Hiển thị các bài đăng có nhãn Tôm Càng Xanh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tôm Càng Xanh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 20 tháng 11, 2012

Mô hình ương tôm Càng Xanh giống trên bể bạt hiệu quả

Mô hình ương tôm Càng Xanh giống trên bể bạt hiệu quả


Mô hình ương tôm càng xanh giống trên bể bạt hiệu quả by Sở NNBT | Mo hinh uong tom cang xanh giong tren be bat hieu qua

Trong những năm gần đây phong trào nuôi tôm càng xanh phát triển mạnh và đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nhiều nông dân. Nhận thấy nhiều nông dân đầu tư nuôi tôm càng xanh ngày càng nhiều do đó nhu cầu về con giống là rất cần thiết nên nhiều năm nay anh Anh Nguyễn Kỳ Viên ở ấp An Hòa xã An Thạnh huyện Mỏ Cày Nam đã tìm hiểu học hỏi và ương thành công tôm giống trong bể bạt phục vụ nguồn con giống cho bà con nuôi tôm tại địa phương.
 
- Trong khoảng 5 năm về trước thông qua lớp tập huấn khuyến nông, khuyến ngư và học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình ương các loài thủy sản trong và ngoài huyện. Anh Viên đã bắt đầu thử nghiệm làm vèo ương tôm giống. Đã 5 năm kinh nghiệm trong thực hiện quy trình ương tôm giống, anh Viên trở thành chủ cơ sở sản xuất tôm giống cung cấp giống cho những hộ nuôi tôm trên địa bàn huyện.

- Anh Viên cho biết: trước đây, anh ương tôm giống trong vèo lưới nhưng qua nhiều năm thực hiện anh thấy đạt hiệu quả không cao và khó khăn trong khâu chăm sóc. Anh ương 6 vèo lưới, mỗi vèo có diện tích 8 m2 với 80.000 con tôm post. Do ương ở vèo ảnh hưởng bởi nguồn nước khó kiểm soát nên tỷ lệ tôm hao hụt cao, tỷ lệ sống chỉ đạt từ 60 - 70%. Lợi nhuận không khá, khoảng 2 năm sau, anh tiến hành đào ao chuyển sang mô hình ương tôm giống trong bể bạt. Vụ đầu anh ương thành công và thời gian sau anh chuyển hoàn toàn các vèo lưới sang nuôi trong 3 bể bạt với diện tích 70 m2 mỗi ao. Sau khi cải tạo ao đất, anh Viên mua tôm post từ các trại giống về thả ương.

- Chia sẻ kĩ thuật ương tôm giống, anh Viên cho biết: “Ban đầu khi mua tôm post về ương, tôi đã không thả trực tiếp xuống bể mà cho vào một cái thao nhỏ thả tôm post vào thao sau đó cho nước vào từ từ nhằm hạ độ mặn và điều hòa nhiệt độ, tránh tôm khi thả trực tiếp xuống nguồn nước nhằm làm thuần nhiệt và độ mặn tránh tôm bị sốc khi thả thẳng ra môi trường nước ngọt.

- Theo anh Viên, kĩ thuật ương tôm giống tương đối dễ. Mật độ thả nuôi 1000 con/m2, trong bể nuôi cần thả vài tàu lá dừa làm giá thể cho tôm con trú ngụ. Tôm con chỉ ăn thức ăn công nghiệp, mỗi ngày anh cho tôm ăn 5 lần. Cứ cách 4 giờ anh tiến hành cho tôm ăn một lần. Trong suốt thời gian nuôi trong khoảng 2 tuần đầu anh không thay nước nhằm giữ màu nước ổn định, tôm mới thả ra môi trường tự nhiên tránh cho tôm khỏi bị động nước. Ở những lần sau cứ mỗi tuần anh thay nước hai lần đảm bảo nguồn nước sạch cho tôm phát triển và giảm rủi ro tôm chết do nguồn nước bị ô nhiễm.

- Anh đầu tư 3 bể bạt, mỗi bể có diện tích 70 m2, chi phí đầu ao và cả con giống khoảng 8 triệu đồng mỗi bể. Khi mua tôm post giá chỉ 160 đồng/con, qua thời gian nuôi dưỡng, sau 30 ngày ương tôm đạt trọng lượng 3cm/con. Thị trường tiêu thụ tôm giống rất thuận lợi. Giá tôm giống hiện nay từ 600 - 800 đồng/con. Mỗi năm anh tiến hành ương từ 3 đến 4 vụ. Mỗi năm anh xuất bán từ 120.000 - 150.000 con tôm giống chủ yếu cung cấp tôm giống cho các hộ nuôi tôm trên địa bàn huyện. Sau thu hoạch anh lãi từ 50 - 60 triệu đồng mỗi năm.

- So sánh hiệu quả từ ương tôm giống trong vèo lưới và trong bể bạt anh Viên cho biết: Nuôi trong bể bạt tỷ lệ sống đạt cao hơn so với ương trong vèo lưới. Nuôi trong bể bạt tỷ lệ tôm sống đạt từ 85 - 90%. Để đạt hiệu quả cao, bể nuôi cần đảm bảo nguồn nước phải sạch. Trước khi thả tôm post anh xử lí nước bằng clor hoặc thuốc tím để diệt đi mầm bệnh trong nguồn nước nhằm giảm tỷ lệ hao hụt tôm giống.

- Nhạy bén trong sản xuất, ham học hỏi kinh nghiệm, thành công từ mô hình ương tôm giống trong bể bạt anh Viên phấn khởi nói: “ương tôm giống trong bể bạt không phải tốn nhiều diện tích đất, nông dân có thể làm kinh tế hiệu quả, lợi nhuận thu nhập tương đối khá. Nhiều năm qua gia đình tôi khá lên nhờ mô hình này”.

- Hiện nay, phong trào nuôi tôm càng xanh trong mương vườn phát triển mạnh, hiện ngành nông nghiệp huyện đang khuyến khích người dân nuôi tôm càng xanh xen canh trong mương vườn góp phần tăng thêm thu nhập. Thành công từ mô hình ương tôm giống của anh Viên sẽ góp phần tạo ra nguồn tôm giống tại chỗ đáp ứng nhu cầu nuôi tôm của người dân địa phương.

