Hiển thị các bài đăng có nhãn Cá Nước Lợ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cá Nước Lợ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 2 tháng 10, 2012

Kỹ thuật phòng bệnh cho cá giai đoạn chuyển mùa

Kỹ thuật phòng bệnh cho cá giai đoạn chuyển mùa


Kỹ thuật phòng bệnh cho cá giai đoạn chuyển mùa by ST Báo AB | Ky thuat phong benh cho ca giai doan chuyen mua

Hiện nay, với xu hướng thâm canh hóa trong nghề nuôi thủy sản thì bệnh cá xảy ra trong quá trình nuôi - nhất là vào giai đoạn chuyển mùa – là điều khó tránh khỏi và nó cũng đã gây ra nhiều tổn thất cho người nuôi. Tuy nhiên, nếu người nuôi tuân thủ tốt một số yêu cầu kỹ thuật sau đây sẽ góp phần hạn chế tối đa thiệt hại có thể xảy ra do các bệnh.
1. Những nguyên nhân có thể dẫn đến bệnh cá
- Chất lượng nước bị thay đổi: Nhiệt độ nước thay đổi đột ngột vào tháng 12 đến tháng 2 (có thể xuống thấp đến 18 – 22 độ C) hoặc nhiệt độ tăng cao vào tháng 3 đến tháng 5 (lên đến 30 – 35 độ C) đều làm cho cá bị sốc bỏ ăn, suy yếu, tạo điều kiện cho sinh vật gây bệnh cá phát triển, làm cho cá dễ bệnh. Nước ao kém chất lượng do quản lý không đúng kỹ thuật hoặc nguồn nước cấp bị ô nhiễm hóa chất độc, vi khuẩn, vi rút.

- Chất lượng thức ăn kém: Chất lượng thức ăn kém, không đủ dinh dưỡng cho cá sẽ tạo môi trường thuận lợi cho các tác nhân gây bệnh phát triển và làm ô nhiễm nước ao.

- Thiếu cẩn thận khi chăm sóc: Các dụng cụ cho ăn không được vệ sinh thường xuyên là nơi ẩn chứa mầm bệnh. Các dụng cụ vận chuyển, bắt cá như lưới vợt, thùng... có thể làm xây xát cá trong quá trình thao tác và vì thế mầm bệnh có điều kiện xâm nhập vào cá nuôi.

- Nguồn giống thả kém chất luợng: Cá có thể đã bị mắc bệnh từ nguồn giống thả nuôi chưa được kiểm tra chất luợng, mang sẵn mầm bệnh mà chưa được xử lý diệt trùng, khi cá thả xuống nuôi một thời gian gặp thời tiết thay đổi sẽ thuận lợi cho mầm bệnh phát triển.

2. Phòng bệnh cho cá
Trong giai đoạn chuyển mùa, thời tiết thay đổi đột ngột dễ làm cho cá bị sốc, tác nhân gây bệnh có điều kiện phát triển và xâm nhập vào vật nuôi. Nên điều cơ bản để giữ sức khỏe và phòng bệnh cho đàn cá là việc tránh sốc bằng cách duy trì chất lượng môi trường nước tốt qua việc chăm sóc đúng kỹ thuật.
a) Vệ sinh ao đìa sạch sẽ trước mỗi vụ nuôi
Dọn sạch cỏ; vét bùn đáy ao; lắp hết các lỗ mọi hang hóc xung quanh bờ ao; bón vôi để tiêu diệt mầm bệnh, ổn định pH và diệt tạp.

b) Chọn loài cá nuôi phù hợp
- Hiện nay có rất nhiều loài cá nuôi. Để chọn được loài cá nuôi thích hợp với điều kiện từng nông hộ cần phải xem xét 3 vấn đề sau:
+ Thức ăn: Khả năng cung cấp thức ăn là tự có hay mua.
+ Mục đích sử dụng: Nuôi để bán hay nuôi để ăn.
+ Tùy từng vùng sinh thái khác nhau mà chọn loại cá nuôi cho phù hợp. Ví dụ vùng khó thay nước hay mô hình VAC có thể nuôi cá trê, tra...; vùng phèn có thể nuôi cá rô đồng, sặt rằn, trê...

