn thức ăn đồng thời giảm chi phí về thức ăn. Đối với cá đã nuôi thương phẩm trên 1tháng, việc tập cho cá chuyển sang ăn cám viên công nghiệp là tương đối dễ dàng, giúp người dân hoàn toàn chủ động về thức ăn cho cá. Bỏ cá nhịn đói 1ngày sau đó trộn cám viên đã ngâm nước với cá tạp đã xay nhuyễn theo tỷ lệ 70% cá tạp + 30% cám viên. Các bước thực hiện được tiến hành như giai đoạn tập ăn 2. Sẽ chỉ mất từ 3 - 5ngày để cá quen với việc ăn bằng thức ăn viên công nghiệp.

4. Chăm sóc và quản lý
- Theo dõi tình trạng ăn mồi, thời tiết và sức khỏe của cá hàng ngày để tăng hoặc giảm lượng thức ăn cho phù hợp. Cho ăn theo hướng dẫn của nhà sản xuất, không cho ăn quá nhiều tránh tình trạng cá bị chướng bụng chết.

- Do cho ăn bằng cám công nghiệp nên môi trường nước cũng ít ô nhiễm hơn nhiều so với nuôi bằng cá tạp. Tuy nhiên, đối với vùng nuôi có nguồn nước ngọt ra vào chủ động thì cho nước ra vào ao thường xuyên hàng ngày để kích thích cá ăn mồi và phát triển. Đối với những vùng không có điều kiện nguồn nước dồi dào nên tiến hành thay nước 2 - 3 tuần 1 lần tùy tình trạng môi trường và sức khỏe cá trong ao, đồng thời định kỳ 7 - 15 ngày bổ sung chế phẩm sinh học giúp phân hủy chất thải, khí độc và ổn định môi trường ao nuôi.

- Đảm bảo từng khâu trong quy trình khuyến cáo, mô hình có thể áp dụng được rộng rãi tại tất cả các vùng nuôi thủy sản nước ngọt trong tỉnh, góp phần giải quyết khó khăn trong việc quản lý nguồn nước và đảm bảo nguồn thức ăn cá tạp tươi trong quy trình nuôi truyền thống.

- Việc sử dụng thức ăn công nghiệp thay thế cho thức ăn cá tạp trong quy trình nuôi cá lóc thương phẩm có nhiều ưu điểm so với quy trình nuôi truyền thống sử dụng thức ăn cá tạp:

- Không tốn nhiều công sức để đi mua và sơ chế trước khi cho ăn, giảm hẳn chi phí thuê nhân công.

- Nguồn cung cấp và chất lượng thức ăn luôn chủ động và ổn định.

- Giảm hẳn chi phí cho việc bổ sung các loại thuốc bổ giúp cá nâng cao sức đề kháng và tiêu hoá tốt do trong thức ăn công nghiệp các thành phần trên đã được tính toán phối trộn cẩn thận theo nhu cầu của cá.

- Ít gây ô nhiễm nguồn nước do đó giảm nhu cầu sử dụng nguồn nước và giảm tình trạng cá nhiễm bệnh do môi trường bị ô nhiễm mà không có nước thay.

- Giảm hẳn việc sử dụng kháng sinh và hoá chất trong quá trình nuôi.

- Mô hình nuôi thích hợp với những vùng nuôi xa nguồn cung cấp cá tạp và có nguồn nước không thật thuận lợi.

Thứ Sáu, 11 tháng 5, 2012

Mô hình nuôi cá Lóc trong ao đất

Mô hình nuôi cá Lóc trong ao đất


Mô hình nuôi cá lóc trong ao đất by NS 24h | Mo hinh nuoi ca loc trong ao dat

Nuôi cá lóc rất đa dạng, có thể trong ao, vèo, bể bạc, bể xi măng hay trong mương vườn, ao đất tùy theo điều kiện của người nuôi.


- Diện tích ao sử dụng nuôi khoảng 100 - 2.000m2, ao hình chữ nhật để tiện việc chăm sóc quản lý và thu hoạch. Bờ ao phải vững chắc tránh bị sạt lở và không bị ngập nước vào mùa lũ.

