Hiển thị các bài đăng có nhãn Cá Sặc Rằn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cá Sặc Rằn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 5 tháng 11, 2012

Kỹ thuật ương cá Sặc Rằn

Kỹ thuật ương cá Sặc Rằn


Kỹ thuật ương cá sặc rằn by KNKG | Ky thuat uong ca sac ran

1. Điều kiện ao ương 
- Nguồn nước: phải dồi dào, có điều kiện cấp thoát nước cho ao khi cần thiết. Ao không bị khô cạn hoặc ngập úng. Nước phải có chất lượng tốt không bị phèn (pH = 7 là tốt nhất, không nên sử dụng ao có pH nhỏ hơn 6). Nước không bị nhiễm bẩn, không bị nhiễm độc (chủ yếu độc do thuốc trừ sâu).

- Diện tích: tùy thuộc qui mô sản xuất, điều kiện sẵn có và khả năng từng gia đình. Có thể tận dụng các kênh mương sẵn có để ương cá. Tuy nhiên, không nên sử dụng những kênh mương quá dài để tiện cho việc chăm sóc quản lý. Nếu kênh quá dài thì có thể chặn ngăn thành từng đoạn ngắn.

- Với phạm vi gia đình và tình hình hiện nay ở khu vực, ao ương cá sặc rằn nên có diện tích vài trăm m2 là thích hợp. Tùy theo yêu cầu lượng cá giống thả mà có thể có ít hay nhiều ao.

- Độ sâu: độ sâu ao dùng ương nuôi cá sặc rằn có thể biến động, nhưng để tiện cho chăm sóc quản lý và hoạt động của cá con, ao có độ sâu 0,8 – 1 m là thích hợp nhất.

- Chất đáy: không sử dụng ao đất phèn để ương cá, đáy ao là bùn hoặc bùn pha cát là tốt nhất. Độ dày bùn đáy ao thích hợp cho ương cá sặc rằn là 20 – 25 cm, không nên dùng ao có đáy quá trơ ít bùn (thường là ao mới đào) hoặc ao có đáy bùn quá dày (thường là ao lâu ngày không sên vét).

- Trường hợp dùng ao có đáy bùn dày thì trước khi thả cá nuôi, ao cần được tát cạn, sên vét bớt bùn đáy, chỉ để lại 20 – 25 cm.

- Điều kiện ánh sáng: Ao ương cá con cần đủ ánh sáng mặt trời. Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng. Nếu sử dụng những ao thiếu ánh sáng thì kết quả ương nuôi cá sẽ thấp, ít khi thành công. Vì vậy, không nên để bóng cây che trên mặt ao.

2. Chuẩn bị ao 
- Tát cạn ao.

- Bón vôi: thường dùng là vôi bột, bón 10 kg/100 m2 ao. Những ao hơi bị phèn thì bón tăng hơn có thể tới 15 kg/100 m2 .

- Tu sửa bờ, lấp lỗ mọi, chống ngập úng, chống rò rỉ, mất nước, chống cá khác (đặc biệt là cá lóc) vào ao.

- Phơi đáy ao: nếu gặp trời nắng mà phơi được đáy ao vài ngày thì tốt nhất. Nhưng lưu ý là những vùng đất bị nhiễm phèn thì không nên phơi lâu.

- Bón phân: có thể dùng phân gà, phân heo, hoặc phân xanh (các loại lá xanh, tốt nhất là lá điên điển) để bón lót cho ao từ 15 – 20 kg/100 m2 ao.

- Lấy nước cho ao: nước cần được lọc qua lưới dày trước khi đưa vào ao để tránh tép, cá khác vào ao. Nước cấp cho ao đủ độ sâu cần thiết từ 0,8 – 1 m.

- Diệt trừ địch hại trước khi thả cá, nhất là trứng ếch nhái và bọ gạo. Để diệt trứng ếch nhái cần có sự kiên trì, tỉ mỉ, vào mỗi buổi sáng đi quanh ao vớt bỏ trứng ếch nhái. Để diệt bọ gạo, sử dụng dầu lửa 1 lít/100 m2 ao, dầu lửa được rải xuống đầu ao, phía đầu gió cho lan tràn khắp ao. Sau khi thả dầu lửa xuống ao được một ngày thì có thể thả cá bột.