- Từ cơ sở đó mà nông hộ có thể chọn loài cá nuôi phù hợp với điều kiện thực tế của mình để có thể tận dụng hết những tiềm năng sẵn có tại nông hộ.

3.Chất lượng con giống
Chọn giống tốt, không mang mầm bệnh, cá tương đối đều cỡ, màu sắc sáng đẹp, bơi lội nhanh nhẹn, phản ứng nhanh, không bị dị hình, trầy sướt, nên mua giống ở những nơi có uy tín... Trước khi thả giống nên tắm cá giống qua nước muối 2 - 3% trong 5 - 10 phút và phải theo dõi cá trong quá trình tắm.

4. Mật độ thả thích hợp
Nên thả đúng mật độ tùy theo từng loài cá: Nhóm cá không có cơ quan hô hấp phụ (rô phi, mè hoa, trắm cỏ, chép, mè vinh...) thả với mật độ dưới 5 con/m2; nhóm cá có cơ quan hô hấp phụ (tra, trê, tai tượng, rô đồng, sặt rằn...) thả với mật độ 5 - 10 con/m2. Thả cá đúng mật độ để cá lớn nhanh lớn đều, ít bệnh, rút ngắn được thời gian nuôi, đạt cỡ thương phẩm lớn bán được giá cao, không phải tốn tiền nhiều để mua con giống và thức ăn nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao.

5. Nuôi ghép
- Trong cùng một ao có thể nuôi ghép các loài cá với nhau để tận dụng không gian mặt nước và tất cả các loại thức ăn có trong ao vì mỗi một loài cá sống ở một tầng nước và có loại thức ăn riêng. Khi nuôi ghép cần lưu ý:
+ Số loài cá thả ghép dưới 4 loài.
+ Đối tượng nuôi chính trên 50% tổng các loại cá, còn lại là các đối tượng ghép thêm.
+ Các loại cá thả ghép phải tương đối đều cỡ nhau và thả cùng thời gian.
+ Các loài cá ghép phải không cùng tính ăn và không gian sống.
+ Thời gian nuôi và giá cá thương phẩm các loài cá gần bằng nhau để dễ bán.

- Một số đối tượng thường kết hợp nuôi ghép và tỷ lệ nuôi ghép: Cá tai tương 80% ghép sặt rằn 20%; hoặc cá tra 80% ghép rô phi 20% hoặc cá rô đồng 70% ghép sặt rằn 30%...

6. Chăm sóc đúng kỹ thuật, cho ăn phải đạt 4 yêu cầu
Định lượng, định chất, định vị trí, định thời gian để đảm bảo cho cá khỏe mạnh, ít nhiễm bệnh. Nếu thức ăn là tấm cám nấu thì nên để vô sàng cho cá ăn để dễ quản lý được thức ăn.

7. Quản lý chất lượng nước ao nuôi
Ao phải thông thoáng, độ sâu ao nuôi cá thịt 1,2 - 2m, độ sâu ao ương cá giống: 0,5 – 1,2m, pH ổn định từ 6,5 – 8,5 tức là nước ao nuôi cá có màu xanh vỏ đậu hoặc xanh lá chuối non là tốt, hàm lượng oxy hòa tan 3 - 8mg/l, nhiệt độ nước: 28 – 30 độ C.

8. Đối với ao khó thay nước hoặc không thay nước được
Khi nuôi cá vào các tháng cuối gần thu hoạch, nước ao và nền đáy ao rất dơ do thức ăn dư thừa và phân cá thải ra trong suốt quá trình nuôi nên cá có nguy cơ phát sinh bệnh rất cao, do đó có thể xử lý bằng cách dùng các chế phẩm sinh học.

9. Phòng bệnh cho cá lúc giao mùa
Vào mùa mưa, nhất là giai đoạn chuyển muà nắng sang mưa, ao rất dễ bị xì phèn làm pH nước ao giảm thấp; pH thay đổi đột ngột như vậy làm cá bị sốc sẽ giảm sức đề kháng và mầm bệnh dễ dàng có cơ hội xâm nhập vào cơ thể cá. Nên phòng bằng cách: Định kỳ 2 tuần/lần rải vôi xung quanh bờ ao hoặc đào rãnh xung quanh bờ ao rải vôi vào rãnh để ngăn nước mưa mang phèn và chất dơ bẩn từ trên bờ ao xuống. Đồng thời, ngâm vôi vào nước để nguội, lấy phần nước vôi tạt đều khắp ao lượng 1 - 3 kg/100m3 nước, có tác dụng ổn định pH nước và phòng bệnh cho cá.