Thứ Tư, 24 tháng 10, 2012

Ấn Độ giảm xuất khẩu tôm sang Nhật

Ấn Độ giảm xuất khẩu tôm sang Nhật


Ấn Độ giảm xuất khẩu tôm sang Nhật by TTKNQG | An Do giam xuat khau tom sang Nhat

Động thái bất ngờ của Cơ quan An toàn thực phẩm Nhật Bản yêu cầu bắt buộc phải kiểm tra dư lượng chất ethoxyquin trong tôm nhập khẩu từ Ấn Độ đã làm giảm hẳn lượng tôm mà Nhật nhập khẩu từ các bang ở Ấn Độ như Andhra Pradesh và Orissa.
 
- Nhiều hộ nuôi tôm ở hai bang trên đang rất lo lắng về tình hình xuất khẩu tôm sang Nhật Bản - một trong những thị trường nhập khẩu thủy sản chính của Ấn Độ (60% sản lượng tôm của bang Orissa được xuất sang Nhật), kể từ sau khi Nhật Bản phát hiện dư lượng ethoxyquin trong tôm Ấn Độ xuất sang nước này và ban hành lệnh bắt buộc kiểm tra dư lượng chất ethoxyquin trong tôm Ấn Độ kể từ đầu tháng 8 vừa qua. Việc Nhật Bản đột ngột hạ mức dư lượng ethoxyquin trong tôm nhập khẩu từ Ấn Độ xuống 0,01 ppm mà không thông báo trước cho các nhà xuất khẩu hay cơ quan chức năng của Ấn Độ, đã tác động mạnh tới lĩnh vực xuất khẩu tôm của Ấn Độ: hàng loạt lô tôm của Ấn Độ bị trả về, nhiều công ty phải tạm ngừng xuất khẩu tôm sang thị trường này và các nhà xuất khẩu không dám tiếp tục thu mua tôm từ người nuôi, giá tôm Ấn Độ trên thị trường thế giới giảm từ 20 - 25%.

- Chính phủ Ấn Độ đã cử nhiều đoàn sang đàm phán với cơ quan chức năng của Nhật Bản nhưng tình hình chưa được cải thiện. Vào đầu tháng 9 vừa qua, Cơ quan Phát triển xuất khẩu thủy sản Ấn Độ (MPEDA) cũng cử một phái đoàn của MPEDA do Chủ tịch cơ quan này dẫn đầu, tới Nhật Bản để tái khẳng định với các nhà chức trách Nhật Bản rằng sản phẩm tôm xuất khẩu của họ là “hoàn toàn an toàn” và mức dư lượng ethoxyquin trong tôm do Nhật Bản đơn phương áp đặt (chỉ là 0,01 ppm) là “phi lý vì không dựa trên các nghiên cứu khoa học tầm quốc gia và quốc tế”. Đoàn công tác trên cũng đã gặp Bộ trưởng Sức khỏe, Lao Động và Phúc lợi xã hội Nhật Bản Yoko Komiyama yêu cầu xem xét và can thiệp gấp vấn đề trên. Bộ trưởng Komiyama đã chuyển vấn đề này sang cho ủy ban an toàn thực phẩm Nhật Bản xem xét và giải quyết.

- MPEDA cũng chỉ ra rằng không có các tiêu chuẩn quốc tế nào đối với giới hạn tối thiểu cho dư lượng chất ethoxyquin trong tôm do chưa có chứng cứ khoa học thuyết phục nào cho thấy nó có hại cho sức khỏe con người.

- Theo thống kê của Cơ quan Quản lý Nghề cá biển Mỹ (NMFS), trong năm 2011, Ấn Độ là nước cung cấp tôm lớn thứ ba cho thị trường Nhật Bản sau Thái Lan và Việt Nam, với 30.936 tấn, tăng 9,1% so với năm 2010.

- Số liệu ngày 1/10 của Bộ Thương mại Ấn Độ cho biết, xuất khẩu của Ấn Độ từ tháng 4 - 8/2012 giảm 5,96% xuống còn 119,5 tỷ USD, so với 127,5 tỷ USD cùng kỳ năm ngoái; trong khi nhập khẩu giảm 6,2% xuống mức 191,1 tỷ USD. Thâm hụt mậu dịch của Ấn Độ trong thời gian này là 71 tỷ USD.

Thứ Hai, 9 tháng 7, 2012

Mô hình nuôi tôm càng xanh bằng giống tôm nhân tạo ở huyện Càng Long

Mô hình nuôi tôm càng xanh bằng giống tôm nhân tạo ở huyện Càng Long


Mô hình nuôi tôm càng xanh bằng giống tôm nhân tạo ở huyện Càng Long by TV | Mo hinh nuoi tom cang xanh bang giong nhan tao

Địa bàn huyện Càng Long có 5 xã nằm ven Sông Tiền với nhiều sông rạch chằng chịt và được lưu thông bởi hai quốc lộ 53 và 60. Định hướng của huyện là quy hoạch vùng này phát triển nuôi trồng thủy sản kết hợp vườn cây ăn trái. Hàng năm, có khoảng 500 - 700 hộ dân thả nuôi tôm càng xanh trên 200 ha mặt nước ao hồ, năng suất bình quân 500 - 1.000 kg/ha, thu nhập bình quân 70 - 100 triệu đồng/ha. Những năm gần đây, lượng tôm giống ngoài thiên nhiên ngày càng cạn kiệt, không đủ đáp ứng cho nhu cầu nuôi của nông dân.


- Riêng ấp Long Sơn, xã Đức Mỹ có diện tích tự nhiên: 310 ha, nhân dân ở đây sản xuất chủ yếu là vườn cây ăn trái kết hợp nuôi trồng thuỷ sản. Trong năm 2008 diện tích nuôi trồng thuỷ sản của toàn ấp là 58 ha, trong đó diện tích nuôi tôm càng xanh: 19 ha, năng suất 700 kg/ha, sản lượng đạt khoảng 13 tấn, thu nhập bình quân 50 triệu/ha, chủ yếu nuôi với hình thức là quảng canh và quảng canh cải tiến. Nguồn giống thả nuôi chủ yếu là giống tôm càng xanh tự nhiên, chỉ có một số ít bà con sử dụng giống tôm càng xanh nhân tạo. Đặc điểm tự nhiên của hai loại giống này như sau:
+ Giống tôm càng xanh tự nhiên: Có kích thước lớn nhưng kích cỡ không đồng đều, cung cấp với số lượng ít không đủ giống thả cho những quy mô lớn.

