Hiển thị các bài đăng có nhãn Cá Bống Tượng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cá Bống Tượng. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2012

Kỹ thuật nuôi cá Bống Tượng

Kỹ thuật nuôi cá Bống Tượng


1. Chọn địa điểm nuôi
- Nguồn nước sạch, chủ động cấp và thay nước.

- Không bị ảnh hưởng của nước thải sinh hoạt, hóa chất từ sản xuất nông nghiệp và công nghiệp.

- Đất không bị nhiễm phèn nặng.

- Tiện chăm sóc và quản lý.

- Diện tích nuôi thích hợp 200 – 500 m2.

2. Chuẩn bị ao nuôi
- Ao được tát cạn, sên vét bùn đáy ao, lấp các lỗ mọi.

- Ao được phơi khô và bón vôi với liều lượng 7 - 10kg/100m2.

- Dùng bột đậu nành 1kg/100m2, DAP 1kg/100m2 nhằm gây màu nước, tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho cá.

3. Chọn giống và thả giống
3.1. Chọn giống


- Kích cỡ đồng đều, khỏe mạnh.

- Kích cỡ con giống thả tốt nhất: 80-100g/con hoặc 160-200g/con.

- Đuôi xoè rộng, các tia vây còn nguyên vẹn, nhiều nhớt, mang phùng to, không bị xây xát.

- Hiện nay có thể mua giống từ hai nguồn: từ các cơ sở sản xuất giống và tự nhiên qua các điểm thu gom. Đặc tính của hai nguồn giống như sau:


3.2 Thả giống
- Mật độ thả thích hợp 2con/m2.

- Thả giống: vận chuyển giống vào lúc sáng sớm và trời mát, trước khi thả vào phải ngâm bao trong nước 15 phút để tránh sốc nhiệt do chênh lệch nhiệt độ giữa bao đựng cá và môi trường nước ao nuôi. Trước khi thả cá được tắm bằng nước muối 3-5% trong 5-10 phút.

4. Chăm sóc quản lý


- Phân cỡ: cá thả nuôi tốt nhất phải đồng cỡ.

- Cho cá ăn thức ăn tươi sống như tôm, tép, cá nhỏ, trùng đất, ... Thức ăn đảm bảo còn tươi sống, được cắt nhỏ, vừa miệng cá, bỏ ruột, vây, đầu và được rửa sạch.

- Lượng thức ăn hằng ngày bằng 3 - 5% trọng lượng đàn cá. Cho ăn vào buổi chiều mát là chủ yếu. Nên bố trí sàn ăn để kiểm tra lượng thức ăn thừa hay thiếu, trung bình 2 sàn ăn cho 100 m2. Ngoài ra, sàn ăn còn dùng để kiểm tra tình trạng sức khoẻ của cá.

- Định kỳ thay nước 2 lần/tháng để đảm bảo chất lượng nước tốt , mỗi lần thay 20 - 30% lượng nước trong ao.

- Trong quá trình nuôi có thể định kỳ sử dụng chế phẩm sinh học để làm sạch môi trường.

- Thường xuyên theo dõi biến động của môi trường để có biện pháp xử lý kịp thời.

5. Thu hoạch
- Sau 9 - 10 tháng nuôi, cá đạt kích cỡ 400 - 600g/con thì tiến hành thu hoạch toàn bộ. Cá thường có kích cỡ không đều vì vậy những con chưa đủ kích cỡ có thể nuôi tiếp cho đến khi cá đạt kích cỡ thương phẩm.

- Cá bống tượng nuôi trong ao đất thường chui rúc vào đáy bùn có khi đến 1m, khó bắt. Cần tát cạn vào chiều mát, mò bắt sơ bộ, sau đó dùng chuối cây trang ao cho bằng, cho nước vào 5cm, nửa đêm và gần sáng cá bống tượng ngôi lên trên mặt bùn dùng đèn soi bắt. Có nơi còn dùng dòng nước chảy bắt cá vào đêm.