10. Một số lưu ý
Trong suốt quá trình nuôi nên phòng bệnh cho cá là tốt nhất, vì khi các bị bệnh việc điều trị rất khó khăn, tốn kém và hiệu quả không cao. Vì vậy định kỳ 2 lần/tuần, trộn Vitamin C vào thức ăn cho cá ăn để tăng sức đề kháng cho cá. Lưu ý: Vitamin C rất dễ tan trong nước nên khi trộn Vitamin C vào thức ăn phải dùng chất kết dính như dầu mực, bột gòn... để tăng hiệu quả sử dụng. Hoặc có thể sử dụng những cây thuốc Nam sẵn có tại chỗ để phòng bệnh cho cá như: Lá giác, lá xoan, cỏ mực…

Thứ Tư, 23 tháng 5, 2012

Kỹ thuật nuôi cá Chiên Lồng

Kỹ thuật nuôi cá Chiên Lồng


Kỹ thuật nuôi cá chiên lồng by ST | Ky thuat nuoi ca chien long

Cá Chiên là đối tượng thủy đặc sản quý hiếm có giá trị kinh tế cao, là một trong số các loài cá được xếp vào dạng “ngũ quý” cùng với cá Lăng chấm, cá Bỗng, cá Anh Vũ và cá Rầm xanh. Cá Chiên thường sống trong các sông suốithuộc các tỉnh phía Bắc và tập trung ở vùng trung, thượng lưu của các sông lớn,nơi có nước chảy xiết.


Hiện nay, sản lượng cá Chiên phần lớn từ khai thác tự nhiên và đang có nguy cơ cạn kiệt. Một số hộ dân ở các xã vùng hồ sông Đà đã thử nghiệm nuôinhốt trong lồng, năng suất chỉ đạt trung bình từ 20 - 25 kg/lồng. Tuy năng suất và sản lượng không cao nhưng bước đầu cho thấy khả năng thích nghi với điềukiện nuôi lồng của cá Chiên. Phần lớn các hộ nuôi cá Chiên lồng chủ yếu là gom nhốt cá, chưa áp dụng quy trình kỹ thuật, đặc biệt là chế độ cho cá ăn, chăm sóc và phòng bệnh cho cá, vì vậy cá chậm lớn, hiệu quả kinh tế chưa tương xứng với giátrị kinh tế của nó. Với mong muốn giúp bà con nắm được kỹ thuật nuôi cá Chiên để phát triển nghềnuôi thuỷ sản mới, nhằm mục đích từng bước vươn lên xóa đói giảm nghèo và tiến tới làm giàu, chúng tôi giới thiệu đọc giả “Kỹ thuật nuôi cá chiên Lồng”.

1. Thiết kế lồng nuôi bằng thép
a. Vật liệu
Toàn bộ khung lồng làm bằng sắt dẹt, mỗi cây dài 8m. Thùng phi nhựa, dâythép để liên kết phi sắt với khung lồng. Ngoài ra còn có dây neo cố định khunglồng.

b. Thiết kế khung lồng
Lồng có kích thước 8m x 2,5m x 2m, gồm 1 dãy với 2 ô, mỗi ô kích thước 4m x 2m x 2,5m. Phao làm bằng thùng phi hoặc phi nhựa và được cố định vớikhung lồng.Toàn bộ các thanh sắt dọc và ngang được hàn gắn chặt với nhau tạo thànhcác vách lồng, mỗi vách gồm rất nhiều nan, các nan lồng cách nhau 1,5 cm.Sau đó các vách lồng sẽ được gắn lại với nhau bằng các bu lông tạo thànhlồng. Các phi nhựa (phao) được liên kết với khung lồng bằng dây thép buộc vào cây luồng để đảm bảo cho lồng nổi.


2. Chọn vị trí nuôi
- Địa điểm đặt lồng bè phải có nguồn nước sạch, không bị ô nhiễm bởi nướcthải sinh hoạt, chất thải công nghiệp.

