Hiển thị các bài đăng có nhãn Vịt Nuôi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vịt Nuôi. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2012

Kỹ thuật nuôi Vịt lấy trứng

Kỹ thuật nuôi Vịt lấy trứng


Kỹ thuật nuôi vịt lấy trứng by HND CT | Ky thuat nuoi vit lay trung

1. Chọn vịt nuôi sinh sản
Chọn vịt lên giai đoạn sinh sản lúc 21 - 22 tuần tuổi. Thời điểm này tỷ lệ loại thải thấp hơn thời điểm chọn lên hậu bị. Loại thải những con không đạt tiêu chuẩn giống như bị bệnh, ngoại hình có khuyết tật... Vịt trống được chọn khắt khe hơn và ghép trống mái theo tỷ lệ 1 : 5,5 - 6. Khi sắp đẻ, vịt đã thay lông xong, bộ lông mượt trở lại. Nhìn bộ lông có thể đánh giá tương đối chính xác chất lượng nuôi dưỡng giai đoạn hậu bị.


2. Chuồng trại, ao hồ
- Chuồng nuôi vịt đẻ cũng có các kiểu chuồng như chuồng - sân - ao, chuồng sàn trên ao. Yêu cầu đối với chuồng nuôi là nền chuồng phải khô ráo, tránh chuột và các động vật khác phá ổ trứng. Tránh mưa nắng cho ổ đẻ.

- Ổ đẻ được để sát vách chuồng. Ổ đẻ phải làm phía trong chuồng để khi vịt từ ao lên, đi qua sân chơi vào chuồng đến ổ đẻ thì chân đã khô, không làm dơ ướt ổ đẻ. Có thể ngăn riêng cho khu vực ổ đẻ, sau 8 giờ sáng ngăn khu vực này lại để tránh vịt vào nằm trong ổ đẻ làm dơ ổ đẻ.

- Lót nền chuồng và ổ đẻ bằng rơm khô, cỏ khô, trấu. Đặc biệt chú ý lót ổ đẻ, phải thay thường xuyên để tránh ẩm ướt và mốc. Trong điều kiện ẩm ướt, nấm và vi khuẩn rất dễ phát triển. Ổ đẻ được làm bằng gỗ, tre, tấm cót,... thành từng ô có kích thước 40x60x40 cm (Xem hình 1). Tính trung bình, mỗi ô cho 4 - 6 con mái đẻ.

- Nếu làm chuồng sàn trên ao cá, trước hết chúng ta lót sàn ở chỗ đặt ổ đẻ bằng tấm cát-tăng, cót... rồi mới đặt ổ đẻ lên, nhằm tránh cho rơm, trấu rơi xuống ao.

- Ao nuôi vịt đẻ có độ sâu 1,2 mét trở lên. Nước phải được thay sạch sẽ để đảm bảo tỷ lệ đẻ và tỷ lệ phôi. Cần chú ý cầu ao, với độ nghiêng không quá 25 độ và mặt cầu không trơn trượt, không gồ ghề để tránh dập vỡ buồng trứng.

3. Mật độ nuôi
Mật độ tốt nhất để nuôi từ 2 – 3 con/m2 nền chuồng.

4. Quản lý chăm sóc
a) Thức ăn, nước uống
- Thức ăn cho vịt đẻ nuôi nhốt có hai dạng phổ biến sau, tùy điều kiện kinh tế và tính toán hiệu quả theo giá cả thị trường mà chọn loại hình đầu tư thức ăn cho phù hợp.

- Nuôi vịt đẻ hoàn toàn bằng thức ăn hỗn hợp (thức ăn viên). Dùng thức ăn viên có chi phí thức ăn tương đối cao, nhưng bù lại là sự thuận tiện, dễ sử dụng, chủ động về số lượng, theo dõi mức ăn hằng ngày dễ dàng,... Trên thị trường hiện nay có nhiều loại thức ăn cho vịt đẻ. Không được nhầm lẫn thức ăn vịt đẻ hướng trứng (thường có tỷ lệ protein thấp hơn) với thức ăn cho vịt đẻ hướng thịt cao sản này. Tránh thay đổi liên tục loại thức ăn, như vậy sẽ ảnh hưởng đến năng suất vịt đẻ. Điều quan trọng là nguồn thức ăn phải ổn định về chất lượng, nguyên liệu đầu vào sản xuất thức ăn phải đảm bảo chất lượng và vệ sinh.