Kỹ thuật nuôi cá bống tượng, Nguồn: Chi cục Thủy sản Cần Thơ.

Kỹ thuật nuôi cá Bống tượng – Kỹ thuật sản xuất giống

Kỹ thuật nuôi cá Bống tượng – Kỹ thuật sản xuất giống


1. Chuẩn bị ao nuôi vỗ
- Diện tích: 200 - 1.000m2, độ sâu mức nước 1,2 - 1,5m.

- Ao phải có cống cấp và thoát nước chủ động.

- Nguồn nước phải sạch, không bị ô nhiễm.

- Đất không bị nhiễm phèn, nhiễm mặn.

- Trước khi thả cá, ao được tát cạn, sên vét bùn đáy, bón vôi 7 - 10kg/100 m2, phơi đáy ao 2 -3 ngày. Sau đó cấp nước qua lưới lọc.

2. Tuyển chọn cá bố mẹ


- Cá bố mẹ phải khỏe mạnh, không bị dị tật, không bị xây xát và đảm bảo đạt những tiêu chuẩn sau:
+ Cá trên 1 năm tuổi.
+ Trọng lượng 250 - 600g/con.
+ Kích cỡ đều, khoẻ.

- Trước khi thả cá bố mẹ vào ao, nên tắm bằng nước muối 2 -3 % trong 5 - 10 phút.

3. Nuôi vỗ cá bố mẹ
3.1. Thời gian nuôi vỗ
Thích hợp là cuối tháng 12 hay đầu tháng 1, cá có thể đẻ tự nhiên trong ao với tỷ lệ: 1 đực - 2 cái.

3.2. Mật độ nuôi vỗ: 0,2 - 0,3kg cá bố mẹ/m2.
3.3. Chăm sóc quản lý
- Thức ăn là các loại cá con, tôm, tép nhỏ còn tươi hay sống. Khi cho ăn phải rửa sạch, cắt nhỏ cho vừa miệng cá.

- Mỗi ngày cho ăn 2 lần vào sáng sớm và chiều mát, lượng thức ăn chiếm 3 - 5% trọng lượng thân cá.

- Thức ăn được cho vào sàn ăn được đặt ở những nơi cố định trong ao. Hằng ngày kiểm tra lượng thức ăn dư hay thiếu.

- Các kết quả nghiên cứu cho thấy cho ăn thức ăn có nguồn gốc động vật đều cho kết quả thành thục tốt, phù hợp tính ăn của cá trong tự nhiên.

- Định kỳ thay nước 1 tuần/lần, mỗi lần thay 20 - 30% lượng nước trong ao nuôi.

3.4. Kiểm tra độ thành thục của cá
- Kiểm tra độ phát dục của cá để xác định thời gian đẻ trứng, cá khi chưa thành thục khó phân biệt đực cái. Khi nuôi vỗ 1 - 2 tháng, cá phát dục thì có thể phân biệt đực, cái dễ dàng.

- Cá đực: Gai sinh dục ngắn, nhỏ, đầu nhọn hình tam giác.

- Cá cái: Có gai sinh dục lớn, nhưng không nhọn đầu như gai sinh dục cá đực. Cá sắp đẻ mấu sinh dục lồi ra, đầu mút của mấu này dài gần đến vây hậu môn, bụng to mềm, khi vuốt nhẹ trên thân thấy có 1 số trứng chảy ra.

3.4. Kỹ thuật sinh sản
a) Chuẩn bị giá thể
Cá bình thường đẻ trứng dính trên giá thể có trong ao như: gốc cây, cọc, thành cống, ... Nên cần chuẩn bị giá thể cho cá đẻ để việc thu trứng đạt kết quả tốt. Giá thể thường sử dụng là gạch tàu, ngói máy, ... Thông thường đặt giá thể làm tổ cho cá bằng 1/3 số cá cái nuôi vỗ trong ao. Vị trí đặt tổ phải cố định để dễ kiểm tra, theo dõi.

b) Cho đẻ tự nhiên
- Mùa vụ đẻ tự nhiên của cá bắt đầu vào trong tuần tháng 3, kéo dài đến tháng 11, trong thời gian này cần kiểm tra độ thành thục, xác định thời gian đẻ của cá để đặt tổ thu trứng.