+ Giống tôm càng xanh nhân tạo: Có kích thước nhỏ nhưng kích cỡ đồng đều, cung cấp với số lượng nhiều và đáp ứng đủ nhu cầu nuôi.

- Vào cùng thời điểm đó xã Đức Mỹ được Trung tâm Khuyến Ngư tỉnh Trà Vinh nay là Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư) đã đầu tư một mô hình nuôi tôm càng xanh bằng nguồn giống tôm nhân tạo ở ấp Nhuận Thành đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nông hộ và cho thấy giống tôm càng xanh nhân tạo đã thích nghi tốt với điều kiện môi trường sống ở nơi đây. Từ những hiệu quả mang lại trên, năm 2009 Trung tâm Khuyến nông- Khuyến ngư tỉnh Trà Vinh kết hợp với phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Càng Long và UBND xã Đức Mỹ tiến hành triển khai xây dựng đề án đầu tư mô hình nuôi tôm càng xanh bằng nguồn giống tôm nhân tạo ở ấp Long Sơn, xã Đức Mỹ với qui mô diện tích ao là 0,5 ha. Nguồn vốn thuộc Chương trình vốn sự nghiệp 2009. Thời gian thực hiện 6 tháng (tháng 6 - 12/2009). Mật độ thả nuôi 10 con/m2, kích cỡ giống thả Post 12 - 15 (nguồn gốc giống từ Trung tâm Giống thủy sản tỉnh Trà Vinh). Định mức hỗ trợ 40% con giống, 20% thức ăn, 100% thuốc và hóa chất phòng trị bệnh. Tổng lượng giống thả là 50.000 con Post 15. Dự kiến tổng kinh phí đầu tư cho mô hình là 36.310.000 đồng. Trong đó Trung tâm hỗ trợ không hoàn lại 11.640.000 đồng.

- Để thực hiện mô hình này ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cử cán bộ kỹ thuật xây dựng quy trình nuôi theo hướng bền, không sử dụng hóa chất kháng sinh cấm sử dụng theo quyết định của Bộ thủy sản. Định kỳ đến mô hình hướng dẫn hộ nuôi thực hiện đúng quy trình và cấp sổ nhật ký theo dõi quá trình nuôi. Bên cạnh đó, kết hợp với Ủy ban nhân dân xã Đức Mỹ tổ chức tập huấn kỹ thuật nuôi tôm càng xanh cho 50 hộ dân ở lân cận. Đồng thời cuối vụ tổ chức hội thảo, đánh giá rút kinh nghiệm để nhân rộng mô hình.Hiệu quả mô hình sẽ mang lại một số kết quả cụ thể như:
+ Về mặt kinh tế: Đưa giống tôm Càng xanh nhân tạo nuôi đại trà trên địa bàn huyện. Ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật làm giảm chi phí đầu tư, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng lợi nhuận cho nông hộ.
+ Về mặt xã hội: Giúp nông dân phát huy năng lực và khả năng làm kinh tế hộ gia đình, rèn luyện tay nghề kỹ thuật và trình độ quản lý cộng đồng, giải quyết việc làm ở nông thôn, nâng cao mức sống và ổn định an ninh trật tự ở địa phương.
+ Về mặt môi trường: Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường ở nông thôn, đảm bảo môi trường trong sạch giúp mô hình nuôi đạt hiệu quả bền vững. Mô hình thực hiện có hiệu quả sẽ mở ra một hướng mới cho ngành thủy sản, từ đó góp phần thúc đẩy phong trào nuôi tôm càng xanh của huyện nhà phát triển. Giống tôm nhân tạo này sẽ thay thế dần nguồn giống tôm tự nhiên đang khan hiếm như hiện nay, đồng thời đem lại nguồn sản phẩm hàng hóa đạt tiêu chuẩn xuất khẩu đáp ứng được những yêu cầu của tình hình mới hiện nay.

Thứ Tư, 20 tháng 6, 2012

Cung cấp Tôm Càng Xanh giống

Cung cấp Tôm Càng Xanh giống


Chuyên cung cấp tôm giống sạch bệnh, sản xuất giống theo quy trình Đại học Cần Thơ. Tôm phát triển nhanh, tỷ lệ đực nhiều. Tôm giống chất lượng, giá cả phải chăng, hỗ trợ tư vấn kỹ thuật nuôi.
Địa chỉ: Nguyễn Thanh Tâm, Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ, DĐ: 0978786767.
(Hiện tại chúng tôi tạm ngưng cung cấp, sẽ cung cấp lại khi có giống).











Thứ Hai, 18 tháng 6, 2012

Tác hại của Tảo độc trong ao nuôi Tôm

Tác hại của Tảo độc trong ao nuôi Tôm


Tác hại của tảo độc trong ao nuôi tôm by C.ty UVVN | Tac hai cua tao doc trong ao nuoi tom

1. Tổng quan
a) Cơ chế gây độc của tảo
- Độc tố tảo là độc tố sinh học được sản sinh ra từ tảo, chủ yếu thuộc 3 ngành: tảo hai rãnh (Dinophyta), tảo lam (Cyanobacteria), tảo silic (Diatom). Ngoài ra, tảo lông roi bám (Haptophyta) và tảo vàng kim (Chrysophyta) cũng được phát hiện có chứa các độc tố. Ở Việt Nam, đã xác định 61 loài tảo độc hại ở các vùng ven biển Bắc bộ,Trung bộ, riêng Nam bộ có khoảng 20 loài (Chu văn Thuộc, 2007).

