Hiển thị các bài đăng có nhãn Cua Biển. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cua Biển. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 11, 2012

Nuôi cua Biển - Kỹ thuật sản xuất giống

Nuôi cua Biển - Kỹ thuật sản xuất giống


Trại sản xuất cua giống nên xây dựng ở gần biển, có nguồn nước biển tốt, ở vùng đầm phá, rừng ngập mặn ven biển có nhiều cua sinh sống, gần vùng nuôi cua, có điều kiện giao thông thuận lợi, có nguồn điện lưới quốc gia, an ninh tốt.

I. Tuyển chọn và nuôi vỗ cua bố mẹ

Có thể tuyển chọn cua cái đã giao vĩ, lên gạch hoặc cua cái so (cua yếm vuông) nuôi chung với cua đực đã thành thục sinh dục, để cua cái so lột xác, giao vĩ, lên gạch đẻ trứng.

1. Nuôi cua cái đã giao vĩ
- Chọn cua cái đã giao vĩ: trước mùa sinh sản vào khoảng tháng 8, 9 cua cái đã giao vĩ có tuyến sinh dục phát triển thường đánh bắt được ở vùng cửa sông, vùng biển ven bờ. Chọn những con cua cái lên gạch tốt, khỏe mạnh còn nguyên càng, chân bò, chân bơi, tốt nhất là chọn những con cua vừa đánh bắt được, chuyển về ao hoặc các bể xi măng để nuôi vỗ. Những con cua cái như vậy thường có trọng lượng từ 250-800g. Tuỳ theo số lượng cần thiết mà chọn cua, tốt nhất là chọn đủ số lượng cho một đợt cho đẻ để cùng thả nuôi một lần.

- Nuôi trong ao: tùy theo số lượng cua nuôi cho đẻ mà xây dựng ao có diện tích tương ứng. Nhưng để dễ dàng quản lý và chăm sóc nên xây dựng ao có diện tích từ 100 đến 500 m vuông, sâu từ 1,2 đến 1,5m. Ao phải được xây dựng ở nguồn nước tốt, có độ mặn từ 20 đến 30‰ đất sét hoặc pha cát. Nếu gặp nơi đất sình thì phải kiểm tra độ phèn và các độc tố và có biện pháp cải tạo, bờ ao được đắp chắc chắn: chặt, không bị mội, chân bờ rộng tối thiểu 2m, mặt bờ 0,8-1m. Dùng đăng tre cao trên 0,8m (hoặc lưới) làm hàng rào chắc trên bờ và miệng cống, ngăn không cho cua bò ra ngoài. Ở giữa ao nên để một "cù lao" (chiếm 1/10 diện tích ao) có cây bụi để cua có chỗ ẩn, bò lên cạn. Ao nên đặt hai cống: lấy nước và xả nước. Trước khi thả cua nuôi cần dọn tẩy ao, xả nước nhiều lần, tháo hết nước, rải vôi một ở đáy và bờ ao (1kg/10 m vuông) phơi 1-2 ngày, cho nước vào rửa lại ao, kiểm tra độ pH đạt 7,5-8,5 là thích hợp. Mật độ nuôi: 2-5m vuông/ con.
- Nuôi trong lồng: có thể nuôi cua cái đã giao vĩ trong lồng. Lồng làm bằng tre hoặc các vật liệu khác (lưới thép không rỉ, nhựa compozid, v.v...) bảo đảm vững chắc chịu được nước mặn và dòng chảy. Lồng thường có kích thước : dài 3mx rộng 2m x cao 1,2m, có phao nâng để lồng không bị chìm, có miệng lồng rộng 0,5m vuông, có neo chắc chắn để neo giữ. Lồng có thể chia ra những ô nhỏ để nuôi riêng từng con, cũng có thể nuôi chung. Lồng được đặt ở chỗ có nguồn nước lưu thông: ở dọc bờ sông, trong các eo vịnh đầm phá, ở gần cống các đầm nuôi thủy sản v.v.. độ sâu tối thiểu 1,5m, lúc triều xuống vẫn giữ được mực nước trên 0,5m. Mật độ 2 - 4 con/ m khối.

- Nuôi trong bể xi măng: bể xi măng co kích thước diện tích từ 4 đến 30m vuông, cao 1,3m,có thể hình vuông, hình chữ nhật, hình tròn có mái che toàn bộ hoặc một phần. Đáy bể rải một lớp cát 3-5cm, sắp một số gạch để làm chổ ẩn cho cua, đáy có van xả để thay nước. Mực nước trong bể từ 0,7 đến 1m, có hệ thống sục khí. Có thể nuôi chung hoặc chia ô để nuôi riêng từng con. Mật độ 2 con/ m khối. Nuôi trong bể xi măng dễ chăm sóc quản lý nhưng phải có điện và cấp nước chủ động và thường số lượng cua không lớn.

- Chăm sóc, quản lý: khi ao, lồng, bể đã chuẩn bị xong thì chọn đủ số lượng cua cần nuôi để thả vào ao, lồng, bể một lúc. Thường cua đánh bắt được buộc dây và có khi có đất, sình bám vào, rửa cua sạch sẽ, cắt bỏ dây và buông nhẹ cua vào ao, lồng, bể, tránh làm gẫy càng, chân cua.

- Nếu áp dụng phương pháp cắt mắt để ép đẻ thì có thể tiến hành trước lúc thả cua vào ao nuôi dùng lưỡi dao lam sắc đã sát trùng cắt một đường vào giữa con mắt, dùng tay bóp mạnh hoặc kẹp bóp hết dịch ở mắt ra, sát trùng cho vết cắt.

- Thức ăn của cua rất đa dạng, cua thích ăn động vật: cá, tôm, cá loại nhuyễn thể (nghêu, sò, vẹm...) và một số thực vật thủy sinh. Cá lớn cắt thành miếng nhỏ, còng gỡ bẻ đôi, vẹm, nghêu, sò xẻ ra lấy thịt rải đều khắp ao cho cua ăn. Số lượng thức ăn mỗi lần từ 2-5% trọng lượng cua, tùy theo chất lượng thức ăn. Khi kiểm tra thấy cua ăn hết thì có thể cho thêm, nếu thức ăn còn thừa thì giảm. Thường cho cua ăn vào buổi chiều tối, cua sẽ tìm mồi ăn về đêm. Buổi sáng kiểm tra nếu còn thức ăn thừa thí vớt bỏ đi. Không nên để cua đói: cho ăn thiếu hoặc không cho ăn một ngày. Thiếu ăn cua có thể cắn nhau làm gẫy càng, chân, thậm chí ăn thịt đồng loại.

- Cần theo dõi kỹ các yếu tố của môi trường nước. Cua chuẩn bị sinh sản cần được nuôi trong nước biển có độ mặn từ 25 đến 32‰ , độ pH từ 7,5 đến 8,5 hàm lượng ôxy hoà tan không dưới 5mg/l, nhiệt độ nước từ 27 độ C đến 30 độ C, không để nước bị nhiễm bẩn hữu cơ và vô cơ. Cần thay nước trong ao nuôi, trong bể: mỗi ngày thay 20 đến 30% nước, một tuần nên tghay nước toàn bộ và vệ sinh bể, đáy ao. Cua nuôi trong bể xi măng nên sục khí nhẹ.

- Tùy theo mức độ chín muồi của tuyến sinh dục của cua lúc đưa vào nuôi mà sau thời gian từ 10 ngày (có khi ngắn hơn) đến hai tháng cua để trứng.

2. Nuôi cua cái so (cua yếm vuông) lột xác tiền giao vĩ cho giao vĩ phát dục để sinh sản.
- Cua cái so có trọng lượng từ 150 đến 200 gram, trước mùa sinh sản thường di cư ra vùng cửa sông, ven biển ghép đôi với cua đực đã thành thục sinh dục, lột xác, giao vĩ, phát triển buồng trứng và đẻ trứng. Chọn những con cua cái so nguyên vẹn, khỏe mạnh chắc (sắp cốm), đồng thời chọn những con cua đực to (từ 300 - 700g) nguyên vẹn khỏe mạnh theo tỉ . Ao, lệ 2 cái/ 1 đực đem thả nuôi trong ao, lồng, bể với mật độ như nuôi cua gạch (cua cái đã giao vĩ). Ao, lồng, bể nuôi cua cái so cũng được xây dựng như để nuôi cua gạch đã trình bày ở mục 1.

- Cách chăm sóc, cho ăn cũng tương tự như nuôi cua cái đã giao vĩ. Đáng chú ý là nuôi cua cái so sắp cốm, chuẩn bị lột xác tiền giao vĩ ăn rất ít hoặc không ăn, nhưng chúng cần được yên tĩnh để ghép đôi. Trong thời gian từ 5 - 10 ngày đến một tháng cua cái so (sống cùng cua đực)hoàn thành ghép đôi, lột xác và giao vĩ. Trong bể xin măng có thể quan sát quá trình ghép đôi, lột xác và giao vĩ. Cua đực dùng càng, chân ôm lên lưng cua cái, tha cua cái đi. Sự ghép đôi có thể kéo dài vài ba ngày, chỉ trước lúc cua cái lột xác cua đực mới buông cua cái ra và ở cạnh để bảo vệ, và ngay sau khi cua cái lột xác xong cua đực lật ngửa cua cái ra ôm chặt, cua cái mở yếm ra và xảy ra sự giao vĩ . Quá trình giao vĩ kéo dài 4 - 5 giờ đến 1 - 2 ngày. Sau đó cua đực buông cua cái ra nhưng vẫn ở cạnh. Trong mùa sinh sản một cua đực có thể giao vĩ với nhiều cua cái.