- Phương pháp đẻ tự nhiên này sẽ giảm chi phí, thao tác không phức tạp. Hằng ngày tiến hành thăm giá thể để lấy trứng, thao tát lấy trứng nhanh, nhẹ nhàng tránh khuấy động nhiều làm cá sợ không đẻ.

- Để cho cá đẻ đồng loạt, thu trứng cùng lúc, tiến hành tiêm kích dục tố rồi để cá bắt cặp trong ao đẻ tự nhiên. Kích dục tố thường dùng là HCG và não thùy. Liều lượng 1 - 2mg não/kg cá cái và 250 - 500 UI HCG/kg. Sau khi tiêm kích dục tố, thả cá vào ao đã đặt sẵn giá thể. Sau khi thả cá từ 10 - 12 giờ cá sẽ sinh sản.

c) Ấp trứng
- Khi phát hiện có trứng dính trên giá thể, đưa giá thể có trứng vào thau ấp (50 lít), mỗi thau ấp 2 -3 tổ trứng. Trong quá trình ấp bố trí mỗi thau có 1 - 2 cục sục khí. Nhiệt độ nước ấp trứng giữ ổn định 20 – 30 độ C, pH 6,5 - 7,5.

- Sau 30 - 40 giờ, trứng bắt đầu nở, khi trứng nở chậm cá con thường yếu dễ chết sau khi nở.

- Cá bột nở đến đâu vớt cá bột đem vào bể ương. Thời gian nở hết kéo dài 3 ngày. Cá mới nở rất yếu, có màu sắc trong suốt. Cá mới nở có chiều dài 0,3 - 0,4mm. Sau khi nở 3 ngày, cá bột sẽ tiêu hết noãn hoàn, lúc này cá có khả năng bắt mồi.

Kỹ thuật nuôi cá bống tượng, Nguồn: Chi cục Thủy sản Cần Thơ.

Thứ Ba, 5 tháng 6, 2012

Mô hình nuôi cá Bống Tượng kết hợp cá Sặc Rằn

Mô hình nuôi cá Bống Tượng kết hợp cá Sặc Rằn


Mô hình nuôi cá bống tượng kết hợp cá sặc rằn by TTKN AG | Mo hinh nuoi ca bong tuong ket hop ca sac ran

Khoảng tháng chạp, tháng giêng, nguồn cá giống bống tượng và cá sặc bổi từ khai thác tự nhiên khá nhiều, cũng là lúc những hộ dân có thâm niên nghề sản xuất cá giống bước vào vụ mới. Nhiều người nuôi hiện đã rất thành công trong việc nuôi cá bống tượng kết hợp với nuôi cá sặc bổi.


1. Thiết kế ao
- Ao có độ sâu khoảng 2m, chia ao làm hai phần, một phần thả cá bống tượng và một phần thả cá sặc rằn. Giăng lưới cước và chèn các mí lưới vào đáy ao thật kỹ để ngăn không cho cá bống tượng chui qua phần ao ương nuôi cá sặc rằn. Lưới được giăng cao hơn mức nước ao chừng một tấc. Biện pháp cải tạo ao tương tự như nuôi các loài cá khác.

- Do cá sặc rằn có thể đẻ quanh năm, nên tạo điều kiện cho cá sặc rằn đẻ để làm mồi cho cá bống tượng. Vì vậy, riêng bên phần ao thả cá sặc rằn cần phải thiết kế gờ đất có độ ngập nước chừng vài tấc có cây cỏ thủy sinh mọc, để đến mùa sinh sản, khoảng tháng 2 - 3, cá sặc rằn có chỗ làm tổ đẻ. Đồng thời là nơi trú ẩn tốt cho những tổ bọt có chứa trứng thụ tinh, và cũng là điều kiện thuận lợi cho cá bố mẹ bảo vệ cá con.