- Một phương thức khác hiện nay nhiều hộ nuôi vịt đẻ CV Super-M2 cải tiến áp dụng khá hiệu quả là kết hợp thức ăn viên hỗn hợp và nguồn thức ăn tự nhiên như ốc tươi, còng tươi và lúa. Chúng tôi khuyến cáo không nên thay toàn bộ thức ăn hỗn hợp bằng thức ăn tự nhiên, vì nguồn thức ăn tự nhiên thay đổi theo mùa vụ, con nước nên không thể chủ động về số lượng, chất lượng. Chỉ nên dùng theo công thức 70 - 80% thức ăn viên cùng 20 - 30% được thay bằng hỗn hợp lúa, ốc tươi, còng tươi. Cứ 1 kg thức ăn viên vịt đẻ được thay bằng 1,1 - 1,2 kg lúa kết hợp cùng 0,8 - 0,9 kg ốc tươi. Nếu dùng còng tươi, do giá còng đắt (3.500 – 4.000 đồng/kg so với ốc bươu vàng chỉ 700 – 1.200 đồng/kg), nên lượng còng tươi dùng ít hơn, khoảng 20 - 30 gam/con/ngày.
Tỷ lệ vật chất khô và prôtêin thô của lúa và một số mồi tươi
- Vịt đẻ cho ăn 2 bữa/ngày. Cho vịt ăn vào lúc trời mát. - Sử dụng máng ăn bằng gỗ, tôn hay nia mẹt, chậu. Một máng ăn bằng gỗ hay tôn có chiều dài 2 mét đủ cho 70 - 100 con. Tránh để thức ăn ngoài mưa, nắng để bảo vệ chất lượng thức ăn. Những ngày nắng nóng, lượng thức ăn tiêu thụ giảm nhiều thì cần phải bổ sung thêm các chế phẩm bổ sung axít-amin và chất điện giải.

- Cần có đủ nước uống cho vịt đẻ. Nhu cầu lượng nước uống hằng ngày bằng 3 - 4 lần lượng thức ăn tinh. Trước khi thả vịt xuống ao phải cho vịt uống no nước ngọt. Có thể dùng máng uống tự chế bằng tôn, chậu sành hay máng uống tự động (công ty CP có bán trên thị trường máng uống tự động bằng nhựa).
b) Chế độ chiếu sáng
Thời gian chiếu sáng quy định là 17 giờ/ngày. Ngoài chiếu sáng tự nhiên khoảng 12 - 14 giờ, phải chiếu sáng nhân tạo bổ sung 3 - 5 giờ/ngày. Công suất chiếu sáng là 3 - 5 W/m2 nền chuồng (treo bóng đèn tròn 75W cách mặt nền chuồng 2 - 2,5 mét). Chiếu sáng hợp lý sẽ kích thích đẻ trứng và đảm bảo chất lượng trứng giống cao.

c) Thu gom và bảo quản trứng
- Vịt đẻ tập trung vào 2 - 4 giờ sáng, nhưng có thể đẻ muộn đến 8 - 9 giờ sáng. Nên nhặt trứng làm 2 - 3 lần để trứng được sạch sẽ và tránh dập vỡ. Trứng sau khi nhặt xong cần chọn ngay những quả đủ tiêu chuẩn giống để bảo quản. Trứng dơ bẩn có thể rửa bằng dung dịch có chứa chlorin theo nồng độ 1.250 ppm. Cứ 10 lít nước ấm pha 50 gam chất có chứa 25% chlorin. Hãng Cherry Valley đưa ra quy định nhiệt độ nước trong quá trình rửa trứng là 37 độ C. Tuyệt đối không được rửa trứng bằng nước lã, nước dơ, vì như vậy vi trùng dễ xâm nhập làm thối trứng.

- Trứng đựng vào khay, cần xé và bảo quản nơi khô mát. Nếu có phòng lạnh bảo quản ở nhiệt độ 18 – 20 độ C thì càng tốt. Trứng giống bảo quản 3 - 5 ngày, tối đa 7 ngày phải đưa ấp. Nếu để lâu hơn thì tỷ lệ chết phôi trong quá trình ấp sẽ tăng.