- Cơ chế gây độc của độc tố tảo lên thủy sinh vật là làm tắc nghẽn mang hay gây độc khi phân hủy giải phóng độc tố ra môi trường hoặc có thể tích lũy trong các sinh vật và thông qua chuỗi thức ăn, chúng gây nguy hại cho các loài động vật ăn thịt bao gồm cả con người (Landsberg, 2002; Backer và ctv, 2003; Hallegraeff, 2004). Các loài động vật thân mềm có vỏ và cá sống rạn là sinh vật chủ yếu tích lũy độc tố tảo,một số sinh vật biển khác như cua, rùa biển và cá mập cũng có thể tích lũy các độc tố này (Shumway, 1990; Landsberg, 2002). Tùy loài tảo, hàm lượng độc tố phụ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng khác nhau. Tảo hai rãnh Alexandrium có hàm lượng độc tố cao nhất là giai đoạn tăng trưởng (Cembella, 1998), tảo silic Pseudonitszchia độc tố được sản sinh chủ yếu vào giai đoạn ổn định (Bates, 1998) còn tảo Prorocentrum cordatum chỉ độc ở giai đoạn tàn lụi (Grzebyk và ctv., 1997).

b) Các dạng nở hoa của tảo độc
- Các loài tảo không chứa độc tố, khi nở hoa có thể tăng đến mật độ rất cao ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng nước như làm cho pH, oxy hòa tan dao động lớntheo chu kỳ ngày-đêm, tăng hàm lượng ammonia, cạnh tranh dinh dưỡng, khi tảo tàn dễ gây hiện tượng thiếu oxy cục bộ trong ao nuôi, tăng hàm hàm lượng các khí độc gây chết trực tiếp đối với các đối tượng nuôi thủy sản.Một số loài thường gặp là: Gonyaulax polygramma, Noctiluca scintillans (tảo hai rãnh),Trichodesmium erythraeum (tảo lam)...


- Các loài tảo sản sinh ra các độc tố mạnh gây tác động trực tiếp đến đối tượng nuôi và cả con người (Liopo, 2001). Các dạng độc tố này thường gặp ở nhóm tảo hai rãnh, tảo silicvà tảo lam:
+ Đối với tảo 2 rãnh và tảo silic(độc tố thường tích lũy trong nhóm hai mảnh vỏ) có thể gây ra 4 dạng hội chứng: ASP (Amnesic Shellfish Poisoning) gây mất trí nhớ, DSP (Diarrhetic Shellfish Poisoning) gây tiêu chảy, NSP (Neurotoxic Shellfish Poisoning) gây bệnh trên hệ thần kinh và PSP (Paralytic Shellfish Poisoning) gây liệt cơ, độc tố được tiết ra từ các loài Alexandrium acatenella, A. catenella; Dinophysis acuta, D. acuminata, D. fortii; Pseudonitzschia multiseries…Ở loài tảo 2 rãnh sống đáy như là Gambierdiscus toxicus, Ostreopsis spp., Prorocentrum spp.... (độc tố tích lũy trong nhóm cá sống trong rạnsan hô) thường gây ra hội chứng CFP (Ciguatera Fish Poisoning) là độc tố gây bệnh cả trên hệ thần kinh và hệ tiêu hóa.
+ Độc tố tảo lam được chia thành 2 nhóm chủ yếu là độc tố gan (hepatotoxin) và độc tố thần kinh. Độc tố gan được tìm thấy trong các loài tảo như Microcystisaeruginosa, M. ichthyoblabe, M. novaceki, M. viridis, M. Wesenbergi. Trong tự nhiênhơn 65% các đợt nở hoa của tảo lam có độc tố là do Microcystis aeruginosa gây ra(Sivonen, 1990).Ngoài ra, Oscillatoria nigroviridis vừa có khả năngsản sinh ra độc tố gan hepatotoxin, vừa sản sinh ra độc tố thần kinh (Ostensvik et al., 1981). Đối vớigiống Nostoc có các loài sản sinh ra độc tố gan dạng hepta và pentapeptide như là: N. linckia, N. paludosum, N. rivulare, N. zetterstedtii.Trong khi đó, một số loài chỉ sản sinh ra độc tố thần kinh như là: Oscillatoriaformosa,Anabaena circinalis, A. flosaquae, A. hassallii, A. variabilis, A. lemmermannii, A. spiroides var. Contracta (Carmichael, 1988; Sivonen, 1990).

- Một số loài tảo không độc với người nhưng lại độc với cá và các động vật không xương sống (đặc biệt trong các hệ thống nuôi thâm canh) do phá hủy hoặc làm tắc nghẽn mang của chúng như là Chaetoceros convolutus (tảo silic), Gymnodinium mikimotoi (tảo 2 rãnh)…

2. Sự phát triển của tảo trong ao nuôi tôm
- Dall et al. (1990)cho rằng có mối liên quan mật thiết giữa phytoplankton và sự phát triển của tôm. Nhìn chung, môi trường nước ở các ao tôm khá giàu chất lơ lững, vật chất hữu cơ và các chất dinh dưỡng hòa tan (Paez-Osuna, 2001), điều này phụ thuộc vào mức độ thâm canh (bao gồm: mật độ thả, nguồn nước, phân bón và thức ăn) chất thải càng nhiều thì nitơ và phospho bị thải ra ngoài môi trường càng cao và đó là điều kiện thuận lợi cho tảo nở hoa trong ao tôm (Alonso-Rodriguez và Paez-Osuna, 2003). Có nhiều nguyên nhân gây hiện tượng nở hoa như: bón phân bất hợp lý, sản phẩm thải từ động vật thủy sản và các điều kiện môi trường kể cả nồng độmuối. Các loài gây nở hoa chủ yếu thuộc các giống loài tảo ưa môi trường giàu dinh dưỡng. Tôm cũng có thể ăn tảo khi nó sử dụng chất vẫn ở đáy ao (Gomez-Aguirre và Martınez-Cordova, 1998). Tuy nhiên, khi tảo nở hoa trong ao tôm có nhiều bất lợi, có thể gây hại đến sinh trưởng của tôm (Ming -Yuan và Jians-Heng, 1993; Cortes-Altami và Licea-Duran, 1999). Hiện tượng nở hoa ở tảo trong ao nuôi thường kéo dài khoảng 5-10 ngày tùy vào giống loài tảo và điều kiện môi trường dinh dưỡng. Trong ao, tảo nở hoa có thể gây bệnh đốm nâu (Stirling và Day, 1990) hoặc gây thiếu oxy cục bộ vào ban đêm từ đó dẫn đến sự thiếu oxy trong máu làm tôm chết hàng loạt (Alonso-Rodriguez và Paez-Osuna, 2003).

