Hiển thị các bài đăng có nhãn Cá Chẽm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cá Chẽm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 10 tháng 12, 2012

Kỹ thuật nuôi vỗ cá Chẽm

Kỹ thuật nuôi vỗ cá Chẽm
 

Kỹ thuật nuôi vỗ cá chẽm by Viện NCTS | Ky thuat nuoi vo ca chem

Kỹ thuật nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ là một trong những khâu quan trọng đầu tiên trong qui trình sản xuất giống, cá bố mẹ có chất lượng tốt sẽ cho tỷ lệ sống cao và tốc độ tăng trưởng nhanh. Cá bố mẹ đưa vào nuôi vỗ thường có trọng lượng từ 3 - 4kg, tuổi cá từ 1,5 - 3 năm và có thể được tuyển chọn từ nguồn cá nuôi thương phẩm hoặc cá đánh bắt ngoài tự nhiên. Sau khi tuyển chọn, cá bố mẹ được vận chuyển về trại sản xuất để thuần dưỡng trước khi đưa cá vào nuôi vỗ.
1. Kỹ thuật vận chuyển cá bố mẹ 
Cá chẽm là loài cá dữ, kích thước lớn nên việc vận chuyển sống gặp nhiều khó khăn. Cá thường bị sốc, giãy giụa rất mạnh thường dẫn đến mất nhớt, xây xát ảnh hưởng đến sức khoẻ, đây là nguyên nhân dẫn tới một số bệnh cơ hội xâm nhập vào cơ thể cá. Tùy từng vị trí trại sản xuất mà chúng ta có thể chọn cách vận chuyển khác nhau như vận chuyển hở đối với nguồn cá bố mẹ gần trại sản xuất, vận chuyển bằng phương pháp gây mê đối với những trại sản xuất ở xa nguồn cung cấp cá bố mẹ, thông thường nhiệt độ khi vận chuyển nên duy trì ở mức 18-20oC, như vậy chúng ta có thể hạn chế đến mức tối đa các yếu tố gây ảnh hưởng đến sức khỏe của cá bố mẹ trong quá trình vận chuyển.

2. Thuần dưỡng cá bố mẹ 
Cá bố mẹ trước khi đưa vào nuôi vỗ cần có thời gian thuần dưỡng để cá dần dần thích nghi với điều kiện sống nhân tạo đặc biệt đối với cá có nguồn gốc ngoài tự nhiên. Cá được thuần dưỡng trong bể ximăng có dung tích từ 10–20m3, nước biển trong bể nuôi thuần dưỡng cần được điều chỉnh độ mặn tương đồng với môi trường tự nhiên, trong quá trình thuần dưỡng khí được cung cấp đầy đủ, hàng ngày nước được thay 100 - 200% bằng phương pháp cho nước chảy vào ra và thường xuyên theo dõi sức khỏe của cá. Mật độ nuôi thuần dưỡng là 1 con/m3. Hàng ngày cho cá ăn bằng các loại cá tạp có chất lượng tốt. Khi cá hồi phục sức khoẻ và thích nghi với điều kiện nuôi nhân tạo thì tắm cá bằng nước ngọt trong vòng 10 – 15 phút để phòng bệnh trước khi chuyển sang bể nuôi vỗ cá bố mẹ. Thông thường thời gian thuần dưỡng cá bố mẹ khoảng 7 - 15 ngày tùy theo từng nguồn cá đã tuyển chọn.

3. Nuôi vỗ cá bố mẹ 
Nuôi vỗ cá bố mẹ là một trong những khâu quan trọng trong quyết định sự thành công trong sản xuất giống nhân tạo.
a) Nuôi vỗ cá bố mẹ bằng lồng trên biển 
- Vị trí đặt lồng: Lồng nuôi vỗ cá bố mẹ thường được đặt ở những nơi kín gió, có dòng chảy nhẹ và liên tục, xa nguồn nước thải, mực nước thuỷ triều lên xuống ổn định và gần trại sản xuất giống. Ngoài ra còn chú ý đến vị trí thuận tiện giao thông để thuận tiện quá trình vận chuyển.