- Nếu nuôi đúng kỹ thuật, vịt bắt đầu đẻ trứng lúc 24 tuần tuổi. Sau đây chúng tôi xin nêu một trường hợp để tham khảo, với sản lượng trứng bình quân 203 quả/mái/42 tuần đẻ. Qua đồ thị tham khảo này, người chăn nuôi có thể theo dõi, kiểm tra đàn vịt đẻ của mình. Trong thực tế không thể hoàn toàn đạt được một đồ thị đẻ trứng lý tưởng, nhưng nếu tỷ lệ đẻ dao động quá lớn (10% trở lên) là không tốt, cần phải kiểm tra lại ngay các khâu nuôi dưỡng.
Sản lượng trứng và tỷ lệ đẻ trứng qua các tuần đẻ
d) Tiêm ngừa bệnh
- Đối với vịt, dịch tả vịt là bệnh bắt buộc phải chích ngừa. Hiện nay, trên thị trường có một số loại vắc xin được sản xuất trong và ngoài nước. Trại vịt giống VIGOVA nhiều năm qua sử dụng vắc xin của công ty thuốc thú y TW2, TP. Hồ Chí Minh. Loại vắc xin này dễ sử dụng, hiệu quả cao và giá rẻ. Pha vắc-xin với nước sinh lý và chích dưới da cổ hay bắp đùi.

- Lịch chích ngừa cho vịt bố mẹ như sau:
+ 18 ngày tuổi: 0,5 cc/con.
+ 8 - 9 tuần tuổi (sau khi chọn vịt hậu bị): 1 cc/con.
+ 21 tuần tuổi: 1 cc/con.

* Lưu ý: Những nơi có nguy cơ bệnh cao, có thể chích nhắc lại vào giữa chu kỳ đẻ trứng (sau 6 - 7 tháng đẻ), nhưng phải thận trọng vì có thể làm giảm tỷ lệ đẻ.

Kỹ thuật nuôi Vịt lấy thịt

Kỹ thuật nuôi Vịt lấy thịt


Kỹ thuật nuôi vịt lấy thịt by HND CT | Ky thuat nuoi vit lay thit

I. Kỹ thuật chọn con giống
Chọn những con vịt loại 1 khỏe mạnh, nhanh nhẹn, bóng lông, mắt sáng, không khèo chân, hở rốn, nặng bụng, không khô chân. Vịt nuôi thịt thường chọn con giống từ các tổ hợp lai 2,3,4 máu để đạt kết quả tốt nhất.


II. Kỹ thuật nuôi dưỡng
- Căn cứ vào tốc độ sinh trưởng của vịt mà người ta chia quá trình nuôi dưỡng vịt thịt thành 2 giai đoạn có nhu cầu dinh dưỡng khác nhau.
+ Giai đoạn vịt con (úm) 0 - 2 tuần tuổi: 3.000 Kcal năng lượng tiêu dùng trong 1 kg thức ăn hỗn hợp với 22% protein.
+ Giai đoạn vịt dò 3 - 8 tuần tuổi: 3.100 Kcal năng lượng tiêu dùng trong 1 kg thức ăn hỗn hợp và 17% protein.

- Căn cứ vào nhu cầu dinh dưỡng tiến hành xây dựng khẩu phần ăn cho vịt. Thức ăn dùng trong khẩu phần ăn của vitk phải đạt và đảm nảo chất lượng tốt, không dùng thức ăn mốc. Thức ăn sau khi hỗn hợp chỉ dùng 2 - 3 tuần, không dự trữ lâu dưới dạng thức ăn hỗn hợp. Với thành phần dinh dưỡng của hai loại khẩu phần ăn được phối hợp (cho vịt con, vịt dò). Lượng thức ăn được sử dụng hàng ngày biến đổi theo tuổi của vịt.

- Với đặc điểm lớn nhanh, các giống vịt hướng thịt có nhu cầu rất khắt khe về thức ăn bổ sung, đặc biệt là các khoáng vi lượng, nếu thiếu, vịt rất dễ bị bệnh thiếu khoáng.


- Vịt được nuôi nhốt trong chuồng, cho ăn tự do, tốt nhất là dùng máng ăn tự động, thức ăn đổ cho vịt mỗi ngày mỗi lần, hàng ngày kiểm tra lượng thức ăn dư thừa, thiếu để điều chỉnh cho hợp lý. Để lượng thức ăn thừa nhiều trong máng không có lợi. Nuôi vịt thâm canh luôn phải bảo đảm được cho vịt ăn lượng thức ăn nhiều nhất để đạt tốc độ tăng khối lượng nhanh nhất, đó là một trong những biện pháp giảm giá thành sản phẩm. Với nhu cầu dinh dưỡng trong thức ăn và mức độ cho ăn như trên, thông thường lúc 7 - 8 tuần tuổi các giống vịt đã đạt đươck 2,8 - 3,0 kg. Vịt nuôi chăn thả, ngoài lượng thức ăn kiếm được, cần cung cấp thêm thức ăn để vịt ăn được no cả lượng và chất. Từ nhu cầu, cần tính toán để bổ sung đủ thì vịt mới lớn nhanh, khỏe mạnh, rút ngắn được thòi gian nuôi và có hiệu quả kinh tế cao.