- Thông thường trong ao nuôi, các loài tảo silic phát triển thì có lợi hơn các nhóm tảo khác. Do đó, để tảo silic phát triển tốt cần bón phân nhiều lần với liều lượng ít để đạt tỉ lệ N/P là 20:1 (Boyd và Daniel, 1993).Khi nồng độ muối giảm, nhiều ngành tảo khác sẽ phát triển ưu thế dưới sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố như nhiệt độ, ánh sáng, độ muối và hàm lượng chất dinh dưỡng...Theo Boyd (1989), tảo silic thường chiếm ưu thế trong ao nước lợ, mặn. Trong khi đó,tảo lục phát triển mạnh ở các ao có độ mặnthấp, muối dinh dưỡng thấp đến trung bìnhvà nhiệt độ ôn hòa. Tuy nhiên, trong các ao tôm ở vùng cận nhiệt đới, nhiệt đới, tảo lam lại là nhóm tảo phát triển ưu thế nhất, kế đếnlà tảo tảo silic và ít nhất là tảo hai rãnh (Cortes-Altam et al., 1994; Rungsupa et al., 1999). Theo Sevrin và Pletikosic (1990), tảo lam thường ưu thế ở mùa hè, tuy nhiên chúng là nhóm tảo có thể chịu đựng môi trường khắc nghiệt nên có thể phát triển cả trong mùa đông ở các ao nông, ít thay nước và ánh sáng mạnh (Santoyo, 1972). Theo nghiên cứu của Barraza-Guzman (1994), tảo lam nở hoa với mật độ cao nhất đạt 3,5 triệu tế bào/lít.

3. Hiện tượng tảo độc nở hoa trong ao nuôi tôm
- Sự nở hoa của nhóm tảo hai rãnh (Dinoflagellate) gây nên thủy triều đỏ ở các ao nuôi tôm đã gây thiệt hại lớn về kinh tế đối với nghề nuôi (Alonso-Rodriguez và Paez-Osuna, 2003). Trên các ao nuôi tôm sú Penaeus monodon và P. orientalis ở Đài Loan, Trung Quốc và Malaysia có nhiều giống loài tảo nở hoa do môi trường giàu dinh dưỡng bao gồm: Euglena spp., Noctiluca scintillan,Alexdrium tamarense, Chattonella spp., Protoperidinium balechii; chúng gây ra tình trạng thiếu oxy máu, tiết ra độc tố PSP, ASP làm giảm sinh trưởng ở tôm, gây bệnh, hoặc trực tiếp gây chết tôm (Chen và Gu, 1993; Huei-Meei et al., 1993; Jiasheng et al., 1993; Mingyuan và Jiansheng, 1993; Kotaki et al., 2000). Trong ao tôm thẻ chân trắng Liptopenaeus vannamei, L. stylirostris ở Ecuador và Mexico, một số giống loài tảo nở hoa được phát hiện: Gyrodinium instriatum,Synechocystis diplococcus,Schizothrix calcicola, Prorocentrum minimum, Gymnodinium catenatum. Các loài này thường nở hoa khi môi trường giàu dinh dưỡng hay do sự thay đổi nồng độ muối, chúng tiết ra độc tố PSP và gây thiếu oxy máu làm giảm sinh trưởng và gây chết ở tôm (Jimenez, 1993; Cortes-Altamirano, 1994; Delgado et al., 1996; Cortes-Altamirano và Alonso-Rodrıguez (1997); Cortes-Altamirano và Licea-Duran (1999).

- Ở Việt Nam, tảo độc nở hoa làm thiệt hại về kinh tế đã được ghi nhận vào tháng 5 và tháng 6/1995, tảo Noctiluca scintillans nở hoa ở khu vực vịnh Vân Phong thuộc vùng biển Khánh Hòađã làm chết khoảng 20 tấn tôm hùm với thiệt hại ước tính khoảng 6 tỷ đồng (Nguyễn Ngọc Lâm và ctv., 1996).Theo Kotaki et al., (2000) ở ao nuôi tôm sú tại Đồ Sơn, tảo Nizschia navis-varingica nở hoa do môi trường giàu dinh dưỡng tiết ra độc tố ASP (1,7pg/tế bào, 1 pg = 1/1.000.000 mg) gây chết tôm.


(Một số giống loài tảo độc hại - A: Pseudoniszchia pungens, B: Dinophysis caudata, C: Noctiluca Scintillans, D:Microcystis aeruginosa, E:Noctiluca scintillans nở hoa ở Newzealand)


Bài viết đã được mua tác quyền từ tác giả, bất cứ hình thức sao chép nào đều phải có trích dẫn nguồn: Ths. Dương Thị Hoàng Oanh – Khoa Thủy sản – ĐH Cần Thơ.

Thứ Sáu, 11 tháng 5, 2012

Kinh nghiệm chọn Tôm Càng Xanh giống

Kinh nghiệm chọn Tôm Càng Xanh giống


Kinh nghiệm chọn tôm càng xanh giống by NS 24h | Kinh nghiem chon tom cang xanh giong

Chất lượng tôm giống là yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến tỉ lệ hao hụt, năng suất và hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi tôm càng xanh. Nếu con giống tôm càng xanh kém chất lượng như: kích cỡ không đều, bơi lội yếu, bị xây xát hoặc gãy chân do bị đánh bắt hoặc có nhiều mầm bệnh, vỏ mềm do mới lột xác sẽ dẫn đến tỉ lệ hao hụt rất cao ngay từ khi vận chuyển đến địa điểm thả nuôi và sẽ cho năng suất khi thu hoạch kém, dù các yếu tố khác như môi trường nước, thức ăn, phòng bệnh ... đều thoả mãn nhu cầu kĩ thuật trong suốt quá trình nuôi.