- Đem cua cái đã giao vĩ ra nuôi riêng, chăm sóc cho ăn để tuyến sinh dục phát triển, chín và đẻ trứng. Từ lúc giao vĩ đến lúc đẻ trứng phải kéo dài 2-3 tháng hoặc hơn nữa. Sau khi lột xác kích thước cua cái tăng lên đột ngột và trong quá trình phát dục trọng lượng của cua cũng tăng lên đáng kể (từ 70 - 150% so với cua cái so).
II. Đẻ trứng
Trong điều kiện nuôi vỗ tốt cua cái đã giao vĩ chín sinh dục và đẻ trứng trong ao, lồng, bể xi măng. Vì vậy điều kiện của ao, lồng, bể nuôi vỗ cua ở giai đoạn cuối cần được kiểm tra chặt chẽ, bảo đảm nước sạch, độ mặn từ 25 - 32‰, pH = 7,5 - 8,5 lượng oxy hoà tan trên 5mg/lít, nhiệt độ nước 28 - 30 độ C, độ sâu của nước trong ao 1,2 - 1,5m trong bể xi măng 0,7 - 1m. Trong bể xi măng có thể quan sát thấy cua đẻ trứng. Cua mở yếm ra hết độ, ép mình xuống, phần trước đầu ngực hơi dướn lên, càng và chân tì vào đáy, bắt đầu đẻ trứng và thụ tinh. Trứng đẻ ra thụ tinh và hoạt hóa, niêm dịch giữa hai lớp màng linh hoạt, làm cho màng ngoài có sức dính và với tác động của ngoại lực kéo ra làm cho trứng dính vào lông tơ của chân bụng bằng "cuống trứng", nhờ vậy mà các hạt trứng vẫn rời nhau tự do. Quá trình đẻ trứng diễn ra ở đáy ao, đáy bể và kéo dài từ 30 phút đến 2 giờ, cua đẻ trứng tốt, trứng dính đều, dày trên tất cả các lông tơ của các chân bụng và có rất ít trứng rơi ra ở dưới đáy, không dính được vào lông chân bụng. Ngược lại, trường hợp đẻ trứng không tốt, trứng chỉ bám một ít vào một số lông tơ của chân bụng, còn phần lớn trứng đẻ ra rơi trên đáy. Ở những cua cái đẻ trứng tốt buồng trứng dày có dạng hình "tán nấm" tròn làm cho yếm cua mở ra rất rộng, những cua cái đẻ trứng kém, trứng bám ít, có dạng hình "trăng khuyết", yếm mở hẹp.

III. Nuôi cua ôm trứng
- Do cua có đặc tính ôm trứng (thực chất là ôm phôi phát triển) một thời gian khá dài (từ 10 - 20 ngày tùy thuộc điều kiện môi trường, trong đó chủ yếu là nhiệt độ nước) nên trong mùa sinh sản, trong khai thác người ta đánh bắt được cả cua ôm trứng. Có thể thu những cua ôm trứng trong tự nhiên, bảo quản tốt đưa về ấp nở để nhận ấu trùng, sản xuất cua giống.

- Cua ôm trứng nuôi riêng từng con, có thể nuôi trong giai đoạn giai thả dưới ao, ngăm bể thành những ô nhỏ để tiết kiệm diện tích, tốt nhất là nuôi riêng mỗi con trong một bể xi măng có thể tích từ 500 - 1.000 lít. Môi trường nước cần được quản lý chặt chẽ: độ mặn 30‰ ± 2‰ , oxy hòa tan trên 5mg/lít (sục khí nhẹ thường xuyên), pH = 7,5 - 8,5, nhiệt độ 29 ± 1 độ C, giữ yên lặng nơi nuôi cua. Cho cua ăn đầy đủ, thức ăn có chất lượng cao: thịt nghêu, mực, tôm. Mỗi ngày cho ăn một lần vào buổi chiều tối, thu bỏ thức ăn thừa vào buổi sáng. Thay nước 20-30% hàng ngày.

- Theo dõi quá trình phát triển của phôi. Để xác định chất lượng của trứng phôi cần quan sát dưới kinh hiển vi: 2 - 3 ngày 1 lần, xác định "tốc độ" phát triển của phôi, tỉ lệ trứng bị hỏng, nhiễm bệnh: nấm, vật ký sinh và có biện pháp xử lý. Cũng có thể đánh giá tốc độ phát triển của phôi qua sự biến đổi màu sắn của buồng trứng vàng sáng, vàng sẫm, xám tro và cuối cùng là xám đen. Màu sắc của buồng trứng chuyển đồng đều chứng tỏ buồng trứng tốt, phát triển đồng đều. Buồng trứng chuyển đều sang màu xám đen tức là phôi đã phát triển đến giai đoạn "mọc mắt" và trong một hai ngày sau là nở ra ấu trùng.

- Trong điều kiện nhiệt độ nước từ 28 - 30 độ C, sau khi đẻ trứng từ 10 - 12 ngày nở ra ấu trùng Zoea 1.

- Đối với cua ôm trứng thu ngoài tự nhiên cần vận chuyển tốt: chứa vào xô nước biển (lấy nước nơi bắt cua), cho ít nước và thay nước nhiều lần, sục khí, khống chế nhiệt, tránh nhiệt độ nước lên trên 30 độ C trong lúc vận chuyển. Trước khi cho cua ôm trứng vào bể ương ấp nên xử lý cua ôm trứng: cho cua vào xô nước biển có pha formaline 20ppm trong thời gian 20 - 30 phút. Xem màu sắc của trứng và lấy một ít trứng quan sát dưới kính hiển vi để xác định giai đoạn phát triển và chất lượng của trứng phôi, dự kiến ngày nở của ấu trùng để chuẩn bị các điều kiện ương nuôi tiếp theo một cách chủ động. Điều kiện và cách nuôi cua ôm trứng thu được ngoài tự nhiên cũng giống như nuôi cua ôm trứng cho đẻ nhân tạo.

IV. Ương nuôi ấu trùng thành cua bột 1

- Công việc ương nuôi ấu trùng Zoea 1 thành cua bột 1 là công đoạn quan trọng và đòi hỏi nhiều yếu tố kỹ thuật sinh học chặt chẽ. Có thể ương nuôi ấu trùng thành cua bột trong ao đất, trong bể xi măng (bể composite). Ở đây chủ yếu trình bày qui trình ương nuôi trong bể xi măng và trên cơ sở đó có thể tiến hành các biện pháp kỹ thuật tương tự để ương nuôi trong ao ở những nơi có điều kiện.

- Hiện nay ở nước ta chưa có cơ sở nào xây dựng một trại sản xuất giống nhân tạo loài cua biển (Scylla serrata). Trên cơ sở nghiên cứu thử nghiệm đạt kết quả, chúng tôi nhận thấy có thể sử dụng hệ thống thiết bị trại sản xuất gíông các loài tôm biển để sản xuất cua giống. Có một vài cải tiến cần thiết, chúng tôi sẽ trình bày trong phần phụ lục.
1. Thu nhận ấu trùng Zoea 1 từ cua mẹ "ôm trứng"
- Bể xi măng có thể tích 1-2m khối được làm vệ sinh sạch, khử trùng chlorine, dẫn nước biển có độ mặn 30‰ đã được xử lý : lắng lọc, khử trùng bằng chlorine hoặc tia cực tím, cho EDTA 10ppm, pH = 7,5 - 8,5, nhiệt độ 29 - 30 độ C, sục khí nhẹ, đều. Chuyển cua mẹ ôm trứng sắp nở (thường từ ngày 9 - 11 kể từ lúc cua đẻ trứng) vào bể xi măng trên.

- Trước đó xử lý cua ôm trứng bằng dung dịch formaline 20ppm trong 15 - 20 phút. Cua ôm trứng ở trong bể cần được yên tĩnh, không cho ăn. Trong thời gian 1 - 2 ngày thì ấu trùng nở. Quá trình này thường kéo dài từ 2 - 4 giờ, cũng có trường hợp kéo dài từ 8 - 10 giờ. Quan sát thấy mật độ ấu trùng đã "dày", bắt cua mẹ lên kiểm tra, nếu cua đã thải hết ấu trùng, yếm đã đóng lại thì đưa cua vào bể nuôi cua bố mẹ để nuôi vỗ tiếp.

- Ấu trùng Zoea vừa mới nở có màu đen (do đôi mắt kép to có nhiều sắc tố đen làm cho ta thấy ấu trùng có màu đen) bơi lội trong tầng nước giữa và trên mặt. Ấu trùng có đặc tính hướng quang mạnh. Dùng tấm che có màu tối che phần lớn miệng bể xi măng lại, dùng bóng đèn 100W chiếu ở phần miệng bể còn lại. Ấu trùng sẽ tập trung về phần bể có chiếu sáng. Dùng ống siphon thu ấu trùng vào thùng nhựa đã được khử trùng. Thường ấu trùng yếu nằm ở đáy, không bơi được đến vùng chiếu sáng. Những ấu trùng yếu loại bỏ đi. Cần đếm số ấu trùng thu được trước lúc đưa vào bể ương. Lấy tấm vải đen bọc kín thùng nhựa chứa ấu trùng trong vòng 10 phút, dùng tay đảo nước trong thùng nhựa ba vòng theo một chiếu và một vòng theo chiều ngược lại, dùng ống đong 100ml lấy đầy nước có ấu trùng vào ống đong, đem đếm số ấu trùng trong ống đong. Làm như vậy ba lần và lấy số trung bình của ba lần đếm. Biết được thể tích nước chứa ấu trùng trong thùng nhựa suy ra số ấu trùng thu được. Thường cua mẹ có trọng lượng 300 - 350g, đẻ và ấp trứng tốt có thể thu được 60 - 80 vạn ấu trùng, trọng lượng 500 - 700g, có thể thu được 100 - 160 vạn ấu trùng.