III. Quản lý chăm sóc
1. Chuồng nuôi
a) Diện tích nền chuồng
Có thể nuôi vịt thịt trên nền xi măng, nền gạch hoặc sàn lưới. Thông thường vịt được nuôi trên nền xi măng hoặc nền gạch. Diện tích chuồng nuôi thay đổi theo tuổi:
- Tuần thứ nhất: 20 - 25con/m2.

- Tuần thứ hai: 10 - 15 con/m2.

- Tuần thứ ba: 6 - 7 con/m2.

- Từ tuần thứ 4 đến tuần thứ 7 (hoặc 8): 4 con/m2.

b) Chất độn chuồng
- Khác với các loại gia cầm khác, vịt hay làm ướt nền chuồng vì vịt đi phân lỏng, thích sục nước, té nước lên chất độn chuồng. Khi chất độn chuồng ướt sẽ gây nên nhiều tác hại:
+ Vịt con nằm ngủ trên nền có chất độn chuồng ướt sẽ bị rét gây cảm lạnh, tiêu chảy.
+ Làm lông vịt bẩn bết lại, bán vịt con rẻ hơn.
+ Tạo điều kiện cho nấm, mốc phát triển trên chất độn chuồng, vi khuẩn có điều kiện phát triển mạnh, trứng giun sán có điều kiện phát triển, sống lâu hơn.

- Biện pháp khắc phục ướt chất độn chuồng
+ Trải chất độn lần đầu dày 8 - 10cm.
+ Định kỳ trải dần lên bằng chất độn khô.
+ Dành riêng cho vùng có sàn lưới thoáng nước để đặt máng xuống.
+ Bố trí mật độ vịt thích hợp.

c) Sưởi ấm
- Trong 3 tuần tuổi đầu tiên, vịt cần được sưởi ấm, về mùa ấm cần sưởi ấm 2 tuần là đủ. Nhu cầu nhiệt độ tối thích hợp cho vịt trong 3 tuần đầu như sau:
+ Tuần thứ nhất: 35 – 24 độ C.
+ Tuần thứ hai: 24 – 18 độ C.
+ Tuần thứ ba:18 - 20 độ C.

- Nhiệt độ chuồng nuôi cố gắng ổn định suốt ngày đêm. Đó là một trong những yếu tố quan trọng đối với vịt con, đặc biệt là tuần tuổi thứ nhất. Nếu tuần đầu không đảm bảo đủ ấm cho vịt về sau vịt sẽ phát triển không đều, dễ cảm nhiểm bệnh tật, tốc độ tăng trưởng giảm sút.

- Nguồn sưởi đã được đề cập ở phần nuôi vịt đẻ 1 - 56 ngày tuổi. - Có thể dùng chụp sưởi gà con để sưởi cho vịt, song mật độ phải giảm. Thông thường chụp sưởi dùng cho 500 gà con chỉ thích hợp cho khoảng 300 vịt con. Vịt con thường cao hơn gà con trong giai đoạn sưởi ấm, do vậy muốn dùng chụp của gà con để sưởi ấm cho vịt con thì phải điều chỉnh lại độ cao cho thích hợp.

2. Nước uống
Mặc dù vịt là một loài thủy cầm, nhưng ngày nay người ta đã khẳng định không nhất thiết phải cung cấp nước bơi cho vịt. Thức tế nước bơi chỉ có tác dụng làm mát môi trường trong những ngày nóng bức và làm sạch bộ lông. Nước uống là một trong những yếu tố quyết định đến sự phát triển của vịt. Một nguyên tắc tối cao đối với vịt thịt là nước uống phải cung cấp đầy đủ suốt ngày và đêm vì vịt thịt ăn suốt ngày và đêm và vịt thịt không thể ăn mà không có nước uống. Nhu cầu nước uống của vịt thịt cũng biến đổi theo tuần tuổi, khối lượng nước nhu cầu cao hơn vịt hướng trứng.

Bài đăng phổ biến