3. Thả cá bột xuống ao 
 - Tuổi cá thả nuôi: sau khi cá nở 2 - 3 ngày (tức là khi thấy cá bơi lội nhanh nhẹn) thì đem thả xuống ao. Tính từ lúc chích cho cá đẻ thì khoảng 4 ngày sau khi chích. Vấn đề này liên quan đến thời gian chuẩn bị ao.

- Thời gian thả cá: thích hợp nhất là từ 8 – 9 giờ sáng và những lúc trời không có mưa lớn. Tránh thả cá vào những khi nhiệt độ nước quá cao.

- Mật độ thả : 400 – 500 con/m2 là thích hợp.
4. Cho ăn chăm sóc 
- Sau khi bón phân lần đầu tiên (bón lót) lúc ao còn cạn nước, thì sau 1 tuần lấy nước vào ao, cần bón thêm một lần phân. Lần thứ hai này chỉ bón 10 kg/100 m2 tức là chỉ bằng 1/2 lần đầu.

- Cho ăn: sau khi thả cá bột xuống ao, tiến hành cho ăn ngay:
+ Trong tuần lễ đầu tiên: mỗi ngày cho ăn 2 lần, mỗi lần 2 lòng đỏ trứng gà (vịt) luộc + 0,5 kg bột đậu nành.
+ Tuần lễ thứ 2: mỗi ngày cho ăn 2 lần, mỗi lần 1 kg cám mịn + 0,5 kg bột cá/100 m 2 ao.
+ Từ tuần lễ thứ 3: tùy theo mức độ ăn của cá mà tăng thêm lượng thức ăn cho phù hợp. Thông thường mỗi ngày khoảng 3 kg (bột cá + cám) cho 100 m2 ao là phù hợp.

- Quản lý cá: thường xuyên quan sát ao cá, tránh bị mọi, tràn bờ, kịp thời phát hiện địch hại (ếch nhái, rắn,…) để diệt trừ. Đồng thời quan sát hoạt động của cá (ăn mạnh hay yếu, có bị thiếu oxy hay không,…) để xử lý kịp thời.

- Giảm mật độ cá: sau khi ương cá sặc rằn khoảng 1 tháng, cá đã lớn, ao không còn đủ sức chứa hết lượng cá con. Cần phải san thưa sang ao khác để giảm mật độ. Thông thường từ 1 ao ban đầu cần thêm 1 ao nữa để đưa cá bột qua nuôi. Có như vậy thì cá mới tiếp tục lớn và khoẻ mạnh. Ao thứ hai dùng để san cá qua, cũng cần được chuẩn bị như ao lần đầu tiên để thả cá bột (tát cạn bón vôi).

5. Luyện cá trước khi xuất ao 
Trước khi đưa cá xuất bán ra khỏi ao, cần được luyện trước 1 tuần bằng cách hàng ngày lội xuống ao xua đuổi cá, mỗi ngày 1 lần trong 1 tuần.

Thứ Ba, 5 tháng 6, 2012

Mô hình nuôi cá Bống Tượng kết hợp cá Sặc Rằn

Mô hình nuôi cá Bống Tượng kết hợp cá Sặc Rằn


Mô hình nuôi cá bống tượng kết hợp cá sặc rằn by TTKN AG | Mo hinh nuoi ca bong tuong ket hop ca sac ran

Khoảng tháng chạp, tháng giêng, nguồn cá giống bống tượng và cá sặc bổi từ khai thác tự nhiên khá nhiều, cũng là lúc những hộ dân có thâm niên nghề sản xuất cá giống bước vào vụ mới. Nhiều người nuôi hiện đã rất thành công trong việc nuôi cá bống tượng kết hợp với nuôi cá sặc bổi.