2. Ương nuôi ấu trùng Zoea : từ Zoea 1 đến Zoea 5
2.1. Chuẩn bị bể, nguồn nước, thức ăn cho ấu trùng

- Dự tính được ngày ấu trùng nở, công việc chuẩn bị bể ương, nguồn nước thức ăn, thuốc phòng bệnh cần được thực hiện chu đáo (hệ thống bể ương ấu trùng được cây dựng trong nhà có mái che, có tường bao, cách ly tốt với xung quanh, chỉ để một cửa vào và một cửa ra có đèn cực tím sát trùng. Số lượng và sức chứa của hệ thống bể ương phụ thuộc vào qui mô sản xuất của trại giống. Nên xây các bể có diện tíchkhác nhau: 2m khối, 4 m khối, 8m khối, 16 m khối v.v...)

- Bể ương được làm vệ sinh: rửa, ngâm chlorine, rửa sạch
Nước biển có độ mặn 30‰ ±1‰ lọc (nếu ở nơi cấp nước, nguồn nước đục phải cho vào bể lắng "hoặc ao lắng" để lắng trước lúc bơm vào lọc, xử lý): sỏi , cát, than hoạt tính, xử lý chlorine 20ppm: sục khí 48 giờ cho bay hết mùi clo, nếu chưa hết phải sục khí tiếp, cho 10ppm EDTA.

- Dẫn nước vào bể ương ấu trùng: mực nước ao 0,6 - 0,8m, tính thể tích nước trong bể để đưa đủ số lượng ấu trùng vào theo mật độ ương hợp lý. Sục khí đều 1m khối đước đặt 1 vòi sục khí.

- Thức ăn của ấu trùng Zoea của cua là tảo khuê, luân trùng (loài luân trùng nước lợ:Branchionus plicatilis), ấu trùng naupli của Artemia. Có thể dùng thức ăn chế biến công nghiệp dùng cho ấu trùng tôm biển để cho ấu trùng cua ăn: bột tảo Spirulina, thức ăn tổng hợp dạng vi nang của hãng MAXIMA (Mỹ).

- Tảo khuê và luân trùng cần ương nuôi trước để khi ấu trùng cua nở có đủ số lượng cung cấp cho cả thời gian ương kéo dài trong 12 ngày đầu.

2.2 Ương nuôi ấu trùng Zoea 1 đến Zoea 5
- Mật độ ương: Ương nuôi ấu trùng cua từ Zoea 1 đến Zoea 5 trongbể xi măng có sục khí có thể ương mật độ từ 80 - 120 con/lít. Trong quá trình ương ấu trùng có thể bị hao hụt từ 20 - 50%. Theo dõi mật độ ấu trùng trong bể ương từng giai đoạn và có thể giảm bớt lượng nước hoặc chuyển ấu trùng snag bể có kích thước nhỏ hơn để bảo đảm mật độ thích hợp, giảm được lượng thức ăn cho vào bể.

- Cho ăn: Tảo khuê Chaetoceros và Skeletonema costatum ương trong bể tảo để ngoài trời thường đạt đỉnh cao vào ngày thứ 3 (phụ thuộc thời tiết). Thu tảo lúc tảo sắp đạt đỉnh cao bằng lưới phytoplankton cỡ 100, đem xử lý bằng formol 20ppm trong 10 phút rồi đem rãi đều vào bễ ương. Mật độ tảo đạt 6.104/ml (thường dùng 10 lít tảo cho 1 m khối nước ương). Sục khí nhẹ, đều. Chuyển ấu trùng vừa đếm được vào bể. Sau khoảng 6 - 8 giờ cho luân trùng vào bể ương. Luân trùng thu được từ bể ương cho vào chậu nước sạch, độ mặn 20 - 25‰ lọc sạch, xử lý dung dịch frmol 20ppm trong 10 phút, cho vào bể ương ấtu trùng, rãi đều khắp bể mật độ luân trùng 15 con/ml. Mỗi ngày cho ăn 2 lần: sáng 8 giờ, chiều 14 giờ.
+ Cho ấu trùng ăn tảo khuê trong thời gian 6 ngày đầu.
+ Cho ấu trùng ăn luân trùng trong thời gian 12 ngày đầu.
+ Từ ngày 12 trở đi giảm lượng luân trùng xuống 1/2 và cho naupli của Artemia và bể ương, mật độ 10 - 15 con/ml. Đến ngày 14 ngừng cho thức ăn luân trùng, tăng mật độ naupli của Artemia lên 20con/ml.

- Vệ sinh bể thay nước hằng ngày làm vệ sinh bể: dùng mút mềm cọ rữa thành, đáy bể, xi phông cặn bã ở đáy. Khi làm vệ sinh có thể dùng đèn chiếu sáng một đầu bể cho ấu trùng tập trung lại và cọ rữa phía tối không có ấu trùng. Khi xi phông ấu trùng có thể ra theo nên dùng bình lọc để thu lại. Hai ngày đầu không thay nước, ngày thứ 3 thay 30% lượng nước, ngày thứ 5 thay 30%, ngày thứ 7 thay 30% . Và tiếp tục thay cách ngày như vậy cho đến ngày thứ 17. Tùy theo độ nhiễm bẩn của nước, tình trạng phát triển và nhiễm bẩn của ấu trùng mà thay nước 100% hay không. Nếu ấu trùng phát triển tốt, lột xác đều, sinh trưởng tương đối đồng đều, không bị nhiễm bệnh, bơi lội khỏe thì hạn chế thay nước nhiều. Nếu ấu trùng bị bệnh thì sử dụng các loại thuốc kháng sinh và đặc biệt kiểm tra nguồn nước và thức ăn kỹ trước lúc cho vào bể ấu trùng.
- Theo dõi các yếu tố của môi trường nước, bảo đảm độ mặn 30‰ ± 1‰ nhiệt độ nước 29 độ C ± 1 độ C, pH = 7,5 - 8,5, oxy hòa tan trên 5mg/lít trong suốt quá trình ương nuôi.

- Từ Zoea 1 đến Zoea 5 ấu trùng lột xác 4 lần. Zoea 5 đã phát triển đầy đủ 5 đôi chân ngực trong đó có đôi chân càng phát triển nhưng tất cả còn nằm trong giáp đầu ngực . Tập tính bơi lội của Zoea 5 vẫn giống các giai đoạn trước. Zoea 5 lột xác cho ấu trùng Megalops. Megalops có giáp đầu ngực dạng chữ nhật, có 5 đôi chân ngực, trong đó có đôi chân càng phát triển hoạt động bắt mồi và tự vệ. Đuôi thu ngắn nhưng rất linh hoạt là động lực chính để bơi lội. Megalops vừa bơi lội, vừa bám vào thành, giá thể, vừa bò cả lên thành, trên đáy.

- Trong điều kiện nhiệt độ nước 29 - 30 độ C từ lúc nở đến lúc xuất hiện ấu trùng Megalops đầu tiên từ 16  -18 ngày.

- Nếu ấu trùng Zoea nở ra chất lượng tốt, ương nuôi tốt từ Zoea 1 đến Zoea 5 có thể đạt tỉ lệ sống 45 - 60%, thường chỉ đạt 35 - 40%, thậm chí còn thấp hơn.

2.3 Ương nuôi Zoea 5 lên cua bột 1
- Khi phát hiện thấy Megalops đầu tiên xuất hiện thì chuyển toàn bộ ấu trùng ra bể ương lớn hơn hoặc đưa ra ương ở ao đất, để làm giảm mật độ, tránh ấu trùng Megalops nở trước ăn ấu trùng Zoea chưa chuyển sang Megaplos. Trong bể lớn rải một lớp mỏng cát sạch ở phần sát thành bể (đã chừa lại khoảng đáy giữa bể không có cát), thả nhiều tấm lưới mùng có phao cho phân cắt bể ra thành nhiều phần, thả một số chùm sợi nylon nhỏ làm giá thể, tạo nơi bám cho ấu trùng Megalops. Mật độ ương từ 15.000 - 20.000 ấu trùng/m khối. Nước được xử lý như giai đoạn đầu, có thể giảm dần độ mặn xuống 28 rồi 20 ‰ trong thời ương Megalops. Thức ăn gồm ấu trùng 2 ngày tuổi Artemia sinh khối, thức ăn chế biến: thịt nghêu, tôm xay nhỏ trộn với lồng đỏ trứng gà, vitamin, hấp chín, rây nhỏ cho ăn. Lượng thức ăn: Artemia và ấu trùng 50 con/l/ngày, thức ăn chế biến 5g/m khối/ngày, mỗi ngày cho ăn 2 lần: sáng và chiều. Tăng dần lượng thức ăn chế biến, giảm dần ấu trùng Artemia. Sục khí, làm vệ sinh bể hàng ngày, rửa bể, xiphông thức ăn thừa, thay 30% nước hàng ngày.