2. Thả cá
Cá giống bống tượng và sặc rằn được mua ở trại sản xuất cá giống. Để thu hoạch cá bống tượng đồng loạt với cá sặc rằn, cần mua cá bống tượng giống có chiều dài cỡ 3 phân. Mật độ thả cá bống tượng là 3 - 5 con/m2 ao. Thả cá sặc rằn giống có trọng lượng khoảng 200 con/kg và thả khoảng 10 con/m2 ao. Mỗi loại cá được thả ở một ngăn ao riêng.

3. Chăm sóc
- Đối với cá bống tượng: Có thể cho cá ăn trùn quế ở giai đoạn nhỏ. Trùn quế có hàm lượng dinh dưỡng cao, lại là sinh vật sống nên cá bống tượng rất thích. Nếu có điều kiện cho cá bống tượng ăn trùn quế đến khi cá sặc rằn đẻ lứa đầu tiên thì tốt nhất. Khi thiếu hụt nguồn trùn quế, có thể cho cá bống tượng ăn cá tạp xay nhuyễn. Tuy nhiên, vì cá bống tượng bắt mồi rất chậm, nên sự sục sạo thức ăn trong sàn có thể làm tan rã thức ăn sẽ dễ gây bẩn nước.

- Đối với cá sặc rằn: Là loài cá ăn tạp thiên về động vật. Tuy nhiên, do kích cỡ miệng cá rất nhỏ nên thức ăn tấm cám, bột cá nấu nhồi dẻo để vào sàn cho cá ăn là kinh tế nhất. Hàm lượng đạm trong thức ăn nuôi cá sặc rằn khoảng 28 - 35%.

- Vì tận dụng sức đẻ trứng của cá sặc rằn thu lấy cá con làm mồi cho cá bống tượng, nên khi nuôi cá sặc rằn được chừng 4 tháng thì tiến hành tuyển lựa cá tốt cho vào thau chậu, sau khi đã lùa hết phần cá trong ngăn sang phần ao nuôi cá bống tượng thì thả xuống chỗ cũ. Phân biệt cá sặc rằn đực và cái bằng cách quan sát tia vi, cá đực phần tia mềm của vi lưng kéo dài hơn gốc vi đuôi, cá cái thì tia vi ngắn hơn. Cá đực có màu sắc sặc sỡ hơn.
Trong đàn cá sặc rằn thường có mức độ thành thục khác nhau, cá có khả năng sinh sản trong suốt mùa mưa. Do vậy, khi quan sát thấy mật độ cá con đủ làm mồi cho cá bống tượng thì có thể dỡ bỏ lưới ngăn, sẽ có một số ít cá sặc rằn tiếp tục sinh sản tốt.

- Cá bống tượng giống 3 tháng tuổi, nuôi một năm với mật độ hợp lý và thức ăn đầy đủ, trọng lượng mỗi con đạt khoảng 0,5 kg. Đối với cá sặc rằn, do kích cỡ cá giống nhỏ, khả năng ăn mồi ít, tốc độ tăng trưởng chậm, từ cỡ cá giống 200 con/kg, sau một năm nuôi đạt trọng lượng khoảng 6 - 8 con/kg.

Thứ Ba, 15 tháng 5, 2012

Kỹ thuật nuôi cá Bống Tượng trên bể

Kỹ thuật nuôi cá Bống Tượng trên bể


Kỹ thuật nuôi cá bống tượng trên bể by Sở NN ĐT | Ky thuat nuoi ca bong tuong tren be