- Cá giống chọn đều cỡ, không bị dị tật, bóng mượt, không xây xát. Nên thả nuôi với mật độ vừa phải để dễ quản lý, hạn chế dịch bệnh xảy ra. Nếu không gian chật hẹp, cá sẽ chậm lớn và hao đầu con ảnh hưởng đến chi phí nuôi cũng như hệ số tiêu tốn thức ăn sẽ tăng cao. Mật độ thả nuôi từ 30 - 100 con/m2 (thích hợp 40 - 60 con/m2). Cá lóc là loài cá dữ và ăn tạp.

- Hiện nay đã có thức ăn dành cho cá lóc nhằm cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho từng giai đoạn phát triển của cá. Ở giai đoạn cá nhỏ có thể sử dụng sàn ăn để tập cho cá ăn nhằm kiểm soát thức ăn. Chia thức ăn ra nhiều lần, giúp cá ăn nhanh và triệt để hơn. Trong tháng đầu tiên, người chăn nuôi nên cho cá ăn tạp trộn với thức ăn xay nhuyễn. Định khẩu phần ăn phù hợp, tránh lãng phí và ô nhiễm ao nuôi.

- Thức ăn thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của nó, có thể tham khảo theo bảng sau:


- Thay nước ao định kỳ 2 tuần/lần, không để màu nước có nhiều bọt khí và màu xanh đậm. Thường xuyên vệ sinh ao. Thức ăn đủ nhu cầu, hợp lý, không để dư thừa.

- Tăng cường sức đề kháng cho vật nuôi định kỳ bằng cách bổ sung Vitamin C và khoáng chất cho cá, giúp cá có đề kháng tốt trong điều kiện môi trường thay đổi và khả năng hạn chế dịch bệnh cao.

- Thường xuyên treo giỏ thuốc ở đầu cống cấp nước giúp phòng bệnh cho cá. Không dùng thuốc kháng sinh để phòng bệnh cho cá.

- Đến thời điểm thu hoạch, đối với cá lóc đầu vuông từ 3,5 - 4,5 tháng thu hoạch: 0,7 - 1kg/con, cá lóc đầu nhím: 5 - 6 tháng thu hoạch: 0,7 - 1,2kg/con. Người nuôi cá lóc còn phải đặc biệt lưu ý, trước khi thu hoạch cá 2-3 ngày ngừng cho cá ăn. Vì cho ăn khi thu hoạch, cá sẽ dễ bị chết.

Thứ Năm, 10 tháng 5, 2012

Kỹ thuật nuôi cá Lóc Đồng

Kỹ thuật nuôi cá Lóc Đồng (Channa striata Bloch, 1793)


Hiện nay cá lóc cá lóc được nuôi phổ biến trong các ao và bè gồm các loài sau: cá Lóc bông Channa micropletes, cá Lóc đen C. striata và cá Lóc môi trề Channa sp. Cá lóc là đối tượng nuôi quan trọng và là nguồn thực phẩm tốt cho người dân.

I. Đặc điểm sinh học
1. Phân bố và thích nghi


- Cá lóc sống phổ biến ở đồng ruộng, kênh rạch, ao hồ, đầm, sông, thích nghi được cả với môi trường nước đục, tù, nươc lợ, cóthể chịu đựng được ở nhiệt độ trên 30 độ C. Cá thích ở nơi có rong đuôi chó, cỏ, đám bèo, vì ở nơi đây cá dể ẩn mình rình mồi. Vào mùa hè cá thường hoạt động và bắt mồi ở tầng nước mặt. Mùa đông cá hoạt động ở tầng nước sâu hơn.

- Cá lóc là loài cá dữ có kích thước tròn dài. Lược mang dạng hình núm. Thực quản ngắn, vách dầy, bên trong thực quản có nhiều nếp nhăn. Dạ dày to hình chử Y. Cá là loài cá dữ, ăn động vật điển hình. Quan sát ống tiêu hóa của cá cho thấy cá chiếm 63,01%, tép 35,94 %, ếch nhái 1,03 % và 0,02 % là bọ gạo, côn trùng và mùn bã hữu cơ.

2. Đặc điểm sinh sản
- Cá lóc 1 - 2 tuổi bắt đầu đẻ trứng, mùa vụ sinh sản từ tháng 4 - 8, tập trung vào tháng 4 - 5. Cá thườngf đẻ vào sáng sớm sau những trận mưa rào một hai ngày nơi yên tỉnh có nhiều thực vật thủy sinh. Ở nhiệt độ 20 – 35 độ C sau 3 ngày trứng nở thành cá bột, khoảng 3 ngày sau cá tiêu hết noãn hoàng và bất đầu ăn được thức ăn tự nhiên bên ngoài.