- Sau 8-12 ngày phần lớn megalops lột xác biến thành cua bột 1.

- Tỷ lệ sống từ Zoea 5 đến cua bột 1 thường đạt 50% có khi còn thấp hơn 40 - 30%, tùy thuộc chủ yếu vào việc cách ly (giảm mật độ) Megalops trong giai đoạn dầu.

V. Ương nuôi cua bột thành cua giống
1. Chuẩn bị ao
- Giai đoạn này chỉ nên ương nuôi cua trong ao đất. Cua bột có hình thái giống cua trưởng thành. Cua thích sống ở đáy, (chất đáy cát pha bùn), hoặc bám vào các thực vật thủy sinh, cua bột có thể sống được ở nước độ mặn 15‰ và thấp hơn, ăn các động vật nhỏ và thức ăn chế biến, rong, tảo. Ao ương cua bột lên cua giống có thể xây bên cạnh ao nuôi cua thịt. Ao ương có diện tích 200 - 500m vuông, sâu 0,8 - 1,2m. Bờ ao đắp chắc chắn ở giữa để cù lao đất 20% trên diện tích ao, cao hơn mực nước triều cao nhất 0,3 - 0,5m. Xây 2 cống lấy và thoát nước, có lưới chắn. Trên bờ ao, ở mép trong chắn lưới mùng cao trên 0,7m, chếch về phía trong ao 1 góc 65 độ. Vệ sinh ao: bón vôi, diệt tạp, bón phân, cho nước vào qua lưới lọc, độ sâu 0,6 - 0,8m. Ao được chuẩn bị một tuần trước khi cho cua bột xuống.

- Mật độ ương nuôi: 200 - 300 con/m vuông. Cua bột từ trại giống được vận chuyển đến chó thể bằng túi nhựa nylon có oxy hoặc bằng khay ẩm, tùy khoảng cách giữa trại giống đến ao ương. Độ mặn của ao ương không được sai lệch với trại giống qua 5‰. Cua bột đem rải đều quanh ao theo số lượng đã tính trước.

2. Cho ăn và chăm sóc
- Trong ao ương cua giống có thể gây màu nước cho phù du động vật phát triển làm thức ăn tự nhiên cho cua, nhưng chủ yếu phải cho cua ăn thức ăn chế biến từ các loại bột, cám, thịt cá, tôm, còng, nhuyễn thể xay nhỏ nấu chín. Thức ăn đem rải ven ao. Mỗi ngày cho ăn từ 6 - 10% trọng lượng cua, chia làm 2 lần: sáng sớm và chiều tối. Số lượng thức ăn tăng dần theo sinh trưởng , tăng trọng của cua. Có thể dùng giai đoạn cho ăn để kiểm tra sức ăn của cua để tăng giảm lượng thức ăn.

- Thay nước hằng ngày 20 - 30% nước, kiểm tra pH, oxy, nhiệt độ, độ mặn, bờ ao, chống mội, xói lở, hỏng rào, bệnh và các dịch hại vào trong ao, ngăn ngừa bắt cắp.

- Khoảng 10 ngày cân, đo đánh giá sinh trưởng của cua một lần. Từ 30 - 35 ngày cua đạt chiều rộng mai 2,5  -3,0cm. Trọng lượng 5g. Tỷ lệ sống đạt 40 - 60%. Cỡ cua này có thể chuyển sang ao lớn để nuôi cua thịt.

- Nếu cần cua giống cỡ lớn hơn thì phải san cua ra ao lớn hơn và nuôi mật độ thấp hơn.

Kỹ thuật sản xuất cua giống, Nguồn: Bộ Nông Nghiệp

Thứ Tư, 7 tháng 11, 2012

Đặc điểm sinh học Cua Biển

Đặc điểm sinh học Cua Biển

I. Đặc điểm hình thái cấu tạo và phân loại




Ngành: Arthropoda
Lớp: Crustacea
Lớp phụ: Malacostraca
Bộ: Decapoda (mười chân)
Họ: Portunidae
Giống: Scylla
- Cua biển có tên tiếng Anh là mud-crab, green crab, hay mangrove crab; tên tiếng Việt gọi là cua biển, cua sú, cua xanh, cua bùn, loài phân bố chủ yếu ở vùng biển nước ta là loài Scylla paramamosain (cua sen) và loài Scylla olivacea (cua lửa). Hai loài nầy là một trong những loài cua biển có kích thước lớn. Cua có thân hình dẹp theo hướng lưng bụng. Toàn bộ cơ thể được bao bọc trong lớp vỏ kitin dầy và có màu xanh lục hay vàng sẫm. Cơ thể cua được chia thành hai phần phần đầu ngực và phần bụng.
- Phần đầu ngực: là sự liên hợp của 5 đốt đầu và 8 đốt ngực nằm phía dưới mai. Do ranh giới giữa các đốt không rõ ràng nên việc phân biệt các đốt có thể dựa vào số phụ bộ trên các đốt: đầu gồm có mắt, anten, và phần phụ miệng. Mai cua to và phía trước có nhiều răng. Trước mai có hai hốc mắt chứa mắt có cuống và hai cặp râu nhỏ (a1) và râu lớn (a2). Trên mai chia thành nhiều vùng bằng những rãnh trung gian, mỗi vùng là vị trí của mỗi cơ quan
- Mặt bụng của phần đầu ngực có các tấm bụng và làm thành vùng lõm ở giữa để chứa phần bụng gập vào. Cua đực có 2 lỗ sinh dục nằm ở gốc của đôi chân bò thứ 5 và dính vào đó một dương vật ngắn. Cua cái có 2 lỗ sinh dục nằm ở gốc đôi chân bò thứ 3. - Phần bụng: Phần bụng của cua gấp lại phía dưới phần đầu ngực và tao cua có thân hình rất gọn. Phần bụng phân đốt và tùy từng giới tính, hình dạng và sự phân đốt cũng không giống nhau. (i) con cái trước thời kỳ thành thục sinh dục phần bụng (yếm) có hình hơi vuông khi thành thục yếm trở nên phình rộng với 6 đốt bình thường; (ii) con đực có yếm hẹp hình chữ V, chỉ có các đốt 1,2 và 6 thấy rõ còn các đốt 3, 4, 5 liên kết với nhau.
- Đuôi có một đốt nhỏ nằm ở tận cùng của phần bụng với một lỗ là đầu sau của ống tiêu hóa. Bụng cua dính vào phần đầu ngực bằng 2 khuy lõm ở mặt trong của đốt 1, móc vào 2 nút lồi bằng kitin nằm trên ức cua.




II. Đặc điểm sinh học
1. Tập tính sống
Vòng đời cua biển trãi qua nhiều giai đoạn khác nhau và mỗi giai đoạn có tập tính sống, cư trú khác nhau.
- Ấu trùng Zoea và Mysis: sống trôi nổi và nhờ dòng nước đưa vào ven bờ biến thái thành cua con.
- Cua con: bắt đầu sống bò trên đáy và đào hang để sống hay chui rúc vào gốc cây, bụi rậm đồng thời với việc chuyển từ đời sống trong môi trường nước mặn sang nước lợ ở rừng ngập mặn, vùng cửa sông hay ngay cả vùng nước ngọt trong quá trình lớn lên.
- Cua đạt giai đoạn thành thục: có tập tính di cư ra vùng nước mặn ven biển sinh sản. Cua có khả năng bò lên cạn và di chuyển rất xa. Đặc biệt, vào thời kỳ sinh sản cua có khả năng vượt cả rào chắn để ra biển sinh sản.
- Ấu trùng Zoea thích hợp với độ muối từ 25-30%o, cua con và cua trưởng thành thích nghi và phát triển tốt trong phạm vi 2-38 %o. Tuy nhiên, trong thời kỳ đẻ trứng đòi hỏi độ mặn từ 22-32 %o. Cua biển là loài phân bố rộng, tuy nhiên, nhiệt độ thích hợp nhất từ 25-30 oC. Cua chịu đựng pH từ 7.5-9.2 và thích hợp nhất là 8.2-8.8. Cua thích sống nơi nước chy nhẹ, dòng chy thích hợp nhất trong khong 0.06 - 1.6m/s.

2. Tính ăn
- Tính ăn của cua biến đổi tùy theo giai đoạn phát triển. Giai đoạn ấu trùng cua thích ăn thực vật và động vật phù du. Cua con chuyển dần sang ăn tạp như rong to, giáp xác, nhuyển thể, cá hay ngay cả xác chết động vật. Cua con 2-7cm ăn chủ yếu là giáp xác, cua 7-13cm thích ăn nhuyễn thể và cua lớn hơn thường ăn cua nhỏ, cá...
- Cua có tập tính trú ẩn vào ban ngày và kiếm ăn vào ban đêm. Nhu cầu thức ăn của chúng khá lớn nhưng chúng có kh năng nhịn đói 10-15 ngày.
- Cảm giác, vận động và tự vệ
- Cua có đôi mắt kép rất phát triển có kh năng phát hiện mồi hay kẻ thù từ bốn phía và có kh năng hoạt động mạnh về đêm. Khứu giác cũng rất phát triển giúp phát hiện mồi từ xa. Cua di chuyển theo lối bò ngang. Khi phát hiện kẻ thù, cua lẩn trốn vào hang hay tự vệ bằng đôi càng to và khỏe.