Với mục đích hỗ trợ bà con ngư dân trong việc chọn con giống, góp phần hạn chế một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến thất bại trong quá trình nuôi tôm càng xanh, chúng tôi xin giới thiệu một số phương pháp để chọn con giống tôm càng xanh bảo đảm chất lượng.

1. Chọn tôm đều cỡ
- Tôm giống phải có chiều dài tương đối đều nhau, tiêu chuẩn tôm giống phải từ 3 - 5 cm (trong trường hợp chọn từ tôm post thì tôm post phải được nuôi trong môi trường nước ngọt hoàn toàn, không có tôm bơi ngửa và chiều dài từ 1 - 2 cm).

- Trong trường hợp trong đàn tôm giống chọn nuôi có một số ít tôm lớn hơn hoặc nhỏ hơn so với chiều dài bình quân của số lượng tôm dự tính chọn nuôi, thì số lượng tôm có kích thước lớn hơn hoặc nhỏ hơn không quá 10 %.


2. Chọn tôm khỏe
- Bắt một con tôm giống, khoảng 80 - 100 con cho vào một cái chậu nhựa có nước cao 7 - 10cm, dùng tay quay tròn nước trong chậu. Tôm khoẻ sẽ bơi ngược dòng nước, đuôi xoè hoặc bám vào thành đáy thau. Tôm yếu sẽ bị trôi theo chiều nước hoặc tập trung ở giữa chậu. Ðàn tôm dự tính đước nuôi được coi là tôm khoẻ khi số lượng tôm được coi là tôm khoẻ khi số lượng tôm bị trôi theo chiều nước hoặc tập trung ở giữa chậu chiếm ít hơn 5% trên số lượng tôm kiểm tra.

- Bà con có thể bắt một ít tôm như trên thả vào dung dịch có pha Formol với nồng độ 100ppm (pha 1ml Formol trong 10 lít nước sạch) sau 2 giờ, số lượng tôm chết ít hơn 5% trên tổng số tôm kiểm tra, chứng tỏ đàn tôm nuôi là khoẻ mạnh.

- Mặt khác, cần lưu ý một số yếu tố để chọn tôm khoẻ như:
+ Tôm khoẻ phải không bị dị hình, còn đủ chân, càng, râu.
+ Tôm khoẻ lúc nào đôi râu cũng xếp song song nhau, tôm yếu đôi râu hình chữ V.
+ Tôm khoẻ thì dạ dày (nằm phía trên đầu) có chứa thức ăn và đường ruột vẫn còn thức ăn và được biểu hiện là đường chỉ có màu nâu, liền nhau, không bị đứt đoạn chạy dọc theo thân).
+ Tôm khoẻ thì bơi lội nhanh nhẹn và khi tắt sục khí, tôm sẽ bung mình lên khỏi mặt nước.

3. Chọn tôm không bị bệnh
- Tôm khoẻ thân thường có màu xanh trong, phần vỏ và phần chân tôm không có những đốm nâu đen hoặc vàng xám, trên thân vỏ và phần đuôi không có chỗ bị ăn mòn hoặc khuyết sâu.

- Tôm bệnh thường có màu trắng đục, mang có đốm đen, phần vỏ và chân có nhiều chấm nhỏ màu nâu đen hoặc xám vàng và bị đóng rong. Tôm bệnh thường bơi lội và phản ứng chậm.

- Ngoài ra bà con cần lưu ý:
+ Tôm càng xanh thường dễ lột xác sau khi đánh bắt và thay đổi môi trường nước, do đó nếu mua tôm giống ươn trong ao thì nên vận chuyển tôm giống về địa điểm nuôi thả sau khi kéo lưới thu hoạch và trữ trong vèo lưới có sục khí từ 12 - 14 giờ, để tránh hao hụt trước và sau khi thả tôm.
+ Khi chọn mua tôm giống nên mua những con giống từ những trại tôm và những cơ sở có uy tín và cung ấp con tôm giống có chất lượng để khi mua,b à con không bị thiệt thòi trong quá trình đong đếm và bị ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế do tôm không đạt chất lượng, hao hụt nhiều trong quá trình nuôi dưỡng.

Thứ Tư, 9 tháng 5, 2012

Mô hình nuôi Tôm Càng Xanh trên ruộng lúa ở Cà Mau

Mô hình nuôi Tôm Càng Xanh trên ruộng lúa ở Cà Mau


Nguồn tin: Báo Cà Mau, 11/07/2011
Ngày cập nhật: 14/7/2011

Mô hình nuôi tôm càng xanh trên ruộng lúa, nuôi ghép cùng tôm sú đã mang lại hiệu quả cao ở các huyện Thới Bình, U Minh. Để vụ nuôi thành công, bà con cần chú ý những điểm sau.

1. Mùa vụ
Mùa vụ thả nuôi tôm càng xanh ở Cà Mau bắt đầu từ tháng 6 - 7 dương lịch và thời gian nuôi thường từ 5 - 6 tháng. Khi độ mặn trong các vuông, đầm nuôi quảng canh xuống dưới 12‰ thì tôm giống có thể sinh trưởng tốt.


2. Chuẩn bị ruộng nuôi
- Nông dân Thới Bình nuôi tôm càng xanh trên ruộng lúa cho năng suất trên 300 kg/ha.

- Sau khi thu hoạch vụ lúa, tiến hành chuẩn bị ruộng nuôi như: sửa lại bờ ao, lấp các lổ mội, hang cua, sên vét bùn ở các mương bao, ao ương, sau đó bón vôi với liều lượng 150 - 200 kg/ha và phơi ruộng 3 - 5 ngày trước khi lấy nước. Lưu ý ở những ruộng có mương mới đào thì nên rửa phèn 2 - 3 lần trước khi bón vôi và phân.

- Khi ruộng nuôi đã sẵn sàng thì khâu lấy cấp nước cần chú ý mực nước trên mặt vuông từ 30 - 40 cm hay 0,8 - 1 m đối với ao ương và bón 30 kg phân hữu cơ hay 0,5 kg urê kết hợp với 1 kg phân NPK hoặc DAP cho 1.000 m2 để gây màu nước. Sau 3 - 5 ngày nước có màu xanh đậm thì tiến hành thả tôm.