- Lồng có hình vuông, tròn thông thường sử dụng những lồng có kích thước: 3x3x3m, 4x4x4m, 5x5x5m, kích thước mắt lưới 2a = 4cm, mật độ nuôi vỗ 1 – 2 con/m3 Quản lý và chăm sóc. 

- Thức ăn: Tốt nhất là sử dụng các loại thức ăn như cá tạp, mực... còn tươi, định kỳ bổ sung vitamin và khoáng chất, hàng ngày cho ăn 1 lần vào buổi chiều. Khẩu phần cho ăn là 3-5% trọng lượng thân.

- Theo dõi hoạt động của cá hàng ngày để kịp thời xử lý khi có dấu hiệu bất thường, khi cho cá ăn phải kiểm tra đáy lồng để loại bỏ thức ăn dư thừa. Định kỳ kiểm tra lưới lồng và vệ sinh xung quanh lồng, đảm bảo nước lưu thông. Khi có gió bão cần di chuyển lồng đến nơi an toàn, kín gió.

- Phòng bệnh: Thường xuyên theo dõi hoạt động của cá trong quá trình nuôi vỗ để biết được tình trạng sức khoẻ cá, định kỳ 1 tháng tắm cá bằng nước ngọt để phòng bệnh. Khi phát hiện cá có dấu hiệu bất thường phải bắt ra xử lý riêng, xác định rõ nguyên nhân gây bệnh để có biện pháp xử lý kịp thời, sau đó cách ly cá bệnh cho đến khi cá hoàn toàn khoẻ mạnh.

b) Nuôi vỗ trong bể ximăng 
- Nguồn nước: Nguồn nước cung cấp vào bể cá bố mẹ được lọc qua hệ thống lọc cơ học, sinh học để loại bỏ các chất vẩn và mầm bệnh. Nước được cung cấp vào bể phải đảm bảo các thông số môi trường như: Nhiệt độ 27 – 28 độ C, độ mặn 30 - 32‰, NH3 < 0,1mg/l, NO2< 0,05mg/l , pH 7,5 - 8,2.

- Chuẩn bị bể nuôi vỗ: Bể nuôi vỗ thường có kích thước lớn, hình tròn hoặc hình vuông tuỳ theo thiết kế. Dung tích bể thường từ 100 – 200m3. Bể được vệ sinh sạch, khử trùng bằng chlorine nồng độ 40ppm sau đó rửa sạch lại bằng nước ngọt trước khi cấp nước biển sạch vào. Mật độ nuôi vỗ thông thường từ 1 - 2kg/m3 hoặc 1 con/2m3.

- Quản lý và chăm sóc: Hàng ngày cho cá ăn bằng các loại thức ăn như cá trích, cá nục, cá ngân, mực… có bổ sung vitamin và các chất khoáng. Khẩu phần cho ăn hàng ngày khoảng từ 3 - 5% trọng lượng thân. Cho ăn vào chiều muộn (16 -17h). Sau khi cho ăn 2 giờ tiến hành kiểm tra, nếu còn thức ăn thừa trong bể phải vớt ra để đảm bảo cho môi trường nuôi thường xuyên sạch, không gây ra dịch bệnh cho cả đàn cá trong bể. Hàng ngày thay từ 100 - 200% nước trong bể bằng phương pháp cho nước chảy vào ra. Định kỳ 15 ngày vệ sinh bể nuôi vỗ bằng cách chà rửa, mục đích là loại bỏ những mầm bệnh từ bên ngoài.