- Sau khi nở, luân trùng Brachionus plicatilis được xem là thức ăn đầu tiên tốt nhất của cá bột. Ngoài ra chó thể cho ăn nấm men, lòng đỏ trứng hay thức ăn tổng hợp dạng bột. Giai đoạn kế tiếp cho ăn trứng nước (Moina), Daphnia hay trùng chỉ, ấu trùng muổi đỏ. Giai đoạn cá giống, sâu gạo và dòi là thức ăn ưa thích của cá. Một số thí nghiệm trên cá bột cho thấy cá có khả năng sử dụng thức ăn trứng nước kết hợp với đạm đơn bào.

- Moina vẫn là thức ăn tốt nhất đối với cá bột trong 3 tuần lễ đầu. Rhizopus arrhizus hay đạm đơn bào (125µm) được sản xuất từ kỹ thuật lên men sử dụng dầu cọ làm nguồn carbon chính. Giai đoạn cá lớn thường cho ăn cá tạp, phụ phế phẩm từ các nhà máy chế biến đầu tép, tôm, ếch, cá hay thức ăn chế biến và thức ăn viên. Cá lớn nhanh vào mùa xuân - hè.

II. Kỹ thuật sản xuất giống cá Lóc
Cá Lóc bố mẹ sau khi nuôi vỗ thành thục, có thể dung hormone HCG hay não thuỳ thể cá Chép để kích thích cá sinh sản. Thông thường liều dung cho cá Lóc sinh sản hiệu quả là HCG với lượng dao động từ 3.000 – 4.000 UI/kg cá sinh sản.

III. Kỹ thuật nuôi thương phẩm cá lóc
1. Ương cá giống
- Ương trong giai: Cá lóc đẻ tự nhiên trong ao hồ, đầm lầy. Mùa vớt cá giống từ tháng 5 - 7. Dùng vợt , te xúc trong thời gian cá con tập trung thành đàn. Cá con bắt đem về ương trong giai rộng 4 x 2 x 2 m, mật độ thả 70 con /m2. Cho ăn bằng cách nấu cháo thật nhừ trộn một ít cá tươi xay nhuyển và lòng đỏ trứng vịt luộc chín cho cá ăn ngày 3 - 4 lần. Trước khi cho ăn phải kiểm tra thức còn thừa hay thiếu để điều chỉnh cho phù hợp, cứ hai tuần trộn thêm Vitamin C và kháng sinh vào thức ăn để phòng bệnh cho cá, 1 - 2 tuần phải vệ sinh giai ương 1 lần. Sau hai tháng cá sẻ đạt trọng lượng 20g/con.


- Ương cá Lóc trong ao đất: Diện tích ao: 100 - 300 m2, ao sâu 0,8 - 1m. Ao cần tẩy dọn sạch, bón lót phân gây màu nước trước khi ương để gây động vật phù du làm thức ăn ban đầu, mỗi tuần cần bón thúc 1 lần phân ủ mục. Mật độ ương từ 30 - 40 con/m2. Từ ngày thứ 20 trở đi cho cá ăn bằng cá tạp, tép băm nhỏ là chính. Cần cho cá ăn đều, no, đủ, cứ 10 - 15 ngày san thưa và lọc cá một lần.

2. Nuôi cá lóc thương phẩm
2.1 Nuôi cá lóc trong giai đặt trong ao đất
- Mùa vụ nuôi: Do nguồn cá giống còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, nên mùa vụ thả nuôi phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết hàng năm. Thông thường mùa vụ nuôi tập trung từ tháng 5 đến tháng 9, trong đó tập trung nhiều nhất vào tháng 7 và tháng 8.

- Giống nuôi: Giống cá lóc chọn thả nuôi phải có kích cở đồng đều, khỏe mạnh, nhiều nhớt, không bị thương tích hay bệnh tật. Cở cá giống phải đạt từ 20 - 30g/con, trong giai đặt ở ao đất mật độ thả từ 60 - 90 con/m3 là tốt nhất.