- Môi trường nuôi phải đảm bảo các yếu tố sau: pH 7,0 – 8,0; oxy hoà tan >5 mg/lít; NH3 < 0,01 mg/lít; H2S < 0,01 mg/lít. Chọn nơi thông thoáng, không nên nuôi tại các điểm cuối của eo nghách. Độ sâu điểm đặt lồng trên hồchứa có độ sâu lớn hơn 4m tại thời điểm mực nước hồ xuống thấp nhất. - Mật độ lồng nuôi trên hồ chứa không quá dày. Mỗi cụm lồng không quánhiều lồng tốt nhất mỗi cụm nuôi khoảng 3 - 5lồng. Các cụm lồng cách nhau 10 - 15m. 3. Chọn giống và thả giống
- Cá giống phải khỏe mạnh, không dị hình, xây xát, kích cỡ đồng đều, không bị mất nhớt. Cá hoạt động linh hoạt, bơi lội nhanh nhẹn.

- Kích cỡ cá giống: Đối với nuôi trong lồng yêu cầu kích thước cá giống 20 - 25 cm. Cá giống này đã được nuôi trong ao cho đến khi đạt kích thước trên mớiđưa ra thả trong lồng.

- Mật độ thả: Nuôi lồng trên hồ chứa thả 7,5 con/m3 lồng.

- Mùa vụ thả giống: Tốt nhất nên thả giống nuôi vào tháng 3 – tháng 10 vànuôi 2 vụ/năm.

- Khi thả cá, cân bằng môi trường bằng cách ngâm bao chứa cá vào lồngnuôi trong thời gian 10 - 15 phút, sau đó cho nước từ từ vào miệng túi và tiến hànhthả cá.

4. Cho ăn
- Thức ăn cho cá Chiên sử dụng trong quá trình nuôi chủ yếu là các loại: thức ăn công nghiệ p, thức ăn tự chếbiến và cá tạp.

- Dùng thức ăn công nghiệ p dạng viên nổi và không tan trong nước sẽ hạn chế sự thất thoát thức ăn và giảm thiểu ô nhiễm nước nuôi. Cho cá ăn bằng thức ăn công nghiệ p hoặc thức ăn chếbiến có hàm lượng đạm 18 - 30%.

- Thức ăn chếbiến được làm từ các nguyên liệu sẵn cóởđịa phương để phối chế thành thức ăn cho cá Chiên. Các nguyên liệu cần tính toán hợ p lý để đảm bảo hàm lượng dinh dưỡng, quan trọng nhất là đạm theo nhu cầu của cá Chiên. Thành phần thức ăn chế biến ta có thể sử dụng 1 trong 3 công thức sau:
+ Công thức 1: Cám gạo 60 % + bột ngô (bắ p) 20% + bột cá20%.
+ Công thức 2: Cám gạo 40% + bột ngô (bắp) 20% + khô dầu lạc 40% hoặc cho ăn cá tạp.
+ Công thức 3: Cho ăn cá tạp 100%.

- Các loại thức ăn tự chế được nấu chín để nguội và nắm thành từng nắm nhỏ để cho cáăn trong sàn ăn. Cho cáăn từtừ, từng ít một cho đến khi hết thức ăn, tránh hiện tượng cá tranh giành thức ăn quá mạnh, làm thức ăn tan vào nước ao gây thất thoát. Không nên cho cá Chiên ăn thức ăn dạng bột vìthức ăn bịtan trong nước vừa lãng phívừa làm ô nhiễm môi trường nuôi.

- Thức ăn được chia đều làm 2 phần, cho cá ăn vào lúc sáng (6 - 7h) và chiều (17 - 18h). Cho cá ăn đúng giờđểtạo phản xạcho cá.

- Trong quá trình nuôi cần theo dõi tăng trưởng của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp. Chu kỳ điều chỉnh thức ăn là 10 ngày/1lần. Cứ 10 ngày kiểm tra tốc độ sinh trưởng cá 1 lần trên cơ sở đó ước lượng được khối lượng cá trong ao. Lượng thức ăn cho ăn trong giai đoạn đầu bằng 5 - 6% khối lượng cá nuôi. Khi cá đạt cỡ100g cho ăn 3 - 4%, khi cá đạt trên 200g cho ăn 2%.

