Thứ Sáu, 26 tháng 10, 2012

Giảo Cổ Lam – Cây thuốc quý

Giảo Cổ Lam – Cây thuốc quý


Giảo cổ lam – cây thuốc quý by CTQ | Giao co lao cay thuoc quy

Một nhóm khoa học của trường ĐH Dược Hà Nội vừa công bố kết quả khảo sát và nghiên cứu về cây thuốc giảo cổ lam. Trong quá trình khảo sát, tìm kiếm các nhà khoa học thuộc trường ĐH Dược Hà Nội do GS.TS Phạm Thanh Kỳ, Trưởng bộ môn Dược liệu (ĐH Dược Hà Nội) chủ trì đã tìm thấy cây giảo cổ lam ở độ cao trên 2.000m thuộc vùng núi phía bắc nước ta là Cao Bằng và Lào Cai. Tên khoa học đầy đủ của cây là Gynostemma pentaphyllum Cucurbitaceae.


- Giảo cổ lam là một dược liệu rất quý hiếm và mới chỉ phát hiện thấy tại Nhật Bản, Trung Quốc và Thái Lan. Cây này được nghiên cứu đầu tiên tại Nhật Bản với tên gọi Phúc âm thảo còn ở Trung Quốc gọi tên là JIAOGULAN.

- GS.TS Phạm Thanh Kỳ cho biết: giảo cổ lam có tác dụng tăng cường chuyển hóa lipid giúp ổn định mức cholesterol trong máu và làm giảm béo hiệu quả mà không phải kiêng khem quá mức; bình ổn huyết áp, chống huyết khối, ngăn ngừa biến chứng tim, mạch, não, chống lão hóa, ngăn ngừa stress, giúp ăn ngon miệng, ngủ ngon giấc...

- Cây thuốc này đã được cấp kinh phí để nghiên cứu và thuộc đề tài cấp nhà nước mã số KC:10.07.03.03 nghiên cứu trong thời gian (2002 - 2004). Cuối năm 2005, giảo cổ lam đã được dùng sản xuất chè. Đầu tháng 6/2006, Bộ Y tế đã thông qua đề tài nghiên cứu sản xuất giảo cổ lam thành thuốc dưới dạng viên nang. Nếu kết quả nghiên cứu thành công trong vòng 2 - 3 năm nữa thuốc dạng viên nang sẽ ra đời.

Kỹ thuật trồng cây Nha Đam

Kỹ thuật trồng cây Nha Đam


Kỹ thuật trồng cây nha đam by Sưu tầm | Ky thuat trong cay nha dam

Cây Nha đam hay còn gọi là Tượng Đảm, Lô Hội, Lưỡi Hổ, Hỗ Thiệt, Long Tu,... là một loại cây trồng cạn, có khả năng thích nghi với nhiều loại đất khác nhau. Ở nước ta, cây Nha đam có thể trồng được ở nhiều nơi, nhưng sinh trưởng và phát triển tốt ở những khu vực có số ngày nắng trong năm cao.


Hiện nay, cây Nha đam còn được sử dụng để sản xuất các loại mỹ phẩm bảo vệ và dưỡng da, cũng như dùng để làm nước giải khát.Ninh Thuận là một trong những tỉnh có diện tích cây Nha đam nhiều nhất. Cây dược liệu này chủ yếu được trồng trên những vùng đất cát và pha cát ven biển, canh tác các loại cây trồng khác kém hiệu quả. Khi trồng cây Nha đam, nông dân không phải đầu tư ban đầu cao, kỹ thuật chăm sóc đơn giản và trồng một lần có thể thu hái lâu dài, mang lại hiệu quả rất cao.

1. Chuẩn bị đất trồng
- Chọn đất: Nha đam là cây chịu được khô hạn, nhưng không chịu được ngập úng, do đó phải chọn vùng đất cao ráo, thoáng xốp, tốt nhất là đất pha cát dễ thoát nước.

- Làm đất: đất trồng phải được cày bừa kỹ, mục đích làm nhỏ đất và sang phảng ruộng trồng. Sau đó lên luống, đánh rãnh trồng. Thông thường luống được đánh cao khoảng 20 cm để dễ thoát nước. Ðánh Rãnh trồng theo mật độ hàng cách hàng 80 cm, cây cách cây 40 cm.

- Bón lót: Sử dụng phân chuồng hoai để bón lót. Mỗi cây bón lót khoảng 500 - 700 g phân chuồng, khoảng 2,5 tấn phân chuồng/ha.

2. Chọn giống trồng
- Chọn giống: Hiện nay, có khoảng 300 loài Nha đam khác nhau, nhưng Nha đam ALOE VERAL lá xanh thẫm, bẹ lá to là loại dễ trồng và cho năng suất cao. Giống Nha đam ALOE VERAL đang được nông dân trồng đại trà.


- Nhân giống: Nha đam được nhân giống bằng phương pháp vô tính. Chúng ta sử dụng lá Nha đam để tiến hành nhân giống. Ðể tăng hệ số nhân giống, bà con có thể cắt bỏ đọt cây mẹ. Một năm sau xung quanh cây mẹ sẽ xuất hiện mấy chục cây con. Khi cây con lớn chừng 10 cm, chúng ta tách cây con đem vào vườn ươm, chăm sóc cây lớn chừng 15 - 20 cm chúng ta lấy đem trồng.

- Thời vụ trồng: Cây Nha đam có thể trồng quanh năm, nhưng tốt nhất là trồng vào mùa xuân và mùa thu, vì đây là thời gian cây Nha đam con có thể phục hồi và phát triển nhanh nhất.

- Cách trồng: Lấy những cây con càng nhiều rễ càng tốt nhằm thu ngắn thời gian hồi sức của cây con để trồng. Sau đó, trồng theo rãnh, với mật độ: Cây cách cây 40 cm, hàng cách hàng 80 cm, như vậy số lượng cây giống khoảng 30 - 50.000 cây/ha.

* Một số lưu ý: Ðể mầm cây con nhô khỏi mặt đất ( nếu bà con lấp đất mất lên trên ngọn cây sẽ gây úng thúi cây con khi tưới nước ), giữ cho cây thẳng đứng và rễ phủ đều mới lấp chặt đất, nếu đất không đủ ẩm để giữ gốc nên tưới thêm nước. Sau đó, nếu trời khô hạn phải thường xuyên tưới nước giữ độ ẩm vừa đủ, nếu trời mưa liên tục thì phải chú ý thoát nước, vì Nha đam con rất dễ bị chết do úng nước. Nha đam vừa trồng xong mầm lá sẽ đỏ hoặc vàng, nhưng khi đã bén rễ mầm sẽ xanh trở lại. Cây Nha đam giống sau khi lấy ra khỏi vườn ươm, bà con nên để trong mát 2 - 3 ngày, sau đó mới đem ra trồng thì cây con sẽ nhanh mọc mầm và tỉ lệ sống cao hơn.

3. Chăm sóc, quản lý
a) Nhu cầu nước
- Tưới nước: Cây Nha đam chịu được nắng hạn nhưng lại phát triển tốt khi có độ ẩm trong đất vừa phải. Vì vậy, trong mùa khô bà con phải tưới nước thường xuyên giữ độ ẩm cho đất. Tốt nhất trong mùa khô, 3 - 5 ngày bà con phải tưới nước 1 lần, giúp cây sinh trưởng tốt, đạt chất lượng sản lượng cao hơn.

- Tiêu nước: Cây Nha đam không chịu được ngập úng quá lâu. Do vậy, nếu trời mưa dài ngày bà con phải khơi thông cách rãnh trồng tạo điều kiện để thoát nước tốt. Nếu để mương rãnh bị tích nước sẽ gây thối rễ, làm cho cây Nha đam chết hàng loạt.

b) Làm cỏ xới xáo đất
Trong quá trình chăm sóc cây Nha đam bà con phải xới xáo đất trừ cỏ nhiều đợt. Việc xới đất thường xuyên sẽ giúp cho nền đất được thông thoáng và trừ được các loại cỏ dại, làm cho quá trình chuyển hoá các chất dinh dưỡng trong đất nhanh chóng và cây Nha đam dễ hấp thu, sinh trưởng và phát triển nhanh hơn.

c) Bón phân
Cây Nha đam có khả năng hấp thụ và chuyển hóa nhanh các chất dinh dưởng trong đất. Do đó, ngoài việc bón lót bằng phân chuồng ( khoảng 2,5tấn/ha ), bà con phải thường xuyên bón thúc cho cây Nha đam bằng phân NPK. Thời gian bón thúc tốt nhất là 1 tháng/lần, với liều lượng khoảng 100 Kg/ha. Khi bón phân bà con nên tránh làm bẩn lá, thường bón trước khi trời có mưa hoặc phải tưới nước sau khi bón phân. Mỗi lần bón phân nên kết hợp với xới xáo đất để Nha đam dễ hấp thụ hơn.