- Thức ăn: Thành phần thức ăn: Cá lóc là loài cá ăn động vật, thành phần thức ăn bao gồm nhiều loại động vật tươi sống như: cá, tép, ếch nhái... Trong quá trình nuôi, có thể tập luyện cá giống quen dần với loại thức ăn chế biến từ cá nguồn nguyên liệu địa phương như cá tạp tấm cám, bắp, và VitaminC...có hàm lượng protein cao hơn 20 % hoặc sử dụng thức ăn công nghiệp hay thức ăn tự chế biến để nuôi cá.

- Khẩu phần ăn: Khẩu phần thức ăn cho cá hàng ngày sẽ được định lượng cho phù hợp với các nhu cầu dinh dưỡng và tình hình sức khỏe ở các giai đoạn phát triển của cá có thể tóm tắt ở bảng sau:

Khẩu phần thức ăn cho cá Lóc (% so với trọng lượng cá thả nuôi)


- Cách cho cá Lóc ăn: Thông thường ở thời điểm đầu thả giống, do kích thước cá còn nhỏ, thức ăn cần được xay nhuyễn; đến khi cá lớn, thức ăn có thể cung cấp trực tiếp vào bè nuôi. Việc dùng sàn cho cá ăn được kẳng định mang lại hiệu quả cao trong quá trình nuôi.

- Chăm sóc và quản lý: Hoạt động chăm sóc và quản lý cá lóc cần phải được thực hiện thường xuyên. Các hoạt động này bao gồm: kiểm tra giai ( hệ thống dây, lưới...) và tình hình sức khỏe của cá nuôi, vệ sinh giai tránh rong bám nhiều gây mùi hôi thối.

- Thu hoạch: Để đạt kích thước thương phẩm, thời gian nuôi cá Lóc thường ít nhất là 6 tháng, thông thường là 7 - 8 tháng. Trọng lượng cá khi thu hoạch có thể đạt kích cở trung bình 1,2 - 1,5 kg/con. Trước khi thu hoạch 1-2 ngày không nên cho cá ăn nhằm hạn chế cá bị chết trong quá trình vận chuyển. Khi thu hoạch có thể dùng vợt nhằm hạn chế cá bị sây sát. Vợt thu hoạch cá phải không có gút, các phương tiện khác phải nhẳn. Sau khi thu hoạch có thể dùng ghe đục hoặc thùng chứa để vận chuyển.

2.2 Kỹ thuật nuôi cá lóc trong ao đất
- Kỹ thuật nuôi cá lóc ở ao đất chưa được phổ biến nhiều ở Việt Nam. Tuy nhiên ở một số nước Châu Á khác nghề nuôi cá lóc trở thành một hoạt động thông thường đối với nghề nuôi thủy sản nước ngọt.

- Trong quá trình nuôi, để góp phần nâng cao năng suất, các giải pháp kỹ thuật thông thường cần chuẩn bị tốt ao nuôi tránh cá thất thoát.

- Chuẩn bị ao
+ Diện tích ao: 100 - 1000 m2, độ sâu: 1,5 - 2 m, nhiệt độ 23 – 32 độ C, pH
6.5 - 8.
+ Ao được cải tạo, dọn dẹp môi trường xung quanh, xãm lổ mọi, cống bọng chắc chắn. Bờ bao phải cao hơn đỉnh lủ cao nhất 0,5m. Dùng lưới chắn hoặc đăng tre cao 0,8 - 1m để tránh cá nhảy ra ngoài.
+ Mật độ thả nuôi: Mật độ nuôi trung bình 30 - 50 con/m2, không nên nuôi quá dày ảnh hưởng đến sức lớn của cá. Mật độ nuôi tùy thuộc vào kích cở cá giống thả, có thể thực hiện theo bảng đề nghị sau:

Mật độ nuôi cá Lóc trong ao đất


- Cho ăn và quản lý chăm sóc
+ Thức ăn giống như ở nuôi cá bè, khẩu phần ăn 5 - 7 % trọng lượng cá.
+ Dùng sàng để cho cá ăn và dể theo dõi cá. Ngày cho ăn hai lần vào buổi sáng và buổi chiều.
+ Thường xuyên kiểm tra hệ thống công trình nuôi và hoạt động của cá. Theo dõi sự biến động chất lượng nước trong ao nuôi, cần giữ nước sạch, định kỳ 2-3 tuần thay nước một lần. Nếu có điều kiện thì cho nước lưu thông nhẹ thường xuyên.