3. Lột xác và tái sinh
- Quá trình phát triển cua trãi qua nhiều lần lột xác biến thái để lớn lên. Thời gian giữa các lần lột xác thay đổi theo từng giai đoạn. ấu trùng có thể lột xác trong vòng 2-3 hoặc 3-5 ngày /lần. Cua lớn lột xác chậm hơn nửa tháng hay một tháng một lần. Sự lột xác của cua có thể bị tác động bởi 3 loại kích thich tố: kích thích tố ức chế lột xác, kích thích tố thúc đẩy lột xác và kích thích tố điều khiển hút nước lột xác.
- Đặc biệt, trong quá trình lột xác cua có thể tái sinh lại những phần đã mất như chân, càng...Cua thiếu phụ bộ hay phụ bộ bị tổn thương thường có khuynh hướng lột xác sớm hơn nên có thể ứng dụng đặc điểm này vào trong kỷ thuật nuôi cua lột.




4. Sinh trưởng của cua
Tuổi thọ trung bình của cua từ 2-4 năm qua mỗi lần lột xác trọng lượng cua tăng trung bình 20-50%. Kích thước tối đa của cua biển có thể từ 19-28cm với trọng lượng từ 1-3kg/con. Thông thường trong tự nhiên cua có kích cỡ trong khoảng 7.5-10.5 cm. Với kích cỡ tương đương nhau về chiều dài hay chiều rộng carapace thì cua đực nặng hơn cua cái.

Đặc điểm sinh học cua Biển, Viện Thủy sản - Đại học Cần Thơ.

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2012

Kỹ thuật nuôi Cua biển

Kỹ thuật nuôi Cua biển

Cua biển phân bố nhiều ở vùng biển nước ta, trong đó là cua xanh có tên khoa học là Scylla serrata (Forskal) là loài có kích thước tương đối lớn, có giá trị kinh tế cao...

Kỹ thuật nuôi cua biển

1. Đặc Điểm sinh học của cua biển :

Cua biển phân bố nhiều ở vùng biển nước ta, trong đó là cua xanh có tên khoa học là Scylla serrata (Forskal) là loài có kích thước tương đối lớn, có giá trị kinh tế cao.

Tính ăn :

Cua biển là loài ăn tạp nghiên về động vật. Giai đoạn ấu trùng thức ăn là những loài động vật phù du (luân trùng, moina, artemia…). Giai đoạn từ cua con đến cua trưởng thành thức ăn là cá, ốc, tép tươi sống.

Sinh trưởng :

Từ ấu trùng đến trưởng thành cua phải qua nhiều lần lột xác và qua mỗi lần lột xác thì thay đổi về kích thước và hình thái cấu tạo thực thụ của cua.

Ở giai đoạn ấu trùng và cua bột thời gian giữa các lần lột xác thường ngắn từ : 2-3 ngày hoặc 3-5 ngày. Ở giai đoạn cua trưỏng thành thường lột xác vào chu kỳ của thuỷ triều (đầu con nước).

Điều kiện môi trường sống :

pH : Cua sống vùng nước lợ có độ pH trong khoảng 7.5 – 9.5, thích hợp nhất là 7.5 – 8.2. Tuy nhiên cua có thể chịu đựng được trong nước có độ pH thấp hơn 6.5

Độ mặn : Cua có khả năng thích ứng cao với sự thay đổi độ mặn của nước. Cua có thể sống trong vùng nước gần như ngọt cho đến độ mặn 33 %0.

Nhiệt độ nước : Cua biển phân bố rất rộng và ở những vùng vĩ tuyến cao cua chịu đựng nhiệt độ nước thấp tốt. Ở vùng biển phía nam nước ta cua biển thích nghi với nhiệt độ nước từ 25 – 290C. Nhiệt độ cao thường ảnh hưởng xấu đến các hoạt động sinh lý của cua, là một trong nhưng nguyên nhân gây chết.

Nơi cư trú : Cua thích sống ở nơi có nhiều thực vật thuỷ sinh, có những vùng bán ngập, có bờ để đào hang, tìm nơi trú ẩn, nhất là thời kỳ lột xác. Vùng rừng ngập mặn cửa sông ven biển có nhiều cua sinh sống.

2. Kỹ Thuật Nuôi :

Xây dựng ao nuôi :

Ao nuôi cua con thành cua thương phẩm thường có diện tích từ 500m2 đến 5000m2. Đây là hình thức nuôi thâm canh : thả giống, cho ăn tích cực, chăm sóc quản lý chặt chẽ.

Địa điểm : Ao nuôi cần được xây dựng ở vùng dễ thay nước nhờ vào thuỷ triều để giảm chi phí. Ở những vùng có nguồn nước sạch, không bị ô nhiễm công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt, ít sóng gió mạnh và dòng chảy lớn. Bờ ao được đắp bằng đất (cũng có thể xây gạch nếu có khả năng đầu tư), bờ cần được nén kỹ để chóng mội, rò rỉ và sạt lỡ. Chân bờ ao rộng từ 3-4m, chiều cao từ 1.5 đến 2m, cao hơn mực nước triều cao nhất ít nhất là 0.5m. Mỗi ao nuôi nên có hai cống ở hai đầu đối diện nhau, nếu ao hình chữ nhật thì hai cống sẽ đặt ở hai bờ thuộc chiều rộng. Cống thoát đặt sát đáy và thông với kênh trong ao. Phía trong ao, cách bờ 2-3m đào một kênh rộng 3-4m bao quanh ao. Ở giữa ao đắp một cồn nổi cao hơn mặt nước ao 0.2-0.3m. Trong kênh nên bỏ thêm chà cho cua ẩn nấp. Làm đăng chắn quanh bờ không cho cua vượt bờ ra ngoài, có thể dùng lưới mùng loại thưa bao quanh, đăng tre, ….Đăng chắn phải nghiêng về phía trong ao một góc 600, đăng phải cao từ 0.8-1m.

Tuỳ theo độ phèn của đáy ao mà có cách xử lý cho phù hợp, nếu pH của đất dưới 6 thì rải vôi bột (CaCO3) cho đáy ao: tháo cạn nước rải vôi đều trên đáy ao, cả lòng kênh và mép bờ ao. Lượng vôi rải từ 7-10 kg/100m2 ao. Phơi đáy ao 2-3 ngày, sau đó cho nước ra vào 3-4 lần xả sạch nước phèn.

Độ mặn của nước : cua con trong giai đoạn sinh trưởng sống ở vùng nước lợ mặn 15- 25%0. Tuy vậy cua chịu sự thay đổi độ mặn rất lớn, cua sống và phát triển tốt ở độ mặn 5%0 đến 30%o.

Thả giống :

Nguồn cua giống cung cấp cho nghề nuôi cua chủ yếu dựa vào nguồn giống tự nhiên. Nguồn cua giống thu được ở hàng đáy, ghe cào ở các cửa sông, tìm bắt ở các bãi sình vùng ngập mặn.

Kỹ thuật nuôi cua biển

Cua giống có các cỡ :

Loại nhỏ 60-120 con/kg

Loại vừa 25-50 con/kg

Loại lớn 10-15con/kg

Tốt nhất là nên thu mua cua giống từ vùng lân cận và sau khi đã đánh bắt được chuyển nhanh về nơi thả nuôi. Tính toán số lượng cần thả đặt mua trong mấy ngày liên tục để thả cua vào ao nuôi trong thời gian tương đối ngắn.

Trong từng ao nên thả cua cùng cỡ. Cũng có thể chọn cỡ cua theo mong muốn ngay ở nơi cung cấp cua giống, hoặc tuyển chọn trước lúc thả nuôi.

Mật độ thả:

Cua nhỏ 3-5 con/m2, loại vừa 2-3 con/m2, cỡ lớn 0.5-1 con/ m2. Thả giống ở nhiều điểm khác nhau trong ao. Cắt bỏ dây buộc, buông từ từ cua trên mép bờ để cua tự bờ xuống nước. Đây là cách để kiểm tra tình trạng sức khoẻ của cua : những con khoẻ mạnh nhanh chóng chạy xuống nước, những con yếu thường nằm tại chổ hoặc bò chậm. Những con như vậy thu lại cho vào giai đểtheo dõi, nếu phục hồi thì thả xuống ao. Mỗi ao nên thả giống trong một hai ngày cho đủ số lượng.

Kỹ thuật nuôi cua biển

Quản lý, chăm sóc :

Cho ăn : cua nuôi trong ao chủ yếu dựa vào thức ăn cung cấp hàng ngày, lượng thức ăn tự nhiên trong ao không có nhiều. Thức ăn chủ yếu là thức ăn tươi sống : cá vụn, còng, ba khía, đầu cá … Lượng thức ăn hàng ngày khoảng 4 – 6% trọng lượng cua, cua thường hoạt động bắt mồi vào buổi tối. Mỗi ngày cho cua ăn một lần vào thời gian từ 17 – 19h. Thức ăn được rải đều quanh ao để cua khỏi tranh nhau. Có thể dùng sàng ăn để kiểm tra sức ăn của cua. Định kỳ thu mẫu để tính sản lượng cua có trong ao mà điều chỉnh lượng thức ăn cho vừa đủ. Sau 2-3 giờ cho ăn kiểm tra sàng ăn, nếu cua ăn hết thức ăn trong sàng thì có thể tăng lượng thức ăn, nếu thức ăn vẫn còn thì giảm lượng thức ăn.