1. Lý do nuôi trên bể
Nuôi cá trong bồn có nhiều thuận lợi hơn so với nuôi trong ao đất. Trên cùng một diện tích, nuôi cá trong bồn tuy đầu tư chi phí ban đầu có cao hơn nhiều nhưng năng suất cao hơn gấp nhiều lần so với nuôi trong ao đất. Mặt khác, nuôi trong bồn còn có nhiều điểm thuận lợi khác như: Dễ quản lý bồn bể và cá nuôi, nhờ sự chủ động địa điểm và qui mô nuôi. Nhờ mực nước cạn nên có thể dễ dàng quan sát được sự ăn mồi của cá mà tăng giảm lượng thức ăn cho phù hợp, hạn chế ô nhiễm nguồn nước cũng như tiết kiệm mồi. Dễ dàng phát hiện, ngăn chặn và xử lý khi cá có biểu hiện bệnh. Nhờ nuôi cách biệt với nền đáy nên ngăn chặn được sự thẩm lậu của vật chất hữu cơ vào trong đất. Sử dụng nguồn nước ít hơn do đó thải nước cũng ít hơn, nên hạn chế ô nhiễm môi trường. Cần ít công chăm sóc hơn so với nuôi trong ao, do đó chi phí lao động rẻ hơn. Nhờ không phải phụ thuộc vào thời tiết nên chủ động mùa vụ thả nuôi.


2. Kỹ thuật nuôi cá bống tượng trên bể
a) Thiết kế bể nuôi cá mồi
Diện tích bể nuôi dao động từ 200 – 300 m2, độ sâu từ 1 – 1,2 m. Mục đích là nuôi cá bống tượng thương phẩm, cho nên, chúng ta phải tạo điều kiện nuôi cá mồi bổ sung thêm nguồn thức ăn thích hợp cho cá bống tượng. Có thể làm bể nuôi cá mồi bằng ni-lon, diện tích khoảng 10% diện tích bể nuôi cá bống tượng, và thiết kế sao cho bể nuôi cá mồi nầy dễ dàng hứng trọn nguồn nước thải. Do tận dụng từ nguồn nước thải của các bồn nuôi cá bống tượng, nên nền đáy bể thường xuyên bị đóng nhiều cặn bã, cần thiết phải thả cá mồi giống vào vèo lưới đặt trong bể cách nền đáy khoảng 20 cm để dễ dàng cho việc rút cặn đáy, cũng như thu hoạch cá mồi mỗi tuần. Cá thả vào để nuôi có thể là các loại cá kiểng đẻ sai như cá bảy màu hoặc cá hắc kim, bạch kim. Bể nuôi cá mồi cần đặt ở nơi có ánh nắng tiếp xúc để tảo quang hợp lấy oxy cho ao, đồng thời cũng cần bố trí hệ thống sục khí để tạo thêm oxy, giúp tăng cường sự phát triển của vi sinh vật làm thức ăn cho cá kiểng bột. Cho cá kiểng bố mẹ ăn thức ăn viên công nghiệp kích cỡ nhỏ và có hàm lượng đạm cao.

b) Chuẩn bị bể nuôi
Với diện tích bồn nuôi 200 - 300 m2 là khá rộng rãi để thả nuôi cá bống tượng. Do cá bống tượng là loài cá dữ, khi điều kiện sống bất lợi, con lớn thường sẽ tấn công con nhỏ, nên cần thiết phải chia bồn ra thành 3 hoặc 4 bồn nhỏ để dễ quản lý, phân cỡ cá. Mỗi ngăn đều có cống thoát nước riêng biệt. Tu sửa lại đáy bồn sao cho có độ dốc kha khá nghiêng về phía cống thoát, để nước và cặn bã tập trung dồn về một góc và đổ vào bể nuôi cá mồi. Tạo chỗ cho cá ẩn náu bằng cách đặt càng nhiều càng tốt những ống tre, ống nhựa xuôi theo hướng nước thoát. Nếu có điều kiện thì dùng thân cây chuối, vì chuối cây có khả năng hút đi một số chất bẩn và vi sinh vật làm cho nước sạch. Có thể chặt chuối ra từng khúc 20 - 30cm, khoét bỏ phần ruột để cho cá bống tượng thuận tiện ra vào; hoặc bóc ra từng hai ba bẹ rồi chập lại với nhau thành hình ống đặt xuống cũng được. Thay bẹ chuối khi nhận thấy chúng đã bị mềm xẹp xuống và cá bống tượng không chui vào chui ra được.