2.3 Phòng và trị bệnh cho cá nuôi
- Cần định kỳ 15 ngày/lần sát trùng ao nuôi bằng vôi bột với liều lượng 2 - 4 kg/100m2, vôi được hoà tan và lấy nước trong tạt đều khắp ao để phòng bệnh cho cá.

- Một số bệnh thường gặp
+ Bệnh gió: Triệu chứng cá lồi mắt, bơi lờ đờ ở ven bờ. Dùng khoảng 200g lá trầu ăn, 200g cỏ mần trầu giã lấy nướctrộn với 150 ml dầu lửa và trộn đều vào thức ăn để cho cá ăn, xác bã rãi đều xuống ao.
+ Bệnh đỏ xoang miệng: Dùng cỏ mực giã nát vắt lấy nước trộn thức ăn cho cá ăn, xác bã rãi xuống ao.
+ Bệnh ghẻ lở: Dùng Tetracyline trộn vào thức ăn cho cá ăn.2.4

2.4 Thu hoạch
Hạ mực nước ao còn khoảng 40 – 50 cm, lấy lưới kéo đánh bắt dần. Khi thu hoạch toàn bộ thì phải tát cạn. Chu kỳ nuôi kéo dài, ít nhất là 5 - 6 tháng, trọng lượng trung bình 0,8 – 1 kg/con.

Kỹ thuật nuôi cá lóc đồng, Nguồn: Ts. Dương Nhựt Long - Khoa Thủy sản – Đại học Cần Thơ.

Thứ Ba, 3 tháng 4, 2012

Mô hình nuôi cá Lóc thương phẩm

Mô hình nuôi cá Lóc thương phẩm


Mô hình nuôi cá lóc thương phẩm by LG | Mo hinh nuoi ca loc thuong pham

I. Mô hình nuôi trong giai đặt ở ao đất
1. Mùa vụ


Mùa vụ nuôi phụ thuộc vào việc sản xuất con giống. Nguồn cá giống phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, thông thường nguồn cá giống xuất hiện tập trung vào tháng 7 – 8. Do vậy, mùa vụ nuôi cũng tập trung vào những tháng này.

2. Kích cỡ giống và mật độ nuôi
Cần chọn lựa giống có kích cỡ đồng đều, khỏe mạnh, không bị sây sát, không bị mất nhớt. Cá giống cần đạt kích cỡ 20 – 30g/con. Mật độ thả 70 – 90 con/m2.

3. Thức ăn cho cá
Cá lóc là loài ăn động vật, cá có thể sử dụng nhiều loại thức ăn như: cá, tép, ếch nhái….Trong quá trình nuôi có thể tập cho cá quen dần với thức ăn tự chế với nguồn nguyên liệu là cá tạp, tấm, cám, bắp….hoặc thức ăn công nghiệp. Khẩu phần ăn cho cá có thể định lượng theo bảng sau:


4. Cho cá ăn
Trong giai đoạn đầu thả giống, do kích thước cá còn nhỏ, thức ăn cần được xay nhuyễn, khi cá lớn thức ăn không cần xay nhuyễn và được cung cấp cho cá trong giai hoặc ao nuôi qua sàn ăn.


5. Chăm sóc và quản lý
Việc chăm sóc và quản lý được tiến hành thường xuyên như kiểm tra hệ thống dây- lưới, theo dõi hoạt động của cá, vệ sinh giai….

II. Mô hình nuôi trong ao đất
1. Chuẩn bị ao
Diện tích ao nuôi trung bình từ 100 – 1.000m2. Ao nuôi được cải tạo và vệ sinh trước khi nuôi. Dùng lưới hoặc đăng tre chắn xung quanh để phòng tránh cá nhảy ra ngoài. Mật độ thả cá 30 – 50 con/m2.

2. Cho cá ăn và quản lý
Thức ăn dùng cho cá nuôi trong ao đất tương tự như thức ăn cho cá nuôi trong giai. Thức ăn được đặt trong sàn cho cá ăn.

III. Mô hình nuôi trên bể lót bạt
1. Chuẩn bị bể
Tùy theo diện tích của mỗi hộ gia đình mà xây dựng bể có quy mô khác nhau.
- Vị trí đặt bể nên bố trí gần sông để thuận tiện cho việc thay nước, nên xây dựng bể lót bạt để chi phí đầu tư thấp và thuận tiện cho việc thay đổi thiết kế sau này nhất là chuyển đổi đối tượng nuôi khác.