4. Phòng trừ bệnh
- Biểu bì lá của Nha đam được bao bọc bởi một lớp giáp cứng, nên các loại côn trùng khó có thể gây hại. Nhưng trong điều kiện trồng với mật độ dày, đất quá ẩm và nhiệt độ thấp, lá của Nha đam sẽ bị một số loại trực khuẩn gây hại. Trên mặt lá xuất hiện nhiều đốm đen và sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của cây Nha đam.Biện pháp phòng trừ: Ðảm bảo thông thoáng trong vườn trồng Nha đam, kịp thời tiêu nước để khống chế độ ẩm của đất phù hợp, làm cỏ đúng lúc giúp Nha đam phát triển mạnh, tạo nên khả năng kháng bệnh tốt.Nếu xuất hiện dấu hiệu bệnh do trực khuẩn gây ra, bà con nên nhanh chóng cắt bỏ những lá mang bệnh đem tiêu hủy, tránh lây lan cho các lá khác.Trồng cây Nha đam chủ yếu là thu hoạch lá, do vậy trong quá trình phòng trừ bệnh hại, bà con không nên sử dụng các loại thuốc hóa học.

- Cây Nha đam là loại cây chịu khô hạn rất tốt. Trong mùa khô, không có nước tưới, cây Nha đam vẫn có thể sống được. Ðến khi đất có độ ẩm thích hợp, cây sẽ tiếp tục phát triển. Sau khi trồng khoảng 06 tháng, cây Nha đam có thể cho thu hoạch lứa đầu tiên và cứ mỗi tháng lại thu hoạch một lần. Sau một năm xung quanh cây mẹ lại xuất hiện nhiều cây con, bà con có thể chọn những cây con to khỏe thay thế cây mẹ, thì có thể cho thu hoạch lâu dài mà không phải ươm trồng lại từ đầu.

Thứ Năm, 25 tháng 10, 2012

Kỹ thuật trồng Đậu Bún

Kỹ thuật trồng Đậu Bún


Kỹ thuật trồng đậu bún by MNN | Ky thuat trong dau bun
http://www.maynongnghiep.pro.vn
I. Giống
 - Giống đậu đũa lùn (đậu đũa cây): thu hoạch ít lứa, không leo, trái ngắn 20 - 30cm, thịt chắc, ăn ngon và sai trái. Thời gian sinh trưởng 60 - 70 ngày.

- Giống đậu leo: thân sinh trưởng vô hạn, canh tác phải làm giàn. Thời gian sinh trưởng 90 - 110 ngày. Có 2 giống là giống móng chim, tái có màu xanh đậm, chót đuôi trái có điểm tím, hột màu đen; giống kia vỏ tráo màu xanh nhạt và hột màu trắng.

- Hiện nay đa số trồng các giống mới cho năng suất cao của công ty giống Miền Nam, Trang Nông.

II. Kỹ thuật canh tác 
1. Thời vụ gieo trồng 
- Vụ chính Đông - Xuân: Gieo từ tháng 10 – 11 dl, vụ này cho năng suất cao.

- Vụ Hè - Thu: Gieo từ tháng 5 – 6 dl (vụ này năng suất thấp và nhiều sâu bệnh hại).

2. Làm đất 
Mùa mưa lên líp cao 15 - 20cm. Canh tác đậu đũa lùn gieo như các đậu khác. Khoảng cách 50x20cm. Lượng hột 40 - 50kg/ha. Đậu đũa bò trồng khoảng cách 70 - 100cm x 20 - 30cm. Lượng giống 20 - 25kg/ha.

3. Bón phân 
- Lượng phân bón cho 1 ha đậu như sau:
+ Urea: 250 - 300kg
+ Super lân: 300 - 400kg
+ KCl: 150 - 200kg
+ Phân hữu cơ: 10 - 15 tấn.

- Cách bón và thời kỳ bón:
+ Bón lót: bón trước khi gieo hột. Dùng cuốc rạch hàng để bón phân trên líp xong lấp đất.
+ Bón thúc:
. Tưới phân dậm: cây được 8 - 10 ngày tuổi, pha phân đạm nồng độ 2 - 4‰ tưới thúc để cây mọc nhanh.
. Rãi phân lần 1: khi cây được 15 - 20 ngày tuổi, kết hợp với làm cỏ vun gốc. Cuốc 1 bên mép của hàng đậu phía bên sẽ cắm cây làm giàn bón 50 - 60kg urê, phân lân còn lại, 30 - 40kg KCl và dùng cuốc lấp phân lại. . Tưới phân dậm: Dùng urê nồng độ 3 - 5% tưới 2 - 3 lần giữa 2 lần bón rãi.
. Rãi phân lần 2: khi cây được 40 - 45 ngày, bón phân nuôi trái với lượng 40 - 50kg urê, 70 - 100kg super lân, 30 - 40kg KCl, rãi phân dọc theo bìa líp.
. Tưới phân dậm: phân urê và kali phối hợp pha tưới xen kẽ trong những lần thu trái để kéo dài thời gian thu hoạch trái, các lứa sau phát triển đều đặn, giảm số trái dị tật ở những đợt thu, có thể dùng NPK 16-16-8, không nên sử dụng đơn thuần phân urê.
. Có thể sử dụng phân bón lá Bayfolan, HVP, Supermes,…phun định kỳ 7 - 10 ngày/lần (không sử dụng khi cây có bệnh trên lá hoặc ở gốc thân).

4. Chăm sóc 
- Giậm hột: 5 - 7 ngày sau khi cấy - Tỉa cây con: 10 - 15 ngày sau khi cấy tỉa chừa 2 cây/hốc.

- Làm cỏ, vun xới: kết hợp với các lần bón phân thúc 2 và 3.

- Tưới nước: tưới bằng thùng vòi búp sen , mỗi ngày 2 lần vào buổi sang và buổi chiều. Tưới nhiều lúc ra hoa trái rộ. Nếu có điều kiện dùng phương pháp tưới thấm vì lúc nầy cây phát triển tối đa, bộ lá lớn, phiến lá to, cây yêu cầu nhiều nước. Thiếu nước cây phát triển kém, trái nhỏ, mau già nhiều xơ, giảm năng suất và phẩm chất trái tươi.

- Làm giàn: dùng sậy già hoặc sóng lá dừa dài 1,2m để cắm làm giàn khi cây bỏ vòi. Giàn cắm theo hình chữ X. Số lượng cây từ 40.000 - 50.000 cây/ha.

5. Phòng trừ sâu bệnh 
a) Sâu hại 
- Ruồi đục lòn: có thể làm cho lá bị khô, giảm khả năng quang hợp. Trường hợp nặng có thể gây chết dây. Phun Basudin 50ND, Peran.

- Sâu dục trái: phá hại lúc trái non đang phát triển. Phòng trừ chỉ nên phun sớm thuốc Peran, Cyperan ở giai đoạn trổ hoa. Nên ngưng xịt thuốc trong thời kỳ thu trái.

- Rầy mềm, rầy nhớt: chích hút nhựa làm cho ngọn chùn đọt và lá bị vàng.

b) Bệnh hại 
- Bệnh héo cây non : chủ yếu gây hại ở cây con. Gốc cây bệnh có phủ sợi nấm màu trắng, hạch nấm có đường kính 1 - 2mm màu nâu. Phòng ngừa nên xử lý đất trước khi gieo hột và rơm dùng để đậy phải lấy từ ruộng lúa không bị bệnh. Xử lý đất và rơm bằng Kitazin 50 ND nồng độ 0,2 - 0,3%, nên dùng phân hữu cơ hoai và tránh để đất úng nước.

- Bệnh héo Fusarium: bệnh thường xuất hiện sớm khi cây mới mọc mầm. Nấm tồn tại trong đất 5 năm, do đó nếu trồng liên tục đậu sẽ làm gia tăng số nấm mỗi năm.

- Bệnh đốm vi khuẩn: bệnh gây các đốm cháy rộng trên lá, trái đậu có những đốm nhỏ, xanh nhạt, nhũn nước, sau đó trở nên nâu và khô, trái có hình dạng bất thường.

- Bệnh đốm lá: do nấm gây ra. Nấm phát triển ở mặt dưới là và nơi vết bệnh có thể rách lá.

- Bệnh phấn trắng: bệnh thường phát triển vào giai đoạn cuối thu hoạch. Đốm mất màu, dần dần chuyển thành trắng xám, lá non cuốn lại, chuyển sang vàng và rụng, trái còi cọc.

6. Thu hoạch
 Đậu đũa lùn cho thu hạoch từ 45 - 50 ngày và đậu đũa bò từ 55 - 60 ngày sau khi gieo. Đậu cho thu hoạch kéo dài từ 30 - 45 ngày, 1 - 3 ngày thu 1 lần. Năng suất trung bình có thể đạt từ 18 - 20 tấn/ha.