- Phòng bệnh và trị bệnh: Thường xuyên theo dõi tình trạng sức khoẻ của cá, khi phát hiện cá có dấu hiệu bị bệnh, thì phải cách ly để xử lý kịp thời, sau khi cá khoẻ mạnh chuyển cá lại bể nuôi vỗ. Trong khi đó phải phòng bệnh cho những con còn lại bằng cách tắm cá trong nước ngọt, thời gian tắm cá khoảng từ 10 - 15 phút.

4. Kiểm tra sự thành thục của cá 
Định kỳ 15 ngày kiểm tra sự thành thục của tuyến sinh dục bằng que thăm trứng (đường kính 0,8 – 1,2mm) đối với cá cái và vuốt tinh dịch đối với cá đực. Khi cá đạt tiêu chuẩn về sự thành thục thì tiến hành kích thích sinh sản.

Chủ Nhật, 9 tháng 12, 2012

Đặc điểm sinh học cá Chẽm Mõm Nhọn

Đặc điểm sinh học cá Chẽm Mõm Nhọn 


Đặc điểm sinh học cá chẽm mõm nhọn by TSTB | Dac diem sinh hoc ca chem mom nhon

1. Phân loại 
- Ngành: Chordata

- Lớp: Actinopterygii

- Bộ: Perciformes

- Họ: Latidae

- Giống: Psammoperca

- Loài: Psammoperca waigiensis Cuvier, 1828

- Tên gọi:
+ Tên tiếng Anh: Waigieu seaperch
+ Tên tiếng Việt: Cá chẽm mõm nhọn
+ Tên khác: Cá vược mõm nhọn.

2. Đặc điểm sinh học, phân bố 
a) Đặc điểm sinh học 
- Thân hình thoi, dẹt bên. Chiều dài thân bằng 2,7 – 3,6 lần chiều cao. Đầu to, mõm nhọn, chiều dài hàm trên kéo dài đến ngang giữa mắt. Hai vây lưng liền nhau, giữa lõm. Vây đuôi tròn lồi. Thân màu nâu xám, bụng trắng bạc. Chiều dài lớn nhất 47cm, thông thường 19 – 25cm

- Tập tính sống: Cá chẽm mõm nhọn thường sống trong các hang đá hoặc vùng đáy có cỏ biển. Cũng thích nghi nơi đáy là các rạn san hô. Ban ngày thường ẩn mình trong các bụi rong hoặc hang đá, có phân bố cả vùng nước lợ.

- Sinh trưởng nhanh, thức ăn là các loài cá, giáp xác…

b) Phân bố 
- Ấn Độ – Tây Thái Bình Dương, Ấn Độ, Srilanca, Australia, Indonesia, Malaysia, Philippines, Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Thái Lan.

- Ở Việt Nam cá có phân bố từ vịnh Bắc Bộ đến vịnh Thái Lan nhưng ít.

3. Hiện trạng nuôi 
- Đã được nuôi ở Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan và ở Việt Nam mới được nuôi ở Miền Nam. Các kiểu nuôi chính: trong các ao đất và lồng lưới. 

- Ở Việt Nam đã nghiên cứu sản xuất giống cá này.

Thứ Tư, 31 tháng 10, 2012

Kỹ thuật ương cá Chẽm ao đất

Kỹ thuật ương cá Chẽm ao đất


Kỹ thuật ương cá chẽm ao đất by TSTB | Ky thuat uong ca chem ao dat

Cá chẽm là loài cá dữ, phàm ăn và thích ăn mồi động vật. Kết quả phân tích thưc ăn trong dạ dày của cá từ các mẫu thu ngoài tự nhiên cho thấy, cá dài 20 cm trong dạ dày 100% thức ăn là mồi động vật. Trong thực tế khi ương cá chẽm từ cá hương lên cá giống trong diện tích hẹp, mật độ dày, chế độ chăm sóc không chu đáo, giữa chúng có sự cạnh tranh thức ăn, cạnh tranh không gian sống, cá lớn không đều và chúng tấn công lẫn nhau để ăn thịt làm cho tỷ lệ sống sau khi ương nuôi rất thấp. Ương cá chẽm ao đất từ hương lên giống đến nay được xem là mô hình ương đạt hiệu quả nhất so với việc ương cá ở lồng ngoài biển hay trên bể xi măng.