1. Thiết kế ao
- Ao có độ sâu khoảng 2m, chia ao làm hai phần, một phần thả cá bống tượng và một phần thả cá sặc rằn. Giăng lưới cước và chèn các mí lưới vào đáy ao thật kỹ để ngăn không cho cá bống tượng chui qua phần ao ương nuôi cá sặc rằn. Lưới được giăng cao hơn mức nước ao chừng một tấc. Biện pháp cải tạo ao tương tự như nuôi các loài cá khác.

- Do cá sặc rằn có thể đẻ quanh năm, nên tạo điều kiện cho cá sặc rằn đẻ để làm mồi cho cá bống tượng. Vì vậy, riêng bên phần ao thả cá sặc rằn cần phải thiết kế gờ đất có độ ngập nước chừng vài tấc có cây cỏ thủy sinh mọc, để đến mùa sinh sản, khoảng tháng 2 - 3, cá sặc rằn có chỗ làm tổ đẻ. Đồng thời là nơi trú ẩn tốt cho những tổ bọt có chứa trứng thụ tinh, và cũng là điều kiện thuận lợi cho cá bố mẹ bảo vệ cá con.

2. Thả cá
Cá giống bống tượng và sặc rằn được mua ở trại sản xuất cá giống. Để thu hoạch cá bống tượng đồng loạt với cá sặc rằn, cần mua cá bống tượng giống có chiều dài cỡ 3 phân. Mật độ thả cá bống tượng là 3 - 5 con/m2 ao. Thả cá sặc rằn giống có trọng lượng khoảng 200 con/kg và thả khoảng 10 con/m2 ao. Mỗi loại cá được thả ở một ngăn ao riêng.

3. Chăm sóc
- Đối với cá bống tượng: Có thể cho cá ăn trùn quế ở giai đoạn nhỏ. Trùn quế có hàm lượng dinh dưỡng cao, lại là sinh vật sống nên cá bống tượng rất thích. Nếu có điều kiện cho cá bống tượng ăn trùn quế đến khi cá sặc rằn đẻ lứa đầu tiên thì tốt nhất. Khi thiếu hụt nguồn trùn quế, có thể cho cá bống tượng ăn cá tạp xay nhuyễn. Tuy nhiên, vì cá bống tượng bắt mồi rất chậm, nên sự sục sạo thức ăn trong sàn có thể làm tan rã thức ăn sẽ dễ gây bẩn nước.

- Đối với cá sặc rằn: Là loài cá ăn tạp thiên về động vật. Tuy nhiên, do kích cỡ miệng cá rất nhỏ nên thức ăn tấm cám, bột cá nấu nhồi dẻo để vào sàn cho cá ăn là kinh tế nhất. Hàm lượng đạm trong thức ăn nuôi cá sặc rằn khoảng 28 - 35%.

- Vì tận dụng sức đẻ trứng của cá sặc rằn thu lấy cá con làm mồi cho cá bống tượng, nên khi nuôi cá sặc rằn được chừng 4 tháng thì tiến hành tuyển lựa cá tốt cho vào thau chậu, sau khi đã lùa hết phần cá trong ngăn sang phần ao nuôi cá bống tượng thì thả xuống chỗ cũ. Phân biệt cá sặc rằn đực và cái bằng cách quan sát tia vi, cá đực phần tia mềm của vi lưng kéo dài hơn gốc vi đuôi, cá cái thì tia vi ngắn hơn. Cá đực có màu sắc sặc sỡ hơn.
Trong đàn cá sặc rằn thường có mức độ thành thục khác nhau, cá có khả năng sinh sản trong suốt mùa mưa. Do vậy, khi quan sát thấy mật độ cá con đủ làm mồi cho cá bống tượng thì có thể dỡ bỏ lưới ngăn, sẽ có một số ít cá sặc rằn tiếp tục sinh sản tốt.

- Cá bống tượng giống 3 tháng tuổi, nuôi một năm với mật độ hợp lý và thức ăn đầy đủ, trọng lượng mỗi con đạt khoảng 0,5 kg. Đối với cá sặc rằn, do kích cỡ cá giống nhỏ, khả năng ăn mồi ít, tốc độ tăng trưởng chậm, từ cỡ cá giống 200 con/kg, sau một năm nuôi đạt trọng lượng khoảng 6 - 8 con/kg.

Bài đăng phổ biến