5. Quản lý lồng nuôi
- Hàng ngày quan sát hoạt động của cá trong các lồng nuôi, tình hình sửdụng thức ăn và các hiện tượng bất thường khác xảy ra.

- Mỗi tuần vệ sinh lồng một lần, dùng bàn chải nhựa cọ sạch các cạnh bênlồng lưới. Việc vệ sinh lồng tiến hành trước các bữa ăn của cá.

- Trong quá trình vệ sinh cần kiểm tra lồng, phát hiện kịp thời các vết rách,rạn nứt để kịp thời khắc phục các vết rách nhằm hạn chế cá đi mất.

- Loại bỏ rác trôi nổi và các vật cứng vào khu bè nuôi.

- Vào mùa mưa lũ phải kiểm tra cá dây neo bè, di chuyển lồng vào vị trí antoàn khi có bão, lũ.

- Khi cá có các dấu hiệu bất thường sau cần phải có biện pháp xử lý ngay:
+ Thay đổi màu sắc bất thường;
+ Cá kém ăn hoặc bỏ ăn;
+ Cá bơi lội bất thường;
+ Cá bị lồi mắt, lở loét, xuất huyết trên thân.

6. Phòng trị bệnh
6.1 Bệnh nhiễm khuẩn
a) Dấu hiệu bệnh:
- Mầm bệnh là các vi khuẩn (Aeromonas spp) thường xuyên có mặt trongnước, các chất thải từ cá và có thể từ nguồn thức ăn (cá tạp ôi...).

- Cơ quan bị nhiễm: Vây, thân, mắt và các nội quan.

- Dấu hiệu bệnh: Các vết loét và xuất huyết trên thân, xơ vây, lồi và loétmắt.

- Cá bị nhiễm khuẩn khi: Nuôi cá với mật độ cao, chất lượng nước và thứcăn kém, cá bị xây sát do đánh bắt hoặc do KST bám.

b. Phòng và trị:
- Cần tính toán mật độ thả cho phù hợp.

- Thường xuyên vệ sinh lồng lưới để đảm bảo cho sự lưu thông nước vàtránh làm tổn thương cá trong quá trình thao tác.

- Quản lý thức ăn và môi trường nước nuôi.

- Loại bỏ những con bị bệnh nặng.

- Tắm cho cá bằng iodine sau khi dùng kháng sinh.

- Trộn kháng sinh vào thức ăn cho cá ăn liền trong 7 ngày.

6.2 Bệnh Nấm
a) Dấu hiệu bệnh:
- Cơ quan bị nhiễm: Cơ và các cơ quan bên trong.

- Hình thái nấm: Đám màu trắng, có thể nhìn thấy sợi.

- Bệnh ít gây chết nhưng làm mất giá trị của cá.

b. Cách phòng trị:
- Tránh gây tổn thương cho cá đặc biệt trong mùa lạnh.

- Loại bỏ cá bị nhiễm nặng.

- Xử lý bệnh bằng nước muối.

6.3 Bệnh Ký sinh trùng
a. Dấu hiệu bệnh:
- Tác nhân gây bệnh: Trùng bánh xe, sán, rận cá, bào tử trùng, đỉa...

- Cơ quan bị ảnh hưởng: Da, mang, vây và thân.

- Dấu hiệu: Cá bơi không định hướng, ngứa ngáy và hay cọ sát vào thànhlồng. Cá chuyển màu sẫm, mang nhợt nhạt, da và mang có thể bị hoại tử, cá chếtnhiều nếu không xử lý kịp và đặc biệt ở cá hương, cá giống.

b. Cách phòng và trị:
Tắm cho cá bằng 1 trong các hoá chất sau: CuSO4 (0,5ppm), nước muối3%. Khi xử lý cần chú ý cung cấp đủ ô xy hoà tan.

7. Thu hoạch
Sau 12 tháng khi cá đạt kích cỡ thương phẩm (1,5 – 2 kg) thì tiến hành thutỉa cá đạt kích cỡ lớn, cá nhỏ hơn tiếp tục nuôi đến cuối vụ để đạt kích cỡ thương phẩm thì thu hoạch toàn bộ.

Bài đăng phổ biến