I. Ương trong ao đất
1. Chuẩn bị ao ương
- Ao ương phải đảm bảo các điều kiện sau: Ao được xây dưng ở nơi không bị phèn, đất có thành phần sét đ6ỳ đủ để giữ được nước, biên độ thuỷ triều vừa phải (khoảng 2 - 3 m) để tháo cạn được nước khi thuỷ triều rút và cấp đủ nước cho ao khi thuỷ triều lên.

- Nước ao ương sạch bảo đảm các thông số cho phép như sau:
+ pH: 7,5 - 8,5
+ Oxy hoà tan: 4 - 9mg/l
+ Nồng độ muối: 10 - 30 phần ngàn
+ Nhiệt độ: 26 - 30 độ C
+ NH3: < 1mg/l
+ H2S: < 0,3mg/l
+ Độ đục của nước: < 10mg/l

- Diện tích ao ương từ 500 – 2.000 m2 dễ quản lý chăm sóc; mực nước trong ao từ 0,8 - 1m, đáy ao bằng phẳng. Mỗi ao có 2 cống có lưới mắt mau (mắt lưới 1mm) để tránh sinh vật hại cá xâm nhập vào ao theo nước và ngăn không cho cá theo nước ra ngoài.

- Trước khi thả cá, ao được cải tạo diệt tạp, tháo cạn nước ao cũ , phơi đáy ao cho se lớp bùn mặt hoặc phơi nứt chân chim để đất xốp, loại được các khí độc, oxy hoá các chất khoáng. Ao mới đào phải thay nước nhiều lần để môi trường ổn định. Bón lót gây màu ao bằng phân gà với lượng 5 kg/m2 ao. Dẫn nước vào ao và thả artemi để gây thức ăn ban đầu cho cá với lượng 10g trứng khô/100m2 ao. Sau 10 - 15 ngày artemi đạt giai đoạn trưởng thành, tiến hành thả cá vào nước.

2. Chọn cá giống và mật độ ương
- Cần chọn cá hương đồng cỡ, thả đủ mật độ trong thời gian ngắn để hạn chế sự cạnh tranh thức ăn và không gian sống của chúng.


- Cần phân cỡ cá trước khi thả ương: Dùng chậu nhựa hoặc khai nhựa, đục nhiều lỗ như mắt rổ ở đáy và xung quanh thành. Lỗ cỡ kích thước đồng đều theo quy cỡ đã chọn. Để chậu (khay) trên mặt bể co chứa nước sạch, cho cá vào rổ, khay. Cá nhỏ lọt xuống bể, chọn những cá khoẻ, không bị dị hình đem thả nuôi. Tuỳ theo cỡ cá, thả mật độ khác nhau. Cỡ cá 2 - 2,5cm thả mật độ 20 - 30 con/m2 ao; cỡ cá lớn thả thưa hơn.

3. Nhu cầu dinh dưỡng
- Ngoài thức ăn và artemi cung cấp ban đầu, trong quá trình ương sử dụng cá tạp xay nhuyễn làm thức ăn cho cá.

- Cách cho ăn: Tuần lễ thứ nhất, lượng thức ăn hàng ngày bằng 100% khối lượng cá nuôi. Mỗi ngày tăng 1 - 2 % lượng thức ăn cho cá (cần theo dõi khả năng sử dụng thức ăn để qurn lý tốt lượng thức ăn cung cấp cho cá).