Các yếu tố ảnh hưởng thịt cá Tra

Các yếu tố ảnh hưởng thịt cá Tra


Các yếu tố ảnh hưởng thịt cá tra thịt by TSVN | Cac yeu to anh huong thit ca tra

Một trở ngại thường gặp trong nuôi cá tra ao thâm canh (Pangasianodon hypophthalmus) là da và thịt cá có thể có màu vàng. Vấn đề liên quan đến thịt vàng trên cá tra rất được các nhà khoa học và người nuôi cá quan tâm, bởi vì cá tra thịt vàng không được các nhà máy chế biến ưa chuộng, do đó khó tiêu thụ. Giá cá tra thịt vàng giảm từ 10 - 20% so với cá tra thịt trắng... Có rất nhiều yếu tố chủ quan và khách quan tác động trong suốt quá trình nuôi.


1. Về di truyền và giống
Có một loại cá da trơn có da màu vàng mà người dân gọi là cá tra nghệ (tên khoa học là Pangasius kunyit). Đây là một loại cá có đặc trưng da thịt đều vàng như nghệ nhưng thịt có mùi vị thơm ngon rất đặc trưng. Sản lượng của cá không nhiều, chủ yếu khai thác từ tự nhiên. Thỉnh thoảng mới thấy xuất hiện ở chợ cá, giá bán từ 40.000 - 50.000đ/kg, người bán hàng thường gọi là Bông lau nghệ. Loại cá này, Trung tâm Nghiên cứu Sản xuất giống Thuỷ sản An Giang đã cho sinh sản nhân tạo trong năm 2001.  

2. Do bệnh
- Về bệnh thì có liên quan đến gan và mật. Tác nhân gây bệnh là do giun sán ký sinh trong túi mật. Cá bị bệnh này, da sẽ bị vàng, cá bỏ ăn rồi chết. Khi cá đã vàng da, việc điều trị rất khó khăn, vì khi đã bị bệnh về gan và mật thì chức năng chuyển hoá thức ăn và hấp thu thuốc không còn hoạt động hữu hiệu, nên việc sử dụng thuốc ở thời điểm này không hiệu quả. Giải pháp phòng trị bệnh tốt nhất là: Định kỳ tẩy giun sán cho cá nuôi. (Các loại thuốc có bán ở các cửa hàng thuốc thú y - thủy sản). Tuy nhiên, có một thực tế khách quan là, thuốc chuyên dùng tẩy giun sán cho cá chưa có nên thường phải sử dụng thuốc của gia súc, gia cầm... Vì vậy, khi sử dụng thuốc cần phải có sự cân nhắc cẩn thận.

- Cùng với bệnh giun sán, cá tra nuôi với mật độ cao, nếu các biện pháp kỹ thuật hay quản lý môi trường không tốt, cá nuôi bị vi trùng, vi khuẩn tấn công.

- Bệnh về đốm trắng trên gan cá tra cũng gây nên thịt vàng trên cá tra nuôi. Tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Edward ictaluri. Các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy, chủng vi khuẩn này kháng với một số loại kháng sinh thông thường như Oxytetra...Vì vậy, phải dùng loại kháng sinh đặc trị và phải phát hiện bệnh sớm (điều trị ở giai đoạn đầu của bệnh thì kết quả mới khả quan). Nhóm thuốc đặc trị bệnh này cho cá là Enrofloxacine.

- Ngoài ra, trong quá trình nuôi, nếu cá nuôi bị bệnh kéo dài hoặc lặp đi lặp lại thịt cá sẽ có màu vàng.

3. Do môi trường
- Trong ao nuôi có nhiều mùn bã hữu cơ, tảo... cũng là nguyên nhân làm cho cá nuôi có thịt màu vàng. Nên cải tạo nạo vét bùn, bón vôi trước khi thả cá nuôi. Trong quá trình nuôi có thể sử dụng Zeolite để xử lý mùn bã hữu cơ, thức ăn dư thừa. Zeolite hấp thu các độc tố NH3, H2S, NO2, kim loại nặng ở nền đáy… Nên thay từ 20 - 30% lượng nước ao nuôi trong 01 ngày. Có thể sử dụng sục khí đáy ao.

- Một điểm cần lưu ý là, vào mùa nước đổ tháng 6 - 7 có những thay đổi lớn về chất lượng nước trên sông. Cá nuôi bè, nuôi đăng quầng hoặc nuôi ao (sử dụng nước sông để thay) thì thịt bị vàng. Trong ao nuôi thiếu oxy thường xuyên cá cũng bị thịt vàng.

4. Do thức ăn không phù hợp
- Thức ăn nên nghiên cứu cân đối về đạm (nên cho ăn trên 18o đạm). Các nghiên cứu về dinh dưỡng cá tra gần đây cho thấy, việc cân đối về đạm trong thức ăn của cá tra, ngoài cải thiện (giảm) tích luỹ mỡ trong cơ thể cá còn giúp cá tăng trọng nhanh, rút ngắn thời gian nuôi.

- Trong khẩu phần thức ăn nên bổ sung khoáng vi lượng như Vitamin C định kỳ. Không nên cho cá ăn những thức ăn có sắc tố gây vàng thịt.

- Việc sử dụng cá biển làm thức ăn cho cá cũng phải chú ý về chất lượng (tươi, ươn, các hoá chất tẩm ướp trên cá biển. Cá suy dinh dưỡng thịt cá thường bị vàng.

5. Về một số thuốc, hoá chất cho cá tra thịt trắng
Trong thời gian gần đây, một số cơ sở bán thuốc thú y - thủy sản có giới thiệu một số thuốc, hoá chất sử dụng trong quá trình nuôi để cá tra thịt trắng. Chúng tôi xin có những lưu ý sau:
- Việc sử dụng các chế phẩm sinh học trong quá trình nuôi cá tra nhằm cải tạo môi trường nuôi là một biện pháp kỹ thuật cần coi trọng. Tuy nhiên, nếu những vi sinh này có nguồn gốc nước mặn mà cho vào nước ngọt thì hiệu quả không cao, hoặc khi ao nuôi thay nước thường xuyên hay nuôi đăng quầng thì không hiệu quả (nếu không nói là lãng phí).

- Một số thuốc có chứa các chất hỗ trợ chức năng của gan (Sorbitol...), về nguyên lý thì không có trở ngại, tuy nhiên, vì chưa có những nghiên cứu khoa học chứng minh nên khi dùng cần cân nhắc.

- Một loại hóa chất có tên là Pond Oxygen dạng hạt khi rải vào ao nhằm cung cấp oxy cho tầng nước ở đáy ao, là giải pháp tốt cho các ao nuôi có trở ngại trong biện pháp thay nước và giúp cho quá trình Nitrat hoá các chất hữu cơ dư thừa dưới đáy ao. Để đạt kết quả khả quan, ngoài các vấn đề đã giới thiệu ở phần trên, các hộ nuôi cần lưu ý sử dụng nguồn giống sạch bệnh và tuân thủ các quy trình kỹ thuật.

Kỹ thuật nuôi Chồn Nhung Đen

Kỹ thuật nuôi Chồn Nhung Đen


Kỹ thuật nuôi Chồn Nhung Đen by Sở KH&CN PT | ky thuat nuoi chon nhung den

Chồn nhung đen còn có tên gọi là "hắc thốn", có nguồn gốc từ Nam Mỹ, có nhiều ở vùng núi Andes, được Tây Ban Nha nhập vào nuôi cách đây hàng trăm năm. Sau được nuôi ở một số nước Châu âu, rồi phát triển sang Châu Á, chủ yếu nuôi nhiều ở khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc. Điều kiện sinh thái của chồn nhung đen rất giống chuột và thỏ. có tầm vóc nhỏ như chuột và bản tính hiền lành như thỏ nên khu vực nuôi động vật thí nghiệm của y tế Trung Quốc nuôi nhiều để nghiên cứu cấy truyền các loại vi sinh vật, các bệnh lý hóa học...

1. Lựa chọn mặt bằng chăn nuôi


- Người chăn nuôi khi chăn nuôi chồn nhung đen thì đầu tiên phải chọn được địa điểm chăn nuôi tốt. Nơi chăn nuôi phải đáp ứng được những yêu cầu phù hợp với tập tính sinh hoạt của chồn nhung đen, những yêu cầu về môi trường, số lượng đàn chồn định nuôi, cũng như đặc điểm sinh sản và những yếu tố về điều kiện môi trường khí hậu, trình độ chăn nuôi khác biệt ở các vùng khác nhau; tùy theo điều kiện mặt bằng và khả năng tài chính để xây dựng chuồng trại cho phù hợp.