- Bể thường được xây dựng theo hình chữ nhật, chiều cao bể khoảng 1,2m. Dùng tràm để làm các trụ, rào đăng tre xung quanh, trải bạt nhựa màu tối để tạo điều kiện sống gần giống như tự nhiên và sử dụng lưới cước rào trên mặt bể để tránh cá nhảy ra ngoài. Đáy bể nên thiết kế sao cho nghiêng về một phía để dễ dàng tháo nước. Đặt cống thoát nước sát đáy bể và đầu cống có lưới chắn để không cho cá ra ngoài.

- Mực nước trung bình trong bể là từ 0,8 – 1m.

- Cần có hệ thống máy bơm nước để cung cấp nước khi cần thay nước.

2. Cho ăn và quản lý
Thức ăn dùng cho cá nuôi trong ao đất giống như thức ăn cho cá nuôi trong giai và ao đất. Thức ăn được đặt trong sàn ho cá ăn.

3. Xử lý môi trường nước trong bể nuôi
Cá lóc nuôi trên bể môi trường nước rất dễ nhiễm bẩn cần được thay nước thường xuyên. Lúc cá còn nhỏ số lần thay nước sẽ ít hơn so với cá lớn. Định kỳ xử lý vôi cho nguồn nước trong bể nuôi từ 7 - 10 ngày/lần với 2 - 3kg vôi/100m3. Trong quá trình nuôi nếu có hiện tượng nhiễm nấm, ký sinh trùng nên dùng các hóa chất diệt ký sinh trùng như Fresh water ( Cty Vemedim, Cần Thơ)….liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất để xử lý rất hiệu quả.

IV. Mô hình nuôi ghép
1. Nuôi ghép với cá Rô phi
Dùng cá Rô phi làm thức ăn cho cá lóc. Mật độ thả 0,5 – 1 con/m2. Qua 4 tháng nuôi cá giống cỡ 80 – 100g/con đạt trung bình 350g/con. Tính trung bình cứ 4kg cá Rô phi con được 1 kg cá lóc thịt.

2. Nuôi ghép với cá nuôi khác
Có thể nuôi ghép cá lóc với cá mè, trôi, chép,.....Thức ăn và liều lượng cho ăn tuỳ thuộc vào mật độ nuôi cũng như tỉ lệ ghép với loài cá khác sao cho đảm bảo cá lóc tăng trưởng tốt và không ảnh hưởng đến sinh trưởng của cá khác.

VI. Phòng và trị bệnh cho cá
- Cá ương giai đoạn dưới 25 ngày tuổi: Bệnh thường gặp là bệnh do ký sinh trùng Để phòng bệnh cần định kỳ sát trùng ao nuôi 15 ngày/lần. Sử dụng vôi bột với liều lượng 3 – 4 kg/100m3, vôi được hòa tan, lóng trong và lấy nước tạt khắp ao hoặc sử dụng Fresh water (Cty Vemedim Cần Thơ).

- Cá ương giai đoạn trên 25 ngày tuổi: Bệnh thường gặp là bệnh viêm ruột do giai đoạn này cá chuyển thức ăn. Rửa thức ăn bằng muối hột, trộn thuốc Sunfadimezin: 2g + Vitamine C: 1g /1kg thức ăn cho cá ăn liên tục 3 ngày mỗi tháng. Định kỳ tạt nước vôi khắp ao.

- Cá giai đoạn nuôi thịt: Bệnh thường gặp là bệnh viêm ruột, ghẻ lở, rận cá. Sử dụng Sunfadimezin: 20g + Oxytetra 5g/100kg cá. Dùng liên tục trong 6 ngày. Định kỳ tạt nước vôi khắp ao.

VII. Thu hoạch
- Sau 5 – 6 tháng nuôi cá đạt trọng lượng trung bình 0,8Kg – 1kg/con. Trước khi thu hoạch 1 – 2 ngày không nên cho cá ăn nhằm hạn chế cá chết trong quá trình vận chuyển. Khi thu hoạch có thể dùng vợt để hạn chế sây sát.

- Tháo nước ra chỉ còn 40 – 50 cm, lấy lưới kéo đánh bắt dần. Sau đó tát cạn để thu họch toàn bộ.

Bài đăng phổ biến