II. Các hình thức ương khác
1. Ương trên bể xi măng
Ương cá trên bể xi măng hiệu quả thấp vì chất thải của cá, thức ăn thừa sẽ tích tụ trong bể nhanh làm cho môi trường nước dễ bị ô nhiễm. Cá hoạt động trong bể thường cọ xát vào thành bể, thân bị xây sát dẫn đến cá bị nhiễm bệnh vi khuẩn chết. Ngoài ra, ương trong bể thể tích hẹp cá dễ tấn công lẩn nhau để ăn thịt.

2. Ương cá trong lồng lưới
Tuy ương cá trong lồng lưới có ưu điểm lợi dụng được điều kiện môi trường nước chảy tự nhiên, cá sống khoẻ, lớn nhanh, song lồng lưới thường bị các sinh vật biển bám làm cản trở dòng nước lưu thông cá thường thiếu oxy, lồng mau hư hỏng và trong thể tích hẹp cá dễ tấn công lẫn nhau để ăn thịt.

Chủ Nhật, 24 tháng 6, 2012

Nhu cầu protein của cá Chẽm

Nhu cầu protein của cá Chẽm


Nhu cầu protein của cá chẽm by C.ty UVVN | Nhu cau protein cua ca chem

Cá chẽm (Lates calcarifer) hay còn gọi là cá vược, là loài cáăn thịt, được nuôi trong lồng và các ao đầm nước lợ, nước ngọt cũng như nước mặn.Việc đưa cá chẽm vào nuôi rộng rãi là việc làm cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng trên một đơn vị diện tích mặt nước, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu thị trường và đa dạng hoá đối tượng nuôi trồng thủy sản.


- Trong môi trường sống tự nhiên, thức ăn của cá chẽm kích cỡ từ 15 cm trở lên hoàn toàn là động vật như tôm, cua, ghẹ, cá nhỏ. Do vậy, trong nuôi nhân tạo cần phải đáp ứng đầy đủ nhu cầu protein cho sinh trưởng và phát triển của chúng.

- Cho đến nay ở nước ta, nhu cầu protein của cá chẽm vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ. Trên thế giới đã có một vài nghiên cứu về nhu cầu protein của cá chẽm được công bố trên các tạp chí. Sakaraset al.(1988) ước tính hàm lượng protein thô khẩu phần cho cá chẽmchưa trưởng thành là 50%. Cácnghiên cứu sau đó cho thấy rằng tỷ lệtăng trưởng cao nhất đạt được với mức protein 45% (Sakaras etal.,1989). Mức protein tối ưu cho sự sinh trưởng và phát triểncủa cá chẽm đã được ghi nhận trong khoảng 40 - 45% (Wong và Cho, 1989).

- Về nhu cầu các acid amin thiết yếu của cá chẽm: Colosoet al. (1993) công bố nhu cầutryptophan của các chẽmgiai đoạn trưởng thành là 0,5% protein khẩu phần. Yêu cầu đối với methionine, lysine và arginine có lần lượt là 2,24; 4,5 - 5,2 và 3,8% khẩu phần protein (Millamena năm 1994, Rimmer et al. 1998). Ngoài ra, Boonyaratpalin et al. (1990) đã chỉ ra sự tập trung quá mức của tyrosine trong khẩu phần ăn củacá chẽm cóthể dẫn đến những vấn đề về thận. Như vậy, cần phải có nhiều nghiên cứu hơn để hiểu được nhu cầu các amino acid và mối tương quan của chúng như thế nào là điều rất cần thiết cho sự phát triển tối ưu của cá chẽm.