- Chồn nhung đen có tính tình hiền lành, thích sống bầy đàn, nhưng rất nhút nhát, không thích bị quấy rầy, kích động, khá mẫn cảm đối với những âm thanh và kích thích từ bên ngoài. Những thau đổi đột ngột của môi trường như: quá nóng hay quá lạnh đều ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh trưởng và phát triển của chồn nhung đen. Do đó, nên chọn môi trường yên tĩnh, tránh xa những nơi ồn ào như đường ray, nhà ga xe lửa; nơi nuôi dưỡng cần phải được cung cấp đầy đủ nước sạch, mùa đông phải tránh được gió lùa, mùa hè thì lại phải thoáng gió, đồng thời phải cách xa khu chăn nuôi gia cầm, gia súc để giảm bớt sự ôm nhiễm và phòng tránh các bệnh truyền nhiễm, ở vùng lân cận phải có nơi cung cấp đầy đủ nguồn thức ăn xanh cho chồn.


2. Yêu cầu cơ bản đối với chuồng trại chăn nuôi
- Chuồng trại chăn nuôi không cần phải quá đặc biệt đầu tư, các phòng ở thông thường hoặc có thể dùng những phòng cũ, chuồng lợn cũ cải tạo lại là có thể sử dụng được. Dựng lều ngoài trời cũng có thể tiến hành nuôi dưỡng, yêu cầu không cao. Nhưng để đảm bảo cho chồn có thể thoải mái sinh sống, nanhh cao hiệu quả và số lượng chăn nuôi thì vẫn phải đáp ứng một số các điều kiện sau:
+ Phải thoáng khí: Kể cả chuồng trại mới xây hay là cải tạo lại thì chuồng nuôi tốt nhất là ở hướng Bắc quay hướng cửa về hướng Nam, không hạn chế kích thước to hay nhỏ. Trong chuồng nuôi thì tốt nhất là đông ấm, hè mát, không khí lưu thông, thoáng mát và không bị ô nhiễm, hạn chế bị nhiễm bụi và ẩm ướt; ở cửa ra vào và cửa sổ tốt nhất nên bố trí cao hơn so với tầm với của chồn nhung đen để tránh gió lạnh trực tiếp thổi thẳng vào người chồn khiến chồn bị nhiễm lạnh.
+ Yêu cầu về nhiệt độ, độ ẩm và ánh sáng: Dựa trên tập tính sinh hoạt ưa ấm áp, thích khô ráo thì chuồng trại nên được duy trì nhiệt độ và độ ẩm thích hợp, vào mùa hè nắng nóng nên thiết kế sao cho đảm bảo nhiệt độ khống chế ở khoảng 25 - 30 độ C, vào mùa đông lạnh giá nên duy trì nhiệt độ ẩn định ở khoảng 20 độ C, không được thấp dưới 10 độ, và độ ẩm không khí là khoảng 50 - 60 %; môi trường ẩm ướt không chỉ ảnh hưởng đến sinh sản và phát triển của chồn nhung đen mà còn dễ dẫn đến việc phát sinh bệnh dịch; chuồng trại nên được bảo đảm ánh sáng phù hợp, duy trì môi trường ánh sáng yếu cho chồn nhung đen, không được để ánh sáng chiếu trực tiếp vào người chồn nhưng đồng thời lại không được để trong chuồng quá tối.
+ Phải yên tĩnh và chống được chuột: Chồn nhung đen rất nhát gan, nên khi xây dựng chuồng trại phải lựa chọn nơi có môi trường xung quanh yên tĩnh. Cửa ra vào chuồng chồn phải được che kín, nền chuồng nuôi tốt nhất là phải láng bằng xi măng; cửa sổ nên lắp lưới sắt nhằm chống chuột và các loại thú khác vào gây hại, quấy nhiễu chồn nhung đen, ngăn chặn việc giao phối nhầm với loài chuột.

- Việc chăn nuôi chồn nhung đen khá đơn giản, dễ nuôi, có thể áp dụng nhiều phương pháp chăn nuôi khác nhau; mỗi vùng có thể dựa theo tập tính sinh hoạt của loài chồn nhung đen và những điều kện thức tế ở địa phương để áp dụng những phương pháp thích hợp. Nên chọn những phương pháp chăn nuôi đơn giản, dễ thực hiện để giảm giá thành. Những phương pháp chăn nuôi thường được áp dụng có: nuôi nhốt trong lồng, nuôi nhốt trong phòng lớn, nuôi công nghiệp quy mô lớn.
+ Nuôi nhốt trong lồng: Phương pháp này nên áp dụng đối với nuôi chồn nhung đen với số lượng ít; ưu điểm là dễ dàng quản lý, dễ cung cấp đầy đủ nguồn thức ăn, dễ khống chế việc sinh sản của chồn, cho ăn cũng rất thuận tiện, dễ dàng làm vệ sinh phân và nước tiểu cho chồn , duy trì được vệ sinh sạch sẽ và không khí lưu thông thoáng mát, dễ dàng di chuyển, người lớn hay trẻ nhỏ đều có thể dễ dàng thao tác. Lồng nuôi có thể làm từ gỗ, tre trúc hoặc là làm bằng sắt, chiều dài 60 cm, chiều sộng 50 cm và chiều cao 40 cm, một lồng có thể nuôi 1 - 2 cặp chồn trưởng thành, hoặc 8 - 12 chồn con.
+ Nuôi nhốt trong phòng lớn: Phương pháp này phù hợp với việc nuôi 1 đàn lớn chồn nhung đen trong điều kiện có diện tích chăn nuôi lớn và bằng phẳng. Ưu điểm của phương pháp này là có thể sử dụng thiết bị cơ giới để vận chuyển thức ăn xanh, thức ăn tinh, tiết kiệm được nhân công, tiết kiệm thời gian, nâng cao năng suất lao đọng; mặt bằng rộng rãi, ánh sáng đầy đủ, không khí dễ dàng lưu thông, thoáng mát, gió nam có thể thổi vào qua cửa chính và cửa sổ, nên không khí được thay mới liên tục, dễ dàng dọn vệ sinh, thích hợp với việc dùng xe tải để vận chuyển chồn nhung đen, có thể dùng ván gỗ để phân cách thành nhiều gian, ở giữa chừa lối đi cho người chăn nuôi.
+ Chăn nuôi công nghiệp quy mô lớn và khép kín: Phương pháp này phù hợp với chăn nuôi công nghiệp quy mô lớn, ưu điểm là quy mô lớn, thuận lợi cho việc tập trung quản lý, thao tác đơn giản, có thể lợi dụng được không gian của phòng chăn nuôi, tiết kiệm diện tích, dễ dàng lựa chọn con giống thuần chủng, đánh số. Trong chuồng nuôi có thể dùng tấm gạch mỏng, tấm ván gỗ hoặc lưới sắt để ngăn thành 3 - 5 tầng, kích thước chiều dài, chiều rộng và chiều cao là 80x60x50, mỗi tầng nuôi 1 - 2 cặp chồn bố mẹ, và 8 - 12 chồn con. Ở nền của mỗi tầng thì bố trí lưới sắt có lỗ rộng khoảng 1 - 2 cm, để cho phân dễ rơi xuống, nền của mỗi tầng cách lưới khoảng 5 - 10 cm và hơi nghiêng, trên bề mặt phủ lớp ni lông hoặc tấm ván trơn nhẵn để phân dễ dàng rơi thẳng xuống thùng đựng phân. Mỗi tầng như thế phải bố trí một cái cửa nhỏ có kích thước rộng 35cm và cao 30 cm, để tiện đưa thức ăn và dễ dàng bắt được chồn nhung đen. Phương pháp này tuy rằng có thể lợi dụng triệt để không gian rộng lớn, quy mô chăn nuôi cũng khá lớn nhưng mà không thuận tiện trong việc cho ăn, bắt giữ chồn nhung đen và quan sát tình hình mang thai của chồn nhung đen, hộ chăn nuôi có thể tùy theo điều kiện thực tế mà có thể có những cải tiến mới nhằm nâng cao chất lượng và sản lượng chăn nuôi.

3. Dinh dưỡng và cho ăn
Thức ăn sau khi mà chồn nhung đen đã ăn thì sẽ đi qua đường tiêu hóa và được hấp thu một phần dinh dưỡng ở đây, đường tiêu hóa bao gồm: miệng, thực quản, gan, tuyến tụy, đường ruột, ở đây sẽ tiết ra dịch tiêu hóa, thức ăn sẽ được tiêu hóa 1 phần ở đây và được cugn cấp cho cơ thể. Chồn nhung đen là loại động vật ăn cỏ, cơ hàm phát triển, thành dạ dày mỏng, ruột thừa lớn, chiếm tới khoảng 1/3 khoang bụng, nên lượng ăn là rất lớn, nhu cầu chất xơ là rất nhiều. Chồn nhung đen có khả năng tiêu hóa chất xơ khá tốt, tới 38,2%, đối với chất xơ có trong cỏ thì tỷ lệ tiêu hóa là 33%, cho nên các loài cỏ thường dùng cho chăn nuôi gia súc rất thích hợp làm thức ăn xanh đối với chồn nhung đen. Ngoài ra thì chồn nhung đen cũng rất thích ăn củ cải, cà rốt, lá rau, các loại cỏ, lá cây, ngọn cây ngô, lá cây mía, rơm rạ.