Hàng ngày phải cho cua ăn, không được để cua đói. Những cua lớn bị đói sẽ giết những cua nhỏ ăn thịt. Vì vậy nuôi cua phải có thức ăn dự trữ. Những ngày không có thức ăn tươi sống thì cho cua ăn thức khô : cá vụn, tép, moi phơi khô. Trước lúc rải xuống ao cho cua ăn nên ngâm cá khô vào nước vài chục phút cho cá mềm ra.

Việc đảm bảo môi trường nước trong sạch rất quan trọng đối với cua, nhất là nuôi mật độ dày cho ăn thức ăn tươi sống. Ở những nơi có thuỷ triều lên xuống hằng ngày cần thay nước thường xuyên. Mỗi ngày thay từ 20-30% lượng nước trong ao. Một tuần thay toàn bộ nước trong ao một lần. Khi thay nước nên lấy nước ở tầng dưới và tầng giữa tránh lấy nước ở tầng mặt hay bị ô nhiễm. Nước mới trong sạch kích thích cua hoạt động, ăn nhiều, lột xác tốt.

Thường xuyên kiểm tra tình trạng bờ, cống, rào chắn tránh thất thoát cua.

Trong thời gian nuôi khoảng 2 tuần một lần bắt cua cân đo để xem sinh trưởng của cua, xem xét tình trạng của cua : cua nhanh nhẹn, không bị ký sinh ngoài vỏ, xem trong xoang mang có bị ký sinh hay không. Nếu có hiện tượng bị nhiễm bệnh thì phải tìm nguyên nhân và biện pháp xử lý.

Thời gian cuối của vụ nuôi trọng lượng cua trong ao tăng lên, cho ăn thức ăn nhiều nên môi trường rất dễ bị nhiễm bẩn. Cho nên việc thay nước thường xuyên kiểm tra môi trường rất có ý nghĩa. Trong một số trường hợp, đáy ao tích tụ nhiều thức ăn thừa, thối rữa, có thể phải tháo cạn, gạn cua và làm vệ sinh đáy ao : cào bỏ lớp bùn trên mặt và thức ăn thừa thối rữa đi.

Thu hoạch :

Đánh thử cua lên kiểm tra chất lượng. Cua thường phẩm phải đạt 250g/con trở lên. Cua chắc thịt hoặc đã đầy gạch (cua cái). Khi thấy cua đã đạt tiêu chuẩn, được giá thì thu hoạch cua để bán.

Kỹ thuật nuôi cua biển

Những cua chưa đạt kích thước, trọng lượng, cua ốp hoặc chưa đầy gạch nếu còn khoẻ mạnh thì có thể đem nuôi ở các ao nhỏ, nuôi vỗ tích cực sau một thời gian đạt tiêu chuẩn thu hoạch bán sẽ được giá hơn.

Nuôi cua thương phẩm từ cua con, thời gian từ 3 – 8 tháng thường tỉ lệ hao hụt tương đối lớn (40 – 60%) nhưng trọng lượng cua tăng từ 3 – 4 lần (tăng từ 60-80g/con lên 250-350g/con). Tổng trọng lượng của cua thương phẩm tăng từ 1.5 – 2 lần tổng trọng lượng cua giống.

Một số điểm cần chú ý để nuôi cua thành công :

- Cua giống phải đồng cỡ, thả cùng một lúc;

- Phải có đủ nguồn nước trong sạch để thay thường xuyên;

- Phải có đủ nguồn thức ăn tươi sống;

- Phải có đăng chắn ở trên bờ ao;

- Trong ao phải có các ụ chà làm nơi trú ẩn cho cua.

Nguyễn Thanh Bình

Kỹ thuật nuôi cua biển Theo Khuyến ngư Kiên Giang

Thứ Hai, 24 tháng 9, 2012

Thông tin về Cua Huỳnh Đế

Thông tin về Cua Huỳnh Đế


Thông tin về Cua Huỳnh Đế by TSTB | Thong tin ve cua huynh de
1. Phân loại
- Ngành: Arthropoda
- Lớp: Malacostraca
- Bộ: Decapoda
- Họ: Raninidae
- Giống: Ranina
- Loài:Ranina ranina Linnaeus, 1758
- Tên gọi:
+ Tên Tiếng Anh: Red frog crab
+ Tên Tiếng Việt: Cua huỳnh đế
+ Tên khác: Spanner crab

2. Đặc điểm sinh học và phân bố
a) Đặc điểm sinh học
- Cua huỳnh đế to bằng bàn tay xòe, mình khum tròn, nhìn giống con bọ khổng lồ hay có con hình dáng như loài rùa, đầu cua hơi chúi xuống, có màu đỏ hồng, mai hình vuông, càng và que ngắn, đầu cua dài và có nhiều râu. Cua Huỳnh đế có những con ở vùng biển nước sâu nặng hơn 1 ký.
 

- Cua có bộ áo giáp dày và cứng có màu vàng rực như hoàng bào hay chiến bào, li ti gai nhọn xuôi theo thân, que và càng to, cạnh sắc lẻm như dao. Thịt cua huỳnh đế thơm ngon, bổ dưỡng, thớ thịt cua săn chắc, trắng muốt nhô và độ đạm cao.

b) Phân bố
Cua phân bố nhiều ở vùng biển phía Đông Nam Thái Bình Dương. Ở Việt Nam, cua Huỳnh đế xuất hiện nhiều ở vùng biển sạch, có đáy cát vàng và nguồn nước trong xanh như các vùng biển Quy Nhơn (Bình Định), Tuy Phong (Bình Thuận), Sa Huỳnh (Quảng Ngãi). Đây là một loài hải sản có giá trị kinh tế cao và được làm nguyên liệu chế biến thành những món đặc sản.

c) Tập tính
Cua Huỳnh đế chỉ rộ nhất vào mùa xuân, khoảng từ tháng 12 đến tháng 3 âm lịch ở Việt Nam. Thông thường những tháng mùa xuân, biển trở ngọn gió nồm, rất êm nên khuyến khích loại cua sinh sản và đi tìm thức ăn.

3. Hiện trạng
- Cua huỳnh đế là đặc sản từ vùng biển Quảng Ngãi đến Bình Định. Loài cua này trước đây dùng để tiếng cống cho các vị vua ở Việt Nam vì tương truyền họ ăn thấy ngon, tốt cho sức khỏe. Cua huỳnh đế có thể chế biến các món như rang me, rang muối, nướng... nhưng ngon nhất và đơn giản trong chế biến vẫn là món hấp ăn với muối tiêu ớt xanh hoặc luộc lấy thịt phi hành, gia vị rồi nấu cháo. So với các loại hải sản khác, cua Huỳnh đế khẳng định đẳng cấp về chất lượng mà lâu nay được ví ngang với cá tuyết đen, cá hồi đỏ...

- Về khai thác ở Việt Nam, khoảng cuối đông đến tháng tư năm sau, khi gió xuân về là lúc ngư dân vào mùa đánh bắt cua huỳnh đế. Giã cào, lưới đánh đằm... là những phương tiện đánh bắt cua thường thấy. Ngư dân miền Trung Việt Nam có thể đánh bắt bằng lưới giã cào, nhưng để có được những chú cua với số lượng nhiều, chắc thịt thì phải dùng một dụng cụ gọi là rập. Rập để bẫy cua huỳnh đế có hình dạng như chiếc nón, được gắn mồi tươi ở chính giữa. Mỗi thuyền ra khơi thường trang bị từ 200 - 300 cái rập, khi thả mỗi cái cách nhau chừng 5m. Cua rúc vào đó ăn mồi và sập bẫy trong các rập.

Thứ Năm, 26 tháng 7, 2012

Kỹ thuật nuôi Cua Biển trong ao đất

Kỹ thuật nuôi Cua Biển trong ao đất


Kỹ thuật nuôi cua biển trong ao đất by TTKNQG | Ky thuat nuoi cua bien trong ao dat

Cua biển (Scylla paramamosain) là một trong những đối tượng có giá trị kinh tế và xuất khẩu cao bởi hàm lượng mỡ thấp, protein cao, dồi dào về khoáng chất và vitamin. Con cua được xem là đối tượng nuôi xoá đói giảm nghèo của bà con ngư dân vùng biển. Những năm gần đây, nghề nuôi cua thương phẩm phát triển khá mạnh. Quy trình nuôi cua thương phẩm trong ao đất như sau:


1. Chuẩn bị ao nuôi
- Ao nuôi cua thường rộng khoảng 5.000m2, có cống cấp và thoát nước riêng. Chọn ao ở vùng chất đất ít bị nhiễm phèn, chất đáy là bùn pha cát, thịt pha sét, không có qúa nhiều bùn nhão, lớp bùn <20cm, pH từ 7,5 – 8,2 và độ mặn từ 10 - 25‰. Đào mương sâu 0,5 - 0,7m từ cống này đến cống bên kia. Mương có độ dốc xuôi từ cống cấp đến cống tiêu nước. Trong ao tạo nhiều gờ nổi diện tích mỗi gờ từ 10 - 100 m2 tuỳ diện tích ao. - Tháo cạn nước và bón vôi với lượng bón khoảng 6kg/100m2. Phơi nắng 5 - 10 ngày cho đáy ao đến khi nứt nẻ. Tiến hành thả chà và lấy nước qua lưới lọc vào ao, mức nước là 0,6 - 0,8m. Chà được làm bằng các loại cành cây như: bần, đước... được phơi khô và bó lại thành bó. - Gây màu nước bằng phân urê: 2kg/1000m2, NPK (20:20:0): 2kg/1000m2. Ngoài ra có thể dùng phân gà để bón cho ao. Phân được hòa tan với nước ngọt, tạt xuống ao vào lúc 9 - 10h sáng. - Làm đăng chắn quanh bờ không cho cua vượt bờ ra ngoài, có thể dùng lưới ruồi bao quanh, đăng tre, ….Đăng,lưới chắn phải nghiêng về phía trong ao một góc 450, đăng phải cao từ 0,8 - 1m. 2. Thả giống
- Nguồn giống là nguồn cua sản xuất nhân tạo, cua bột có kích thước 0,5 – 0,7cm được ương lên giống 2 - 5cm, chất lượng tốt, đủ các phần phụ và mạnh khỏe. giống khỏe mạnh, đồng cỡ, màu sắc tươi sáng, không bệnh


- Mật độ thả: cõ cua 1,5 - 2 cm thả 1con /m2. Nên thả cua vào buổi sáng, cua được thả đều khắp ao. Thả cua sát mép nước để cua tự bò xuống. Trước khi thả cần chú ý sự chênh lệch độ mặn, nếu độ mặn quá chênh lệch ta cần thuần hoá rồi mới thả. Nên thả vào lúc nhiệt độ còn thấp (7 – 9 giờ sáng).