- Ao ương tôm trong 3 tuần đầu thả giống là khâu rất quan trọng cho tỷ lệ đạt đầu con khi thu hoạch. Người nuôi tôm nên dành 10% diện tích bằng cách đắp bờ, dùng lưới mành, tấm ni-lông hay tấm bạt… ngăn một phần mương bao để ương tôm càng xanh bột. Thời gian ương trong 2 - 3 tuần trước khi thả ra ruộng, nhằm hạn chế hao hụt và dễ chăm sóc tôm ở giai đoạn còn nhỏ.

3. Chọn giống
Khâu lựa chọn con giống là rất quan trọng, cần tìm mua con giống chất lượng, với tỷ lệ đực trội hơn cái thì năng suất, sản lượng mới cao. Mật độ nuôi ở mô hình quảng canh không cho ăn là 12.000 con tôm giống/ha, ở mô hình cho ăn dặm từ tháng thứ 3 trở đi thì mật độ 20.000 con tôm giống/ha.

4. Chăm sóc
- Khâu chăm sóc tôm trong suốt quá trình nuôi là rất quan trọng. Trong thời gian ương tôm trong ao vèo cần cho ăn thức ăn có chất lượng cao, như thức ăn công nghiệp, hay bột cá với lượng cho ăn từ 10 - 20% trọng lượng đàn tôm. Mỗi ngày cho ăn 3 lần. Nếu vèo trong ao, không quá 2 tuần thì cho tôm ra ngoài, nếu vèo trong mành thì không quá 4 ngày cho ra ngoài (để tránh tôm ăn thịt nhau). Khi qua tháng nuôi thứ 3 thì cho tôm ăn bằng cách kết hợp rải thức ăn ven bờ và sàng ăn. Số lần cho ăn từ 2 - 4 lần trong ngày. Thức ăn được sử dụng như: cám, gạo, cá phi…; đặc biệt nếu cho ăn con hến tôm sẽ rất mau lớn.

- Lưu ý: Để tôm tăng trưởng tốt thì ở tháng nuôi thứ 3 trở đi, tối thiểu 1 tháng phải thay nước 1 lần để kích thích tôm lột xác, tăng trọng lượng. Nếu nuôi trong ruộng lúa thì không nên sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất mà sử dụng thuốc trừ sâu sinh học trong quá trình chăm sóc lúa để tránh ảnh hưởng đến tôm nuôi. Nếu có điều kiện nên sử dụng chế phẩm sinh học định kỳ mỗi tháng, để tránh các loại nấm, vi khuẩn gây hại cho tôm.

- Khi tôm đạt kích cỡ thương phẩm thì tát nước khô mặt ruộng, sau đó tiến hành thu hoạch.

Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2012

Kỹ thuật ương Tôm Càng Xanh

Kỹ thuật ương Tôm Càng Xanh


Kỹ thuật ương tôm càng xanh by TS Cần Thơ | Ky thuat uong tom cang xanh

Tôm càng xanh là đối tượng thủy sản nước ngọt có giá trị kinh tế cao, được nuôi nhiều nước trên thế giới. Ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), các mô hình nuôi tôm càng xanh trong mương vườn, ruộng lúa, ao hồ... ngày càng phát triển.


1. Lợi ích việc ương
- Trở ngại lớn nhất đối với các nông hộ khi nuôi tôm thịt từ giống nhân tạo mua từ các cơ sở ương là về chất lượng (kích cỡ không đồng đều) và giá tôm giống cao (chiếm 30% chi phí sản xuất). Để giảm thiểu tối đa tổn thất cho người nuôi thì việc chọn hình thức ao ương sang (ương ngay trong ao nuôi thịt) sẽ khắc phục được tình trạng khó khăn lúc thu hoạch (hao hụt nhiều do thao tác) và công việc vận chuyển tôm đến ao nuôi (có thể làm tôm bị yếu).

- Lợi điểm chính của ao ương sang là tôm tập trung nên có thể theo dõi chính xác hơn và cho ăn dễ dàng hơn. Do đó, việc ngăn một phần ao nuôi để ương tôm là có hiệu quả hơn dùng hệ thống ao ương riêng biệt đối với các nông hộ sản xuất tôm thịt.

2. Công trình ương
- Chọn địa điểm: Nơi có nguồn nước tốt và giữ được nước, chủ động nguồn nước cấp khi cần thiết để thay.Thuận lợi giao thông cho việc vận chuyển tôm giống; Gần nơi cung cấp nguồn post. Việc chọn địa điểm phù hợp cho sản xuất nhằm giảm giá thành xây dựng, giảm chi phí sản xuất và có thể điều chỉnh hệ thống nuôi cho phù hợp với những thay đổi về kinh tế và môi trường là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất mà người nuôi nên cẩn thận xem xét.

- Diện tích phần ương: Dựa trên nhu cầu số lượng tôm giống cần cho nuôi thịt và mật độ thả ương để quyết định diện tích phần ương trong ao, có thể chiếm từ 15 - 20% diện tích ao nuôi. Phần ương này có thể giới hạn lại bằng cách dùng lưới để ngăn ao hoặc dùng giai đặt trong ao để ương. Đối với những hộ ương để cung ứng giống cho người nuôi tôm thịt cũng phải căn cứ vào nhu cầu con giống trong khu vực để bố trí ao ương cho phù hợp, thường từ 300 - 500 m2/ao để thuận tiện cho việc chăm sóc và quản lý.

- Hệ thống cấp thoát nước và mực nước : Bố trí cống cấp và thoát nước dạng chìm, riêng biệt với tổng đường kính cống từ 30 - 50 cm/1000m2 đặt ở đầu và cuối ao nuôi với yêu cầu:Đảm bảo cấp đầy hay tháo cạn nước trong vòng 4 - 6 giờ; Cống thoát nằm ở nơi thấp nhất; Độ dốc đáy ao là 1:200 giảm dần từ cống cấp đến cống thoát.Trong suốt quá trình ương phải duy trì mực nước từ 0,8 - 1,2m.