- Nhu cầu dinh dưỡng:
+ Chồn nhung đen cần phải hấp thu 1 lượng thức ăn nhất định để duy trì sự sinh tồn, sinh trưởng và sinh sản, và cũng chỉ có thể ăn những loại thức ăn hợp khẩu vị mới có thể cung cấp được đầy đủ dinh dưỡng. Đối với điều kiện của người chăn nuôi, tỷ lệ thức ăn tinh có thể chiếm 20 - 30% lượng thức ăn của chồn nhung đen, còn lại là thức ăn xanh chiếm từ 70 - 80%. Để đảm bảo được chất lượng thịt chồn thơm ngon thì sau đây giới thiệu những yêu cầu về dinh dưỡng như sau, mọi người cùng tham khảo và có những điều chỉnh thích hợp.
+ Hàm lượng thành phần các chất dinh dưỡng cơ bản (%): 6.00 nước, 47,75 thực phẩm chiết xuất không có Nitơ; 0,24 sắt; 20,54 protein thô; 311,1 calo; 0,24 Magiê; chất béo: 6,34; 1,10 can xi; 0,53 Natri; 15,06 chất xơ; 0,69 phốt pho.
+ Hàm lượng các axit amin có trong thức ăn (%): histidine thô: 1,31; Phenylalanine: 0,53; axit amin tổng hợp: 0,49; threonine: 0,66; tyrosine: 0,55; lysine: 0,90; high-acid: 1,28; aspartate: 1,64; tryptophan: 0,27; Systine: 3,05; glycine: 0,87; proline: 1,02; isoleucine: 0,74; cysteine: 0,27; methionin: 0,27; valine: 0,83.
+ Trong thức ăn hàng ngày phải không được thiếu Vitamin D, mỗi 100 gam thể trọng cần tới 1,6 mg Vitamin D, thời gian mang thai cần tới 10 mg, việc thiếu Vitamin D làm cho xương sườn của chồn mềm đi, không cứng chắc, các khớp xương sưng to, kém ăn, sinh trưởng và phát dục kém, khả năng chống bệnh cũng giảm, hậu quả là làm cho chồn ngày càng yếu và thậm chí sẽ bị chết; nếu như trong thời gian dài không kịp thời bổ sung chất Vitamin D sẽ phát hiện thấy hiện tượng rụng lông rất nghiêm trọng. Ngoài ra còn cần phải bổ sung Vitamin E. Trong quá trinh nuôi dưỡng cũng phải chú ý bổ sung các loại khoáng chất.

- Cung cấp nước: Nước là thành phần cần thiết cho cơ thể của chồn nhung đen. Bất kể là hấp thụ, vận chuyển chất dinh dưỡng hay bài tiết, điều chỉnh nhiệt độ thân thể cũng thể không tính đến vai trò của nước. Mất nước sẽ làm cho phổi bị khô, ngoài ra còn bị táo bón không thể bài tiết phân ra ngoài cơ thể, làm cho chồn mắc bệnh, làm cho chồn bị gầy mòn rồi tử vong. Chồn nhung đen chủ yếu thông qua hàm lượng nước có trong thức ăn xanh để cung cấp lượng nước cần thiết cho cơ thể, đặc biệt là vào lúc thời tiết hanh khô của mùa hè và mùa thu, cần phải tăng lượng nước có trong nguồn thức ăn xanh của chồn để đảm bảo lượng nước cung cấp đầy đủ, lúc thời tiết nóng bức cũng phải cung cấp nhiều nước, còn vào thời tiết lạnh thì có thế cung cấp nước ít đi hoặc thậm chí là không cho uống nước, cũng chú ý giảm bớt lượng nước trong nguồn thức ăn xanh, phải chú ý là nước cung cấp cho chồn phải là nước sạch.

4. Các loại thức ăn


- Chồn nhung đen là loài ăn tạp, có thể ăn được nhiều loại thức ăn, thức ăn cho chồn trong tự nhiên có sẵn rất nhiều, nhưng chủ yếu là thực vật. Những loài thực vật có hàm lượng nước ít (nguồn thức ăn xanh).

- Thường bao gồm các loại thức ăn xanh dành cho gia súc có sẵn trong thiên nhiên hoặc là sản phẩm thừa của trồng trọt.

- Trong quá trình chăn nuôi thì thường dùng cỏ voi, cỏ voi lá ngắn… Trong đó, nhiều nhất là cho ăn cỏ voi: chứa tới 9,98% chất abumin, 3,4% chất béo thô; chất xơ và chứa tới 17 loại axit amin, so với lá ngô cao gấp 2,1 lần, cao hơn lúa mạch tới 1,33 lần. Chồn nhung đen thích ăn các loại cỏ và phần ngọn của các loại cây leo có hàm lượng chất xơ cao, ngoài ra còn rất thích ngọn cây ngô, ngọn cây cao lương, lá mía và các loại lá cây khác; Chồn nhung đen thích ăn các loại rau quả có: cà rốt, các loại khoai, vỏ dưa. Vỏ của những loại thức ăn này có hàm lương abumin cao, ít chấp béo lại chứa nhiều nước và các chất vitamin, có thể bổ sung lượng nước và vitamin cần thiết cho chồn nhung đen, giúp chồn nhung đen phát triển tốt. Tỷ lệ các chất dinh dưỡng cần thiết cho chồn nhung đen trong các loại thức ăn thể hiện như bảng sau:


5. Vệ sinh thú y – phòng trị bệnh
Chồn nhung đen là loại động vật rất ít bệnh tật. Trong thực tế (nghiên cứu tại VCN) thường gặp những bệnh sau:
+ Bệnh nội kí sinh trung đường tiêu hoá (nguyên nhân do cầu trùng sinh ra).
+ Bệnh ngoại kí sinh trùng (nguyên nhân ve, ghẻ, chấy, rận, bọ chét gây ra.
+ Bệnh xuất huyết, bại huyết (nguyên nhân do virus gây ra).
+ Bệnh nội khoa, viêm phổi, phủ tạng (nguyên nhân do vi khuẩn gây ra).
+ Hội chứng viêm hạch lâm ba hàm, hầu, cổ (nguyên nhân do vi khuẩn).

a) Vệ sinh phòng bệnh
- Vệ sinh khử trùng trước khi nuôi.Vệ sinh sạch sẽ rồi phun thuốc tiêu độc khử trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi… trước 5 – 7 ngày mới đưa vào nuôi. Thuốc dùng tiêu độc khử trùng phổ biến có thể là Haniodine, Benkocid…

- Vệ sinh khử trùng trong khi nuôi.
+ Cần quét dọn vệ sinh chuồng trại, dụng cụ, khu vực chăn nuôi định kì hàng ngày. Đồng thời cũng cũng dùng các hoá chất khử trùng trên tiêu độc khử trùng chuồng trại khu vực chăn nuô định kì một tuần một lần.
+ Tránh tiếp cho người lạ tiếp xúc vào khu vực chăn nuôi.
+ Thức ăn nuớc uống đầu vào phải sạch sẽ, hợp vệ sinh.

- Vệ sinh tẩy uế chuồng trại sau khi nuôiSau khi nuôi xong cũng phải quét dọn sạch sẽ và phun thuốc tiêu độc khử trùng khu vực chăn nuôi trước khi có thể chuẩn bị cho lứa nuôi mới.

b) Phòng – trị bệnh
- Phòng, trị bệnh cầu trùng bằng: Rigercorcin, Aprolium.

- Phòng trị bệnh ngoại kí sinh trùng, nội kí sinh trùng bằng Ivermectin.

- Phòng trị bệnh do vi khuẩn gây ra bằng văcxin và thuốc kháng sinh.

- Phòng bệnh xuất huyết bại huyết bằng văcxin xuất huyết truyền nhiễm thỏ.

- Tăng sức đề kháng bằng việc chăm sóc, nuôi dưỡng, thức ăn, vitamin, khoáng đa – vi lượng.

Cách phân biệt cá Rồng

Cách phân biệt cá Rồng
I) Phân loại cá rồng
Có 4 loại cá rồng:
- Cá rồng châu Á (Asian Arowanas).

- Cá rồng châu Úc (Australia Arowanas).

- Cá rồng Nam Mỹ (South American).

- Cá rồng châu Phi (African).