3. Cho ăn
- Trong nuôi quảng canh nguồn thức ăn chủ yếu là tự nhiên. Tuy nhiên khi thức ăn tự nhiên trong ao nuôi nghèo nàn ta nên cho cua ăn thêm thức ăn chế biến.
Thức ăn chủ yếu là thức ăn tươi sống như cá tạp, …Những ngày không có thức ăn tươi sống thì cho cua ăn thức khô : cá vụn, tép, moi phơi khô,..., trước lúc rải xuống ao cho cua ăn nên ngâm cá khô vào nước cho cá mềm ra.

- Lượng thức ăn hàng ngày khoảng 4 – 6% tổng khối lượng cua trong ao.
Cách tính tổng khối lượng cua trong ao: Khoanh 5 điểm khác nhau ( 4 góc và 1 ở giữa ao) có diện tích khỏang 4 - 5m2 rồi bắt sạch cua ở mỗi điểm.

- Tổng số cua A (con) = [Tổng số cua bắt được B (con) x diện tích ao]/(5 x diện tích 1 điểm bắt).

- Khối lượng cua trong ao M (kg) = [(Tổng khối lượng cua bắt được x A (con)]/B (con)
Cua thường hoạt động bắt mồi vào buổi tối. Vì vậy, mỗi ngày cho cua ăn một lần vào thời gian từ 17 – 19h. Thức ăn được rải đều quanh ao để cua khỏi tranh nhau.

- Dùng sàng ăn để kiểm tra sức ăn của cua. Sau 2-3 giờ cho ăn kiểm tra sàng ăn, nếu cua ăn hết thức ăn trong sàng thì có thể tăng lượng thức ăn, nếu thức ăn vẫn còn thì giảm lượng thức ăn.

4. Chăm sóc, quản lý
- Mỗi ngày thay 20 - 30% lượng nước trong ao. Một tháng nên thay toàn bộ nước trong ao 2 lần.


- Nước trong sạch kích thích cua hoạt động, ăn nhiều, lột xác tốt.

- Định kỳ thu mẫu để tính sản lượng cua có trong ao mà điều chỉnh lượng thức ăn cho vừa đủ hoặc định kỳ 10 ngày bắt cua lên kiểm tra tốc độ sinh trưởng và tình trạng sức khoẻ của cua để có giải pháp xử lý kịp thời

- Thường xuyên kiểm tra tình trạng bờ, cống, rào chắn, tránh thất thoát cua.

5. Thu hoạch
- Sau 04 tháng nuôi, cua đạt tỉ lệ sống trung bình trênn 50%, kích cỡ thương phẩm 0,25 – 0,3 kg/con, ta tiến hành thu cua.

- Thu toàn bộ: Khi cua giống đạt kích cỡ yều cầu, thu hết giá thể mà cua trú ẩn, rồi tiến hành xả cạn bắt cua. Có thể thu tỉa bằng thả rập.

Thứ Tư, 4 tháng 7, 2012

Tây Ban Nha phát hiện loài Cua Biển mới

Tây Ban Nha phát hiện loài Cua Biển mới


Tây Ban Nha phát hiện loài cua biển mới by TSTB | Tay ban nha phat hien loai cua bien moi

Một nhóm các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra một loài cua mới trong một chuyến thám hiểm khoa học được thực hiện bởi Viện Hải dương học Tây Ban Nha (IEO) tại Bờ Galicia (Galician Bank).


- Sau phát hiện này, Keiji Baba và Enrique Macpherson, các nhà nghiên cứu tại Đại học Kumamoto và Trung tâm Nghiên cứu nâng cao Blanes (CSIC), đã thực hiện một số nghiên cứu và xác nhận rằng đó là loài thứ năm trong họ Chirostylidae.

- Mặc dù có quan hệ họ hàng, nhưng loài cua mới lại không gần gũi với nguồn gốc châu Âu mà giống nhiều hơn với loài Uroptychus armatus, sống ở vùng biển Caribê.

- Là một phần của dự án Life+Indemares, cuộc khảo sát này được tiến hành với tàu nghiên cứu Miguel Oliver và do Alberto Serrano - nhà nghiên cứu của Trung tâm Hải dương học của IEO ở Santander - chỉ đạo.

- Cuộc khảo sát mang tên Bangal 0711 có0 mục tiêu chính là nghiên cứu cấu trúc và động lực dưới độ sâu tại Galician Bank.

- Trong số nhiều mẫu khác nhau, loài giáp xác nhỏ màu cam đo được không quá 7 cm chiều dài đã được tìm thấy ở độ sâu hơn 1.400m.

- Loài này sống nhờ vào san hô và san hô sừng, vốn rất phổ biến trong ở Galician Bank, nơi chúng tạo thành một môi trường sống rất đặc trưng.

- Các nhà khoa học đặt tên loài của mới này là Uroptychus cartesi sau khi Joan E. Cartes, một nhà nghiên cứu tại Viện Khoa học biển Barcelona, có những đóng góp quan trọng trong việc tìm hiểu các loài động vật biển sâu Iberia.

- Nghiên cứu do IEO thực hiện tại Galician Bank cho thấy sự phù hợp của khu vực này từ góc nhìn của đa dạng sinh học của các loài sinh vật biển và môi trường sống của chúng.
IEO có 9 trung tâm hải dương học ven biển, 5 nhà máy cho các thí nghiệm văn hóa biển, 12 trạm thủy triều, 1 trạm tiếp nhận hình ảnh vệ tinh và một hạm đội tàu hải dương học, trong đó nổi bật có tàu Cornide de Saavedra, Ramon Margalef và Angeles Alvariño.

Thứ Hai, 28 tháng 5, 2012

Kỹ thuật ương Cua Xanh

Kỹ thuật ương Cua Xanh


Kỹ thuật ương cua xanh by TT KNKN VN | Ky thuat uong cua xanh

Cua bột 1,2 có thể thả trực tiếp xuống ao nuôi cua thịt nếu như đáy ao nuôi được cải tạo triệt để, có lưới chắn xung quanh bờ, nước nuôi được xử lý từ ao chứa và phải được loại bỏ tôm cá tạp… trước khi lấy vào ao nuôi. Tuy nhiên, phần lớn các ao nuôi cua khó có thể làm được điều đó nhất là việc nuôi cua trong hệ sinh thái rừng ngập mặn. Vì vậy, cua thả nuôi phải đạt kích cỡ lớn hơn để bảo đảm tỉ lệ sống cao hơn.


Tuỳ theo điều kiện môi trường ao nuôi, số lượng và giá cả con giống, kỹ thuật quản lý và mật độ thả mà kích cỡ cua giống thả nuôi khác nhau. Có nhiều hình thức để ương nuôi cua bột thành cua giống: ương trong hồ xi măng, ương trong giai, ương trong ao đất.

I. Ương cua bột trong hồ xi măng
1. Chuẩn bị hồ ương
Hồ xi măng dùng để ương cua thường có kích thước lớn, có thể từ 40 - 70 m2. Chuẩn bị hồ ương theo các bước sau:
- Tháo cạn nước và phơi đáy hồ.

- Vệ sinh tẩy trùng bể bằng chlorin.

- Chà sạch lại bể bằng xà phòng và rửa lại bể bằng nước sạch.

- Đáy hồ có thể thực hiện một trong các cách sau:
+ Rải đều, dày vỏ hến hoặc vỏ sò, nghêu…
+ Đổ một lớp cát mịn, sạch, dày từ 3 - 5 cm
+ Rải đều các cành san hô nhỏ, ống nước Ф 21.

- Cấp nước biển vào hồ, nước đã để lắng hoặc qua lọc thô có độ mặn từ 20-23‰. Chiều cao mực nước từ 40 - 60 cm.

- Bắt sục khí đều khắp hồ, cứ 2 m2 thì một viên đá bọt.

- Treo hoặc thả đều vật bám bằng lưới phong lan trong hồ.

- Mật độ thả ương từ 200 – 3.000 con/m2.