c) Cấp thoát nước cho bể nuôi
Nếu tạo được chỗ trú ngụ tốt cho cá thì bồn nuôi không cần mái che. Nguồn nước nuôi cá có thể bơm từ sông rạch, nước giếng khoang, nước máy, nhưng cần phải đảm bảo nước sạch, không quá vẩn đục và không bị chua phèn. Cấp nước cho bồn nuôi theo hình thức phun mưa, (ống nhựa cấp nước được đục nhiều lỗ nhỏ hướng xuống mặt bồn). Có thể pha một ít muối ăn trong mỗi lần cấp nước để phòng bệnh lở loét cho cá. Thay nước bồn bằng cách đùa dồn cặn bã về phía cống thoát, để vài giờ cho chìm lắng rồi xả bộng cho nước và cặn bã đổ vào bể nuôi cá mồi. Mỗi lần xả bỏ chỉ khoảng 30% lượng nước trong bồn. Định kỳ thay nước tùy theo điều kiện cũng như tùy vào lượng chất thải của cá.

d) Mật độ thả nuôi
Thả khoảng 15 - 40 con/m2 tùy kích cỡ cá giống. Cá giống cỡ 4 - 5cm thì thả 40con/m2, cá giống cỡ 10 - 12cm thả khoảng 20 con/m2. Con giống thả nuôi khỏe, có màu sắc sáng, không có mầm bệnh. Nguồn từ sinh sản nhân tạo hoặc mua gom từ khai thác tự nhiên. Cần tuyển lựa cá cho thật đều cỡ thả vào chung một ngăn bồn.

3. Kỹ thuật chăm sóc
Thức ăn thích hợp cho cá bống tượng là trùn chỉ, cá, tép sống ... Tuy nhiên, trong điều kiện bồn nuôi có sục khí và đầy đủ oxy thì cá bống tượng có thể sử dụng tốt nguồn thức ăn chế biến có hàm lượng đạm cao. Nếu là cho ăn mồi không phải là cá sống thì cần cho thức ăn vào sàn để dễ quan sát hoạt động bắt mồi của cá, cũng như theo dõi lượng ăn mồi để tăng hoặc giảm cho phù hợp. Cho cá ăn mỗi ngày 2 lần vào giác sáng, chiều. Thức ăn được xay nhuyễn hoặc cắt nhỏ sao cho vừa miếng ăn của cá. Cá cỡ nhỏ lượng thức ăn cung cấp khoảng 10% trong lượng thân cá và giảm dần đến 3 - 4% khi cá lớn. Cung cấp khoảng 6 kg cá mồi thì thu được 1 kg cá bống tượng thịt. Khi cá còn nhỏ, lượng cá mồi tự nuôi vớt cho cá ăn có thể đảm bảo được khoảng 20% tổng số lượng thức ăn. Nhưng khi cá lớn thì lượng cá mồi nuôi chủ yếu để bù đắp thêm vitamin thiếu hụt. Định kỳ bổ sung thêm vào thức ăn một lượng vitamin C, khoảng 0,5gr/10kg thức ăn của cá.

4. Thu hoạch
- Nếu thả cá giống cỡ 4 - 5cm, sau 3 tháng nuôi cá đạt trọng lượng từ 50 - 70gr/con. Tiến hành phân cỡ rồi tiếp tục thả vào các ngăn. Năng suất thu hoạch ở giai đoạn nầy khoảng 2 kg cá giống bống tượng trên mỗi mét vuông bồn nuôi, (bồn 200m2 thu được khoảng 400 kg cá giống). Nuôi thêm một thời gian nữa tùy theo yêu cầu thu hoạch cá giống lớn hay cá thương phẩm.

- Nếu thả cá giống cỡ 10 - 12 cm, nuôi khoảng 10 tháng, cá có trọng lượng hơn 400gr/con chiếm khoảng 50% tổng đàn.

- Nếu thả cá giống cỡ 100 gr/con, nuôi khoảng 7 tháng thì cá có trọng lượng hơn 400gr/con chiếm 60% tổng đàn.

Bài đăng phổ biến