II) Cá rồng châu Á- Cá Rồng Châu Á là loại cá được xếp vào hàng đầu trong thế giới cá cảnh, vì sự ưa chuộng rộng rãi, giá trị cao và vẻ đẹp của nó. Nét độc đáo của hình dạng, miệng rộng và vẩy sáng đã làm cho cá rồng trở nên đặc biệt và đã làm cho bao con tim của những tài tử si mê cá phải rung động. Với nét gần gũi cùng tổ tiên Nhà RỒNG, tất cả các Hoa Kiều trên toàn thế giới đều tin tưởng Cá Rồng là tượng trưng cho sự may mắn, phát tài lộc, và đem lại hạnh phúc do đó cá rồng trở thành con vật được cưng chiều nuôi nấng trong nhà để làm cho Phong Thủy được tốt hơn. Theo tương truyền hồ cá rồng là Phong, Nước hồ là Thủy, Cá Rồng là Tài, ba chữ này hợp lại thành Đại Phúc. Do vậy ngoài việc thưởng thức vẻ đẹp hiếm thấy của cá rồng mà các chủ nhân thường xem cá rồng như là biểu tượng cho sự phú quý của mình, đó là lý do tại sao cá Rồng được ưa chuông nhiều.

- Cá Rồng châu Á được chia ra làm 4 loại tùy theo màu sắc tự nhiên khác nhau của từng giống:
+ KIM LONG QÚA BỐI từ Malaysia (Cross Back Golden Malaysia).
+ HUYẾT LONG (Super Red) từ tỉnh West Kalimantan, Indonesia.
+ KIM LONG HỒNG VỸ (Red Tail Golden) từ tỉnh Pekanbaru, Indonesia.
+ THANH LONG (Green Arowana) Riêng giống này có thể tìm thấy ở vài nhánh sông khác tại Malaysia Indonisia, Myanmar và Thái Lan. Trong những năm qua, vì sự ưa chuọ?g đại trà và nhu cầu quá cao, cộng với hứa hẹn của siêu lợi nhuận, sự săn bắt tận cùng bừa bải đã đưa số lượng cá rồng gần như tuyệt chủng. Đặc biệt là giống Kim Long Quá Bối và Huyết Long đột nhiên biến mất trong thập niên 80. May mắn thay, cá rồng được bảo vệ bằng cách liệt kê vào hàng động vật có cơ hội tuyệt chủng của CITES (Wild Fauna and Flora) được đăng ký vào hạng mục bảo vệ động vật số 1 (Appendix I CITES). Từ đó những kẻ săn bắt cá rồng mà khô?g có giấy phép sẽ bị truy tố và phạt tiền rất nặng, cho đến hôm nay vẫn còn nhiều quốc gia cấm buôn bán cá rồng như Mỹ và Đài Loan.

1. Kim long quá bối (Cross Back Golden)

- Có nhiều tên cho loại cá này, có người gọi Kim Long Quá Bối, Lưỡi xương rồng Mã Lai (Malayan Bony Tongue), Bukit Merah Xanh (Bukit Merah Blue), Đài Bắc Thanh Hoàng Long (Taipie Blue Golden) và Vàng của Mã (Malaysian? Gold). Tất cả đều cùng loạ: KIM LONG QUÁ BỐI. Cá này khi trưởng thành sẽ có màu suốt qua lưng. Lý do có nhiều tên là vì cá này được tìm thấy tại nhiều nơi trên lãnh thổ Malaysia như Perak, Trengganu, Hồ Bukit Merah và Johor.

- Vì lý do nguồn cung ứng thấp, và nhu cầu thì quá cao, cho nên loại cá này thuộc dạng đắt nhất, và yếu tố làm cho giá tăng cao hơn là vì ngoài sự hiếm hoi có sẵn, kỹ thuật ép đẻ thành công cũng thấp. hiện nay các trại cá ở Sing và Mã Lai đang ép giống cá này.

- Kim Long Quá Bối còn được phân loại xa hơn tuỳ theo màu của vẩy cá, bao gồm: Nền Xanh, Nền Tím, Nền Vàng, Nền Xanh Lục, và nền Bạc. Từ ngữ Nền Xanh và Nền Tím được dùng lẫn lộn tuỳ theo từng trại cá ép vì dải màu xậm trên sống lưng cá khi nhìn ở góc nghiêng thì có màu xanh dương đậm, nhưng khi nhìn ở một góc độ khác thì thành màu tím sậm. NỀN VÀNG là loại có vẩy màu vàng 24K, óng ánh từ viền vảy vào đến tâm vảy. Thay vì tâm vảy màu xanh hoặc màu tím. Cá nền vàng này qúa bối (màu qua lưng) nhanh nhất so với các loại cá khác. Kim Long Quá Bối có một sắc màu toàn vẹn nhất, khi trưởng thành, toàn thân vàng ửng như 1 thỏi vàng 24K bơi lơ lửng trong hồ. Thỉnh thoảng quay vòng nhẹ nhàng và tự tin trong phong thái VUA của các loài Cá Cảnh. Trong khi các loại cá cũng màu vàng khác không có được sắc màu trời cho này. Dĩ nhiên cũng không quên đề cập tới người anh em Nền Xanh Lục và Nền Bạc có tâm vảy màu xanh lục và màu bạc, tuy nhiên ít được ưa chuộng hơn.

- Thật khó khăn khi muốn phân biệt cho thật chính xác vì các trại ép cá thường hay ép giống này lai qua giống khác, không còn thuần chủng như ngày xưa. Tuy nhiên ưu điểm là họ đã sản xuất ra những loại cá mới, lạ và sặc sỡ hơn. Điển hình các loại cá mới như Platium White Golden (Bạch Ngọc/Bạch Kim) và Royal Golden Blue (Hoàng Triều Thanh Long) là giống mới được sản xuất gần đây. Hai loại này hiện đang mang bảng giá cao nhất thế giới, và các Đại Gia Nhật Bản không quản ngại tiền bạc tung ra chỉ để sở hữu 1 chú này (DTV: có 1 chú đã bán ở Nhật với giá 800,000 USD và 1 chú khác giá 280,000 USD ????) và chỉ có ở Malaysia mới sản xuất thành công 2 loại cá trên.

2. Huyết long (Super Red)


Đây là loại Rồng Châu Á có màu đỏ. Cá Rồng Đỏ phát hiện tại nhiều vùng thuộc địa phận Tây Kalimantan ở Indonesia, địa danh nổi nhất là Sông Kapuas và Hồ Sentarum, tại đây, loại Rồng Đỏ (Đỏ Ớt và Đỏ Máu ? Chilli and Blood Red) được phát hiện đầu tiên. Đây là loại cá phổ biến nhất trong các loại cá rồng, nguyên nhân là vì màu sắc sặc sỡ đồng thời giá cả mềm hơn loại Kim Long Quá Bối, điểm nổi bật là vi, đuôi, miệng, râu đã trổ màu đỏ từ khi còn bé, các tay chơi cá thật khó cưỡng nổi ham muốn và rất thích làm chủ 1 chú cá này. Khi lớn lên màu đỏ bắt đầu xuất hiện ở những phần thân thể khác như nắp mang cá, viền của vẩy, làm cho toàn thân cá ửng đỏ lên. Sự phổ biến và ưa chuộng Rồng Đỏ đã thúc đẩy các trại cá bắt đầu ép cá Rồng đỏ vì siêu lợi nhuận và hiện nay Rồng Đỏ lại đắt hơn Kim Long Quá Bối, tuy nhiên sau 1 thời gian ồ ạt sản xuất, Rồng Đỏ đã hạ gía thành, tuy nhiên vẫn đắt hơn Kim Long Quá Bối.

- Rồng Đỏ được chia ra làm 4 loại khác nhau: Đỏ Ớt (Chilli Red) Đỏ Huyết (Blood Red), Đỏ Cam (Orange Red) và Đỏ Vàng (24K) (Golden Red). Thời gian gần đây những rồng đỏ này được góp lại và gọi chung cùng tên là Huyết Long (Super Red) hoặc Rồng Đỏ cấp 1 (1st Grade Red). Điều này tạo ra tranh cãi, vì cách áp dụng tên Huyết Long khi loại Đỏ Cam và Đỏ Vàng không đạt được đúng nghĩa của chữ ĐỎ khi so sánh với 2 loại trên, vì chúng chỉ xuất hiện màu vàng da cam hoặc vàng 24K. Dù vậy các trại cá vẫn lạm dụng từ Huyết long để đặt tên chung cho cá ép của trại mình.