- Thời gian ương từ 7 - 15 ngày thì kích cỡ giống có thể đạt từ 1 - 1,7 cm với tỉ lệ sống khoảng 60 - 80%.

2. Quản lý và chăm sóc
- Trong những ngày đầu cua ương còn nhỏ, do đó việc chuẩn bị thức ăn ở thời gian 3-5 ngày đầu cơ bản giống như thức ăn chế biến trong giai đoạn Megalop, cua bột 1. Nguyên liệu chế biến thức ăn cơ bản như sau:
+ Trứng gà: 5 quả, lấy lòng đỏ.
+ Cá thu tươi: 300 g, lóc lấy thịt, bỏ da, xương.
+ Tôm nhỏ: 200 g bóc bỏ vỏ.
+ Hến hoặc hầu: 350 g.

- Xay nhỏ riêng biệt từng nguyên liệu trên, sau đó trộn thật đều cho vào tô sứ lớn đem hấp cách thuỷ, để nguội và giữ trong tủ lạnh cho ăn dần.

- Hàng ngày cho ăn 3 lần: 6 giờ sáng, 3 giờ chiều, 11 giờ đêm. Kiểm tra lượng thức ăn mà chúng sử dụng để điều chỉnh tăng giảm, tránh dư thừa làm ô nhiễm môi trường nước. Đặc biệt là không để thiếu thức ăn sẽ tăng nguy cơ ăn thịt lẫn nhau, tỷ lệ sống rất thấp, khả năng phân đàn cao.

- Sau ngày thứ 5, có thể sử dụng cá tươi, cá tạp, cua ghẹ, giáp xác nhỏ… đem hấp cách thủy, loại bỏ xương, lọc qua rổ nhựa có mắt lưới phù hợp, khi cho ăn dùng ca tạt đều khắp hồ.

- Sau 3 ngày từ lúc thả ương, nên cấp thêm 1/3 nước mới và giảm độ mặn từ 2 - 3 ‰ giúp chúng lột xác và chuyển đồng loạt hơn. Sau 7 - 8 ngày thay 1/3 lượng nước, kích thích cua lột xác phát triển, sau 11 - 12 ngày thay ½ - 2/3 lượng nước trong hồ ương, có thể tiếp tục giảm độ mặn 1 - 2‰.

- Sau 15 ngày ương, cua bột 1có thể trải qua 3 - 5 lần, lột xác để trở thành cua 5 - 6. Số lần lột xác phụ thuộc vào chế độ cho ăn, hàm lượng dinh dưỡng có trong thức ăn và việc xử lý nước trong hồ ương. Khi đạt kích cỡ mong muốn ta có thể tiến hành thu hoạch và vận chuyển đến ao nuôi cua thương phẩm.

II. Ương nuôi cua bột trong ao đất
- Ao đất dùng để ương cua bột phải nằm trong khu vực có độ mặn thấp như vùng cửa sông, nơi có nguồn nước ngọt, vùng đầm phá… phù hợp đặc tính sinh học của chúng. Ao phải có cống cấp thoát nước và chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều, thuận tiện cho việc thay nước, kích thích sự lột xác của chúng.

- Cua bột ương trong ao đất thường có 2 hình thức:
+ Ương cua bột trực tiếp ao ương giống như ương tôm post, ương kiểu này thường chi phí thấp, tỷ lệ sống cao hơn nhưng lại khó thu hoạch. Do vậy ương trong ao đất khi nhu cầu con giống có kích thước lớn với thời gian ương dài.
+ Ương cua bột trong giai: giai này cắm trong ao ương, kích thước giai: 2m x 10 m, có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn tuỳ theo người sử dụng. Chiều cao từ 80 - 100 cm. Đáy giai đặt chìm trong lớp đất bùn của ao ương từ 2 - 3 cm. Miệng giai cao hơn mặt nước 20 - 30 cm. Hình thức ương này có những ưu điểm sau:
. Chủ động trong việc thu hoạch.
. Môi trường nước thông thoáng nên có thể nuôi mật độ dày hơn.
. Thay nước thuận tiện nhờ dựa trên chế độ thuỷ triều.
. Cua ương có thể sử dụng một phần thức ăn tự nhiên có trong ao ương.

- Quản lý và chăm sóc:
+ Chế độ cho ăn giống như ương cua trong bể xi măng. Tuy nhiên khó xác định chính xác lượng thức ăn mà chúng sử dụng. Vì vậy, phải đặt nhá trong giai để kiểm tra thức ăn và tốc độ tăng trưởng của chúng.
+ Thường sau 3 ngày thả giống thay ¼ lượng nước trong ao.
+ Sau 7 ngày thay 1/3 lượng nước trong ao.
+ Sau 12 ngày thay ½ lượng nước trong ao.

- Việc thay nước này sẽ kích thích sự lột xác diễn ra dễ dàng hơn, cường độ bắt mồi tốt hơn và khả năng tăng trưởng nhanh.

- Sau 15 ngày có thể nhắc giai thu hoạch toàn bộ cua ương, xác định tỉ lệ sống, khả năng tăng trưởng, vận chuyển cua ương bằng phương pháp vận chuyển hở đến ao ương thương phẩm.

Chủ Nhật, 27 tháng 5, 2012

Kỹ thuật ương Cua Biển

Kỹ thuật ương Cua Biển


Kỹ thuật ương cua biển by TT KN Huế | Ky thuat uong cua bien

Cua là đối tượng nuôi cho hiệu quả kinh tế cao. Thường đươc bà con chúng ta ghép với tôm sú. Nguồn giống trước đây chủ yếu được bà con khai thác ngoài tự nhiên. Do nhiều nguyên nhân nên kết quả tỷ lệ sống rất thấp. Từ đầu năm 2008 được sự hỗ kinh phí của Dự Án FSPS II, Trung Tâm Giống Thuỷ sản nước lợ mặn đã chuyển giao công nghệ sản xuất giống cua bằng phương pháp nhân tạo đến nay đã đạt được kết quả bước đầu. Việc sản xuất cua giống thành công tại Thừa Thiên Huế sẽ giải quyết khó khăn về cua giống cho ương nuôi cua thương phẩm. Để giúp bà con ương nuôi cua biển đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao, Trung Tâm khuyến nông lâm ngư Thừa thiên Huế sẽ hướng dẫn bà con kỹ thuật ương cua biển từ nguồn sinh sản nhân tạo.


1. Chuẩn bị ao ương
- Ao đất dùng để ương cua bột phải nằm trong khu vực có độ mặn phù hợp thấp như vùng cửa sông, nơi có nguồn nước ngọt, vùng đầm phá… phù hợp đặc tính sinh học của chúng. Ao phải có cống cấp thoát nước và chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều, thuận tiện cho việc thay nước, kích thích sự lột xác của chúng.

- Cải tạo ao: Ao phải được tháo cạn nước, nhiệt hết cá tạp, phơi đáy ao từ 5 – 7 ngày, san phẳng toàn bộ đáy ao , tu sửa lại bờ ao, bón vôi với liều lượng từ 7 - 10kg/100m2. Dùng lưới có kích thước mắt lưới 2a = 2cm chắn xung quanh bờ ao, lưới chắn phải có góc nghiêng vào bên trong ao so với bờ ao là 45o nhằm để bảo vệ cua bò ra.

- Cấp nước: Nước cấp vào ao phải qua lướ lọc mắt lưới đạt 70 - 80cm, nước co độ mặn từ 12 - 20o/oo, pH = 7,5 - 8,5, các yếu tố khác đảm bảo theo tiêu chuẩn thì tiến hành thả cua giống.

2. Thả giống
- Cần phải thông báo cho trại sản xuất giống biết độ mặn ao ương cua để trại chủ động cân bằng độ mặnvới ao ương.

- Thả cua vào buổi sáng hoặc chiều lúc trời mát. Tránh những ngày có thời tiết xấu.

- Mật độ thả: Từ 30 - 50 con/m2.

3. Chăm sóc và quản lý
- Chuẩn bị thức ăn cho 3 - 5 ngày đầu: nguyên liệu ,gồm (trứng gà 30%; thịt tôm, cua hàu bóc vỏ: 50%; bột mì: 15%; đầu hoặc nội tạng mực5%; vitamin:0,01%).Tất cả trộn đều và xay mịn sau đó hấp cách thuỷ, để nhuội dùng mắt lưới nhỏ xa thức ăn tạo thành viên cho cua ăn.

- Sau ngày thứ 5 trở đi cho cua ăn thịt cá tạp, nhuyển thể, giáp xác hấp cách thuỷ rồi băm nhỏ cho cua ăn. Lượng thức ăn từ 10 - 15% trọng lượng cua thả.

- Hàng ngày cho cua ăn 2 lầnvào buổi sáng (8 - 9 giờ) và buổi chiều (17 - 18 giờ).

- Quản lý nước ao ương:
+ Sau 5 ngày kể từ ngày thả giống tiến hành thay 1/3 lượng nước trong ao để kích thích cua lột xác phát triển.
+ Từ ngày thứ 10 trở đi: 5 ngày thay nước 1 lần,mỗi lần thay 1/2 lượng nước.

4. Thu hoạch
- Thu cua bằng vó: Cho thức ăn vào vó, lừ nhử cua vào vó sau đó kéo lên chọn những con đạt tiêu chuẩn đẻ thả nuôi cua thương phẩm.

- Thu toàn bộ: Tháo cạn nước để bắt toàn bộ cua giống.

Bài đăng phổ biến