- Giá thể: Dùng chà tre khô bó lại thả xuống ao để tạo nơi trú ẩn cho tôm, tốt nhất diện tích thả chà nên chiếm 5% diện tích mặt nước.

3. Các biện pháp kỹ thuật
- Chất lượng nước ao: Một số chỉ tiêu môi trường nước thích hợp trong ao ương nuôi tôm càng xanh cần duy trì trong quá trình sản xuất:
+ Nhiệt độ:28 – 30 độ C.
+ Độ trong: 25 - 40 cm.
+ Oxy hòa tan: 4 - 7 mg/l.
+ Độ pH: 7 – 8.
+ H2S: 0,01 - 0,05 mg/l.
+ NO2-: 0,01 - 0,3 mg/l.
+ NH3+: 0,05 - 0,7 mg/l.

- Chuẩn bị ao ương
+ Cải tạo ao: Ao ương trước khi thả giống 7 ngày cần phải được cải tạo đúng qui trình: tát cạn ao; bắt hết cá dữ, cá tạp và các địch hại khác gây nguy hại cho tôm ương; vét bớt bùn đáy chỉ để lại khoảng 10-20 cm bùn; san bằng nền đáy dốc về phía cống thoát; đắp bờ, lấp hang hốc; phơi đáy ao 2-3 ngày...
+ Bón vôi: dùng vôi sống CaO với liều lượng liều lượng 10 -15 kg/100 m2 nhằm vệ sinh, khử trùng ao ương và phòng bệnh cho tôm; Lấy nước vào ao ương 0,3 - 0,5 m qua cống cấp có lưới xanh nhiều lớp hoặc vải thật mịn để ngăn ngừa cá tạp và địch hại; Gây màu nước bằng phân chuồng đã ủ hoai thật kỹ với liều lượng 100 - 150g/m3 nước, cần ngâm trong nước 1 ngày, sau đó tóe đều khắp mặt ao để tránh phân bị trôi dạt về phía góc ao. Nếu có điều kiện có thể bón thêm phân vô cơ hàng tuần từ 0,5 - 1kg/1000 m2. Tốt nhất là sử dụng phân gà phơi khô hoặc phân gà vi sinh (có bổ sung một số khoáng vi lượng); Sau khi bón 3 ngày khi thấy nước có màu xanh lá non thì tiếp tục cho nước vào cho đến 0,8 - 1,0 m rồi tiến hành thả post.

- Thả giống:
+ Chọn giống: postlarvae có ngày tuổi từ 12 - 15 có kích cỡ đồng đều, không dị hình, bơi lội nhanh nhẹn, màu sắc đặc trưng.
+ Mật độ thả: ương với mật độ vừa phải từ150 - 200con/m2 tùy vào trình độ kỹ thuật, nhu cầu con giống, khả năng cung cấp thức ăn cho tôm.
+ Thời điểm thả ương: từ tháng 4 - 6 và từ tháng 8 - 10 dl.
+ Cách thả giống: vận chuyển post trong bao có bơm oxy vào lúc mát trời. Để tránh tôm bị sốc nhiệt độ nên ngâm bao chứa tôm trong ao ương từ 15 - 20 phút, sau đó mở miệng bao tát nước vào từ từ và để tôm tự bơi ra. Chú ý nên thả tôm cách bờ trên 1 m vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát.

- Chăm sóc và quản lý:
+ Cho ăn: Loại thức ăn: nên sử dụng thức ăn công nghiệp dạng viên dành cho tôm càng xanh giống với hàm lượng đạm từ 30 - 35% để cung cấp dinh dưỡng ổn định cho tôm trong sốt quá trình ương. Ngoài ra, tùy sự sẵn có các nguồn thức ăn ở địa phương như cá biển, ốc bươu vàng, cua đồng, hến...dùng thay thế một phần thức ăn công nghiệp sau khi ương được 15 ngày bằng cách xay nhỏ rồi mới cho tôm ăn.
+ Lượng thức ăn: cho ăn 20% TLT đối với ương mật độ 200 con/m2. Có thể ước tính liều lượng cho ăn của 10.00 tôm post như sau: Ngày thứ 01 - 10: 25 - 35g/ngày , Ngày thứ 11 - 20: 40 - 50 g/ngày , Ngày thứ 21 – 30: 60 - 80g/ ngày.
+ Thời gian cho ăn: nên cho tôm ăn 3 - 4 lần/ ngày.Vào lúc sáng sớm và chiều mát thì lượng cho ăn trong ngày phân chia nhiều hơn các lần còn lại.
+ Sàng ăn : sử dụng sàng ăn để kiểm tra việc cho ăn, biết được khả năng sử dụng thức ăn, sức khỏe của tôm để kịp thời điều chỉnh hàng ngày lượng thức ăn cho phù hợp với sự sinh trưởng của tôm nuôi. Có thể bố trí 02 sàng ăn /300m2 với đường kính 70 - 80 cm hoặc hình vuông với kích thước 60 x 60cm, đặt sát đáy ao, nơi sạch và hơi xa bờ ao.
+ Chăm sóc:Thường xuyên kiểm tra bờ, lưới, cống để tránh thất thoát, không cần thay nước, chỉ bổ sung lượng nước bốc hơi, các thông số như pH và độ trong nên kiểm tra hàng ngày để theo dõi sự biến động của môi trường ương.

4. Thu hoạch tôm ương
- Sau một tháng ương, bung vèo hoặc giai cho tôm ra ao. Tỉ lệ sống từ 70 - 85% .Trọng lượng bình quân 0,5 - 1,0g/con, có thể đạt kích cỡ từ 3 - 5 cm. Đối với ao ương riêng biệt thì trước khi thu hoạch phải chuẩn bị giai chứa để trong ao hay bể có sục khí. Nên thu hoạch vào sáng sớm bằng cách tháo cạn nước, dùng lưới kéo thu một phần sau đó tát cạn thu toàn bộ.

- Cách vận chuyển tôm giống: Dùng bao nilon cỡ 60 x 90 cm có bơm oxy chuyển từ 1000 - 1500 con/bao cho vào khoảng 5 - 10 lít nước của bể chứa tôm vận chuyển trong 8 - 10 giờ.

Bài đăng phổ biến