- Cả 2 loại Đỏ Ớt và Đỏ Máu đều xuất xứ từ nguồn nước nổi tiếng ở miền Tây Kalimantan, Indonesia có tên gọi là Sông Kapuas và Hồ Sentarum. Hồ Sentarum bao gồm nhiều hồ nhỏ nối liền với nhau và tập hợp lại tại đầu cuối của Sông Kapuas. Trong nước này chứa nhiều cây gẫy lâu năm chìm trong lòng sông hồ tạo thành môi trường tốt cho cá rồng sinh sống , nhưng với sự ô nhiễm, chất thải, bùn bẩn, nước tù đã ảnh hưởng không ít đến màu sắc nguyên thủy của cá rồng tại đây. Một nguyên nhân khác ảnh hưởng đến màu sắc nguyên thủy của cá Rồng Đỏ là sự ép giống lộn xộn đã sản sinh ra nhiều màu khác nhau. Có những giống có mình dày hơn, miệng cong và sâu hơn, có giống màu đỏ tươi hơn, màu nền xậm hơn. Vì sự khác biệt này, những người lái cá đầu tiên ở Indonesia chế ra 2 tên gọi chung cho 2 nhóm rồng hoá đỏ chính được tìm thấy trong vùng: Đỏ Ớt (Chilli Red) và Đỏ Máu (Blood Red). Những tên này được gán cho cá là vì độ Đỏ giữa 2 loài cá này. Đỏ ớt có màu đỏ tươi và Đỏ Máu có màu đỏ đậm hơn giống như máu bầm. Bên cạnh màu sắc, 2 loại cá này cũng có hình dạng khác nhau. Đỏ Ớt có thân mình rộng và dày hơn, trong khi Đỏ Máu thì dài và dẹp hơn, Sự khác biệt này có thể dễ dàng nhận ra khi nhìn chú Đỏ Ơt thì độ dày ngang từ sống lưng qua bụng đến đuôi đều dày và rộng trong khi Đỏ Máu từ thuôn hơn khi nhìn từ gáy đến phần đuôi. Sự khác biệt về hình dáng và có độ vảy dày hơn, đầu hình cái muỗng, màu đỏ tươi, đã làm cho Đỏ Ớt trở thành như lực sĩ thể hình, Xung, Cân đối và dễ nhìn.

- Điểm khác biệt khác dễ nhận dạng là Đỏ Ớt có cặp mắt thật to, màu đỏ và đuôi hình Kim Cương (Diamond - shaped tail) - (DTV: Ở VN thì gọi là hình trái đào). Trong khi Đỏ Máu thì có cặp mắt trắng và nhỏ, đuôi thì mở rộng hình cánh quạt (Fan-Shaped Tail). Cặp mắt của Đỏ Ớt rất to và rộ?g, đôi khi to đến độ phần trên gần như đụng đầu và phần dưới gần chạm vào miệng. Phần đuôi của Đỏ Ớt giống như hình viên Kim Cương và mọc dài ra phía sau khi trưởng thành. Mặt khác, Đỏ Máu thì có cặp mắt nhỏ hơn nhiều nhìn vào thấy ?bình thường? hơn và tròn trịa hơn. riêng phần đuôi thì xoè ra như cánh quạt thật đẹp. Những khác biệt này thật rõ ràng kể cả khi cá còn rất bé cũng có thể nhận ra.

- Đỏ CAM (Orange Red) Đây là loại cá rất phổ biến trong giới ép cá đẻ vì dễ thành công hơn, loại không phải là loại "Hoá đỏ" (Red-turning type). Khi trưởng thành chú cá này ?trình diễn? vây màu Vàng Cam phủ đầy mình rất rõ khi so sánh với Đỏ Ớt và Đỏ Máu. Sự khác biệt thể hiện rõ hơn khi phần Vi trên + dưới và đuôi cũng không được màu đỏ như 2 loại đàn anh trên.

- Đỏ VÀNG (Golden Red) là loại cá rồng cũng thường gặp bên cạnh người anh em Đỏ Cam. Loại này có giá trị thấp nhất trong các loại Rồng Đỏ vì khi trưởng thành, nó chỉ có màu vàng nhạt quanh thân thể, môi và râu cũng không có màu đỏ mà chỉ hơi vàng 1 tí thôi, thật ra có nhiều con thuộc loại này cũng không có màu ở vi và đuôi nữa. Đây là hậu quả của sự ép đẻ khác giống đã cho ra 1 thế hệ có chất lượng nửa vời, chỉ vì sự ép đẻ rất thành công dễ dàng cho những trại cá chủ trương bán rẻ nhưng bán nhiều (số lượng hơn chất lượng !!!!)

- Đỏ Xanh Lục (Banjar Red) hoặc còn gọi "Công dân loại 2" (2nd Grade Red) chưa bao giờ chính thức từ giống Huyết Long. Đây cũng lại là một chế tác của các ông lái cá tài tử ép đẻ giữa cá mái Đỏ Xanh Lục, Hồng Vỹ hoặc Thanh Long với Huyết Long đực chính hiệu để tăng năng xuất về cá con. Đôi khi các tay buôn này còn dùng hormones hoặc thuốc kích thích để làm cho các chú cá này nhìn rất là "Đỏ". Vì vậy khi mua Rồng Đỏ TUYỆT ĐỐI không nên mua loại cá được giới thiệu "Rồng Đỏ tự nhiên" (Wild caught Red Arowana) và khi hỏi có khai sinh thì lại trưng ra KS của CITES (DTV: Tất cả cá rồng không phân biệt loại nào, dù rẻ hay đắt, bán ở tiệm tại các nước Mã, Thái, Indo, Sing đều phải có khai sinh, vì nếu không khi bị bắt sẽ bị phạt rất nặng (động vật quý hiếm có cơ diệt chủng). Cách cuối cùng cho chúng ta nhận biết là nhìn đầu cá thì tròn hơn, miệng không được nhọn, vẩy không sáng, có màu xanh/vàng trên vẩy là đúng loại Banjar Red.

3. Kim long hồng vỹ (Red Tail Golden)


Được biết đến với tên Kim Long Hồng Vỹ (KLHV) hoặc Kim Long Indo, loại này được xếp hạng chung trong gia đình Kim Long với Kim Long Quá Bối (KLQB), Kim Long Malaysia, giá thành của Kim Long Hồng Vỹ rất ?mềm? so với Kim Long Quá Bối. Lý do là vì KLHV sẽ không bao giờ đạt được màu vàng 24K như KLQB, và màu vàng của KLHV sẽ không bao giờ vượt qua khỏi lưng mà khi trưởng thành luôn luôn có 1 vệt đen lớn kéo dài từ đầu đến đuôi cá. Mặc dù giá trị không cao khi so sánh với ?Cục Vàng Biết Bơi? (KLQB), nhưng đa phần các chú KLHV này sẽ có màu vàng lên đến lớp vảy thứ 4 và có vài chú, choé hơn thì màu vàng lên đến hàng vảy thứ 5. Cũng giống như đồng chí KLQB, KLHV cũng khác loại tuỳ theo màu sắc từng con, như nền xanh, xanh lục và nền vàng. Khi còn bé KLHV không có màu sắc gì hết trong khi KLQB đã thể hiện màu mè rõ ràng, sáng lóng lánh, và màu cũng đã xâm nhập lên hàng vảy thứ 5 rồi.
Nói chung KLHV "lì lợm" hơn so với KLQB, nhanh lớn hơn, và cỡ bự hơn, tuy nhiên Hồng Vỹ thì XUNG hơn KLQB. Thật khó khi nuôi chung trong 1 hồ lớn, thường thì 8-9 con cá nhỏ, trong khi KL Malaysia thì không sao cả, loại này cũng được bảo vệ của CITES, tuy nhiên vẫn bị săn lùng ở nơi thiên nhiên, ngoài ra, các bạn bạn rất giống nhau từ đuôi, Vi, và màu trên miệng của 2 loai KLHV này.

4. Thanh Long (Green Arowana)
- Đây cũng là 1 loại trong giòng họ cá rồng, thường tìm thấy ở Thái Lan, Mã Lai, Miến Điện, Indonesia và Campuchia. Vì loại này sống ở nhiều phong thổ khác nhau và rộng rãi như vậy nên hình dạng và màu sắc cũng có thể khác nhau. Hầu hết những loại Thanh Long tìm thấy ở những nơi này có màu xám xanh ở thân mình và đuôi có sọc xanh xám đậm. Hình dáng Thanh long cũng đặc trưng khác thường hơn so với các loại cá rồng khác, đầu và miệng thì tròn và to hơn. Đây là loại cá rẻ tiền nhất trong các loại rồng cùng với loại Đuôi Vàng (Yellow Tail). Tuy nhiên có 1 loại Thanh Long Xanh (có xen lẫn màu tím trên tâmvảy) thì lại được đứng chung hàng với các đàn anh cao quý khác. Thanh Long cùng với Huyết Long hhạng 2 (2nd Grade Red) được ưa chuộng nhiều nhất ở Thái Lan và Philippines vì giá mềm của nó. Bên cạnh đó, loại này cũng được các chú học trò nhỏ bên Nhật khoái vì vừa túi tiền, có khả năng tậu được, để vừa chiêm ngưỡng vừa tập ép đẻ.

- Rất bình thường các chú cá này được hầu hết các tay mới tập chơi cá dùng làm bước khởi đầu cho sự nghiệp chơi cá cảnh sau này vì, vừa rẻ vừa dễ kiếm. Sau đó đã ký cóp 1 ít kinh nghiệm rồi mới bắt đầu chuyển qua KLHV, KLQB hoặc Huyết Long.