- Nghiên cứu của Catacutan và Coloso (1995) cho thấy cá chẽmcó thể phát triển thích ứng với khẩu phần ăn chứa 42,5% protein thô (CP) với tỷ lệ protein thô/năng lượngtiêu hóa (DE) khoảng30,7 mg CP/kJDE, tương ứng với năng lượngtổng số 25,2mg CP/kJGEhoặc 27,1 mgDP/kJDE. Williams và Barlow (1999) chứng minh rằng với khẩu phần ăn 42% DP và 15,5 kJDE sẽ cho hệ số chuyển hóathức ăn (FCR) và nguồn dự trữ nitơ tối ưu nhất. Hai ông đề nghị công thức tối ưu cho sự sinh trưởng cá chẽm theo DP là 26,7 mg/kJDEhoặc24,5 mg/kJGE. Những kết quả này phù hợp với các giá trị của CP lần lượt là25,8 mg/kJGE và 25,2 mg/kJGEtheo Tubongbanua (1987) và Catacutan và Coloso (1995). Mộtnghiên cứu gần đây của Williams etal, (1999) cho thấy mức protein phù hợp là 55% CP và 20 kJ DE/gsẽ kích thích sự tăng trưởng tiềm năng của cá chẽmgiai đoạn trưởng thành. Những kết quả này chỉ ra rằng khẩu phần ăn với mức protein và năng lượng tương đối cao có thể góp phần nâng cao tỷ lệ sinh trưởng của cá chẽmso với việc áp dụng khẩu phần ăn chuẩn với 45% CP và 15,5 kJ DE/g.

- Giống với các loài cá ăn thịt khác, cá chẽm có khả năng tiêu hóa tốt các thành phần thức ăn có nguồn gốc trên cạn (Hajen etal.,1993; Gomes etal.,1995; Gaylord và Gatin, 1996). Pongmaneerat và Boonyaratpalin (1995) nghiên cứu và thấy rằng hỗn hợp đậu nành và ngô với tỷ lệ 5:3 có thể thay thế 25% protein trong khẩu phần ăn của cá chẽm Châu Á trưởng thành mà không có bấtcứ ảnh hưởng xấu nào đến sự sinh trưởng và phát triển bình thường của cá chẽm. Tương tự với nghiên cứu đó, Boonyaratpalin et al. (1998) đã chỉ ra rằng có gần 37% lượng protein từ nguồn cá của khẩu phần ăn dành cho cá chẽm có thể được thay thế bởi dung môi chiết xuất đậu nành mà không ảnh hưởng đến quá trình hoạt động bình thường. Nghiên cứu của Williams et al. (1999) cũng chỉ ra rằng nguồn thức ăn bột thịt có thể thay thế cho bột cá trong khẩu phần ăn cá chẽm mà không gây ra bất kỳ tác hại về sự tăng trưởng nào cũng như hiệu quả sử dụng thức ăn hay chất lượng bữa ăn của chúng. Williams vàBarlow (1999) đã chứng minhmột hỗn hợp gồm bột thịt và bột máu khô với tỷ lệ 5.5:1 có thể được sử dụng nhằm thay thế bột cá trong quá trình sinh trưởng phát triển của cá chẽm mà không làm thay đổi sự tăng trưởng, hệ số FCR hay tỷ lệ sống của chúng. Có thể áp dụng công thức thức ăn như sau:
+ Sử dụng thức ăn hỗn hợp dạng viên nổi hay viên khô ép đùn có khả năng chìm chậm chứa 50% protein và 20% lipid. Nên cho ăn 2 lần/ngày với cá có trọng lượng 20 – 100g và 1 lần/ngày với cá đạt trọng lượng lớn hơn 100g.
+ Các loại cá tạp tươi hay đông lạnh: cho ăn với hàm lượng 2% trọng lượng cơ thể, 3 lần/tuần. Bổ sung thường xuyên Vitamin và dầu cá trước mỗi lần cho cá ăn.

- Cần có những nghiên cứu cụ thể đế xác định nhu cầu protein của cá chẽm nuôi với các hình thức khác nhau ở các môi trường khác nhau trong điều kiện Việt Nam để khuyến cáo cho người nuôi đạt hiệu quả cao.

Bài viết đã được mua tác quyền từ tác giả, bất cứ hình thức sao chép nào đều phải có trích dẫn nguồn từ: TS. Ngô hữu Toàn, KTS, ĐH Nông Lâm Huế.

Bài đăng phổ biến