III) Cá rồng châu Úc


- Tên Khoa Học : Scleropages Jardini, Scleropages Leichardti.

- Có 3 loại Rồng Úc: Rồng Châu, Rồng Đốm, và Rồng Đỏ.

- Rồng Châu là loài cá tuyệt đẹp, trông giống rồng châu Á. Ngoại trừ Rồng Châu Úc có nhiều vảy và vảy thì nhỏ hơn và có châu màu đỏ. Rồng Á Châu thường thì có 5 hàng vảy, rồng Úc thì có đến 7 hàng vảy, Về màu thì có màu đồng đến màu vàng 24K, rồng châu úc có vảy có những châu nhỏ hình trăng lưỡi liềm, đuôi màu đen có chấm vàng, 1 điều bình thường của loại cá này là nó hay hớp hơi trên mặt nước, Rồng Úc là loại cá XUNG nhất trong các loại rồng, và không có trong danh mục bảo vệ động vật quý hiếm.

- Rồng Đốm cũng giống như rồng Châu, ngoại trừ Vi và đuôi đậm màu hơn, còn vảy thì có những đốm tròn nhỏ chứ không có hình lưỡi liềm như loại châu, thỉnh thoảng có những đốm nhỏ màu đỏ trên vảy, loại này cũng không được bảo vệ.

- Rồng Đỏ rất hiếm, và là loại cá đẹp nhất của Rồng Úc. Vảy và Vi có màu đỏ nâu đậm với các chấm vàng, còn 1 loại hiếm thấy khác là Châu Vàng có màu vàng sáng (24K gold) hơn những loại rồng Úc khác.

IV) Cá rồng Nam Mỹ
1. Bạch Long


- Tên khoa học: Osteoglossum Bicirrhosum (BDV: Hình như VN gọi là Ngân Long).

- Bạch Long được tìm thấy ở Sông Amazon miền Nam Mỹ. Hình dạng cũng giống Hắc Long ở chỗ đuôi hình nón, vảy và vi có màu bạc, loại này không được bảo vệ. Cùng họ hàng với Bạch Long có 2 loại rất hiếm là Bạch Long Hồng Vỹ (Red-Tail Silver) và Bạch Tuyết Long (Snow Silver).

- Bạch Long là loại cá rồng phổ thông mà bạn có thể tìm thấy ở bất cứ tiệm cá cảnh nào tại bất cứ địa phương nào trên trái đất, loại này đứng hàng số 1 trong các loại rồng thuộc giống Osteoglossidae. Giống như Hắc Long, cả 2 đều xuất xứ từ Nam Mỹ, đều có đuôi hình nón, nhưng chỉ khác là màu bạc trắng toàn thân. Bạch Long khi trưởng thành có thể dài đến 90Cm, và là dài nhất trong tất cả các loại cá rồng. Bạch Long nổi tiếng ?nhậu nhẹt vô tư? ăn khỏe và dịu dàng nhất trong các loại cá rồng.
2. Hắc Long


Tên khoa học: Osteoglossum Ferrerai
Hắc Long cũng xuất xứ từ Nam Mỹ và hình dạng cũng giống Bạch Long ở chỗ đuôi hình nón. Khi còn bé, Hắc Long có Vi và vảy màu đen, với những dọc trắng hoặc vàng trên vi, Nhưng đến khi trưởng thành, Hắc Long sẽ từ từ mất dần màu sắc và trở thành màu xám. Hắc Long có thể dài đến 80 Cm và không có trong danh bạ bảo vệ. Hắc Long khó nuôi hơn Bạch Long. Loại này hơi khó kiếm vì chỉ đẻ theo mùa, trong khi các loại khác thì có thể đẻ quanh năm.
V) Cá rồng Châu Phi


Tên khoa học: Heterotis Niloticus.
Còn có tên Africa Nile Arowana hoặc phổ biến hơn là Rồng Đen Châu Phi (Africa Black Arowana). Loại rồng châu phi này hiếm nhưng không đắt, vì ít có người hoặc chuyên gia cá cảnh thích nuôi vì sự xấu xí của nó so với các loại cá rồng khác.
Rồng châu phi xuất xứ từ Phi Châu, và thường thấy ở các tiệm cá, Nó có đầu tròn, láng lẩy, và cằm cũng tròn, vẩy và đuôi nhỏ, khi trưởng thành trông giống cá tra hơn là cá rồng./.

Ca rong, cach phan biet by CLB Nha Nong hoi nhap

Thứ Tư, 24 tháng 10, 2012

Ấn Độ giảm xuất khẩu tôm sang Nhật

Ấn Độ giảm xuất khẩu tôm sang Nhật


Ấn Độ giảm xuất khẩu tôm sang Nhật by TTKNQG | An Do giam xuat khau tom sang Nhat

Động thái bất ngờ của Cơ quan An toàn thực phẩm Nhật Bản yêu cầu bắt buộc phải kiểm tra dư lượng chất ethoxyquin trong tôm nhập khẩu từ Ấn Độ đã làm giảm hẳn lượng tôm mà Nhật nhập khẩu từ các bang ở Ấn Độ như Andhra Pradesh và Orissa.
 
- Nhiều hộ nuôi tôm ở hai bang trên đang rất lo lắng về tình hình xuất khẩu tôm sang Nhật Bản - một trong những thị trường nhập khẩu thủy sản chính của Ấn Độ (60% sản lượng tôm của bang Orissa được xuất sang Nhật), kể từ sau khi Nhật Bản phát hiện dư lượng ethoxyquin trong tôm Ấn Độ xuất sang nước này và ban hành lệnh bắt buộc kiểm tra dư lượng chất ethoxyquin trong tôm Ấn Độ kể từ đầu tháng 8 vừa qua. Việc Nhật Bản đột ngột hạ mức dư lượng ethoxyquin trong tôm nhập khẩu từ Ấn Độ xuống 0,01 ppm mà không thông báo trước cho các nhà xuất khẩu hay cơ quan chức năng của Ấn Độ, đã tác động mạnh tới lĩnh vực xuất khẩu tôm của Ấn Độ: hàng loạt lô tôm của Ấn Độ bị trả về, nhiều công ty phải tạm ngừng xuất khẩu tôm sang thị trường này và các nhà xuất khẩu không dám tiếp tục thu mua tôm từ người nuôi, giá tôm Ấn Độ trên thị trường thế giới giảm từ 20 - 25%.

- Chính phủ Ấn Độ đã cử nhiều đoàn sang đàm phán với cơ quan chức năng của Nhật Bản nhưng tình hình chưa được cải thiện. Vào đầu tháng 9 vừa qua, Cơ quan Phát triển xuất khẩu thủy sản Ấn Độ (MPEDA) cũng cử một phái đoàn của MPEDA do Chủ tịch cơ quan này dẫn đầu, tới Nhật Bản để tái khẳng định với các nhà chức trách Nhật Bản rằng sản phẩm tôm xuất khẩu của họ là “hoàn toàn an toàn” và mức dư lượng ethoxyquin trong tôm do Nhật Bản đơn phương áp đặt (chỉ là 0,01 ppm) là “phi lý vì không dựa trên các nghiên cứu khoa học tầm quốc gia và quốc tế”. Đoàn công tác trên cũng đã gặp Bộ trưởng Sức khỏe, Lao Động và Phúc lợi xã hội Nhật Bản Yoko Komiyama yêu cầu xem xét và can thiệp gấp vấn đề trên. Bộ trưởng Komiyama đã chuyển vấn đề này sang cho ủy ban an toàn thực phẩm Nhật Bản xem xét và giải quyết.

- MPEDA cũng chỉ ra rằng không có các tiêu chuẩn quốc tế nào đối với giới hạn tối thiểu cho dư lượng chất ethoxyquin trong tôm do chưa có chứng cứ khoa học thuyết phục nào cho thấy nó có hại cho sức khỏe con người.

- Theo thống kê của Cơ quan Quản lý Nghề cá biển Mỹ (NMFS), trong năm 2011, Ấn Độ là nước cung cấp tôm lớn thứ ba cho thị trường Nhật Bản sau Thái Lan và Việt Nam, với 30.936 tấn, tăng 9,1% so với năm 2010.

- Số liệu ngày 1/10 của Bộ Thương mại Ấn Độ cho biết, xuất khẩu của Ấn Độ từ tháng 4 - 8/2012 giảm 5,96% xuống còn 119,5 tỷ USD, so với 127,5 tỷ USD cùng kỳ năm ngoái; trong khi nhập khẩu giảm 6,2% xuống mức 191,1 tỷ USD. Thâm hụt mậu dịch của Ấn Độ trong thời gian này là 71 tỷ USD.

Bài đăng phổ biến