Hiển thị các bài đăng có nhãn Các Loại Cải. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Các Loại Cải. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 9 tháng 8, 2012

Kỹ thuật trồng Súp Lơ

Kỹ thuật trồng Súp Lơ


Kỹ thuật trồng súp lơ by C.ty CH | Ky thuat trong sup lo

1. Thời vụ và giống trồng
a) Thời vụ:
- Vụ sớm: Gieo vào tháng 7 - 8 dương lịch (dl) trồng vào tháng 9 -10 dl với các giống chính sớm có thể thu hoạch vào tháng 11 - 12.

- Chính vụ: Gieo vào tháng 9 - 10 dl, trồng vào tháng 10-11dl và thu hoạch vào tháng 12 - 1 dl.

- Vụ muộn: Gieo vào cuối tháng 11dl đầu tháng 12 dl, trồng vào cuối tháng 12 dl và thu hoạch vào tháng 2 dl hoặc sang đầu 3 dl.

b) Giống trồng:
Sử dụng các giống có năng suất cao, chất lượng tốt, thích hợp với sản xuất và tiêu thụ. Các giống phổ biến có 2 loại:
- Cải bông đơn: trồng sớm.


- Cải bông kép: trồng chính vụ và vụ muộn

2. Chuẩn bị cây con
Lượng hạt giống cần thiết để cung cấp đầy đủ cho 500 m2 đất trồng là 20 - 30 g. Khi cây con được 25 - 30 ngày tuổi thì nhổ đem trồng. Chọn cây mập, to, lá xanh, gốc đỏ, không bị dị hình đẩ đem trồng.
Chú ý : Xử lý cây con trong vườn ươm.

3. Chuẩn bị đất
- Luống rộng 0,9 - 1 m, vụ sớm làm luống cao, vụ muộn và chính làm luống thấp và phẳng.

- Trồng hàng kép nanh sâu trên luống với khoảng cách 40 x 50 cm hoặc 60 x 50 cm (21.000 - 23.000 cây/ha)

4. Bón phân
- Bón lót cho 500 m2:
+ Phân chuồng: 2 tấn.
+ Phân Urea: 3 kg.
+ Phân lân: 2 kg.
+ Phân kali: 4 kg.
Tất cả các loại phân trộn đều nhau rồi bón vào hốc trồng lá tốt nhất.

- Bón thúc cho 500 m2:
+ Lần 1: 15 ngày sau khi trồng 1 kg Urea pha nước tưới.
+ Lần 2: 25 ngày sau khi trồng 1 kg Urea pha nước tưới.
+ Lần 3 : Khi cây đã chéo nõn dùng 8 kg Urea pha nước tưới.

5. Chăm sóc
- Tưới tiêu nước: Sau khi trồng tưới nước và sáng sớm và chiều tối cho đến khi cây hồi xanh. Tuỳ theo thời tiết để tưới giữ ẩm thường xuyên.

- Xới gốc: Sau khi trồng được 15 - 20 ngày xới vun nhẹ lần 1, sau 12 - 16 ngày xới lần 2 đồng thời vun cao gốc.

6. Phòng trừ sâu bệnh
- Cần áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp cho cây (IPM), thường xuyên dọn vệ sinh đồng ruộng, có chế độ luân canh hợp lý giữa các cây trồng cạn và nước, giữa các cây trồng khác họ. Theo dõi thường xuyên để phát hiện sâu bệnh trên cây và có biện pháp phòng trừ diệt kịp thời.

- Sâu hại: Sâu tơ (Plutella xylostella), Sâu nhiếu đọt (Hellula undalis), Sâu ăn tạp (Spodoptera litura), Sâu xanh da láng (Spodoptera exigua), Bọ nhảy (Phyllotreta striolata). Phòng trị như trên cải bắp.

- Bệnh hại: Bệnh thối nhũn, tiêm cùi (do vi khuẩn Erwinia carotovora), Bệnh cháy lá do vi khuẩn (bã trầu) (do vi khuẩn Xanthomonas campestris), Bệnh da lợn hay thối khô (do nấmRhizoctonia solani), Bệnh thối hạch (do Sclerotinia sclerotiorum), Bệnh cháy lá (do nấmPellicularia sp.). Khi có sâu bệnh thì dùng các loại thuốc cho phép để phòng trừ như Sherpa 25EC, Regent 5,10mg, Ridomil MZ 72WP, Score 250EC, BT 3%... sử dụng theo khuyến cáo trên nhãn bao bì. Khi cây có hoa chỉ nên dùng các loại thuốc trừ sâu sinh học. Nên ngừng phun thuốc 15 ngày trước khi thu hoạch.

7. Thu hoạch
Thời gian thu hoạch tùy thuộc giống và mùa trồng. Cần thu hoạch đúng lúc mới đảm bảo được năng suất và phẩm chất của cải bông.

Thứ Hai, 6 tháng 8, 2012

Kỹ thuật trồng Cải Xà Lách Xoong

Kỹ thuật trồng Cải Xà Lách Xoong


Kỹ thuật trồng cải xà lách xoong by ST | Ky thuat trong cai xa lach xoong

1. Tổng quan
- Cải xà lách xoong có nguồn ngốc Châu Âu, ngày nay được trồng ở phía Tây Châu Á và nhiều nước trong vùng nhiệt đới như Mã Lai, Ấn Độ, Inđônêxia, Phi Luật Tân, Việt Nam,… và ở phía Bắc Châu Phi. Cải xoong giàu Calcium (64 mg), sắt (1,1 mg), vitamin A, C,…

- Ở Việt Nam cải xoong được trồng chủ yếu ở vùng cao, có khí hậu mát như miền Bắc, Đà Lạt, Bình Thuận. Ở Đồng bằng sông Cửu Long, Huyện Bình Minh tỉnh Vĩnh Long là nơi trọng điểm trồng xà lách xoong, có truyền thống từ lâu đời, không những cung cấp cho đồng bằng mà cả thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra tỉnh An Giang, Cần Thơ cũng có trồng nhưng diện tích không đáng kể.

2. Đặc tính sinh học
- Thân cải non, mềm, xốp dài 20 – 60 cm, mỗi lóng thân dài 1 – 5 cm tùy thuộc rất lớn vào thời tiết và sự chăm sóc, mỗi mắt có thể mọc một cành. Lá kép có 3 – 9 lá phụ, lá đỉnh to nhất, lá cải hình tròn nhỏ màu xanh đậm, rìa lá răng cưa. Cải xoong thuộc loại rễ chùm, có nhiều rễ phụ ở đốt thân có thể hút chất dinh dưỡng và nếu đem trồng sẽ thành cây độc lập.


- Cải xoong rất thích sống ở nơi nhiều đất bùn, sống dưới nước, độ ngập khoảng 4 – 5 cm nơi có dòng nước chảy như ở dưới chân của thác nước, mực nước sâu thì thân cải mọc dài. Cây sinh trưởng tốt ở nhiệt độ 15 – 200C, ở độ cao trên 1000 m so với mặt nước biển (như vùng Đà Lạt). Độ pH của đất thích hợp nhất 6 – 7, không sống được trong đất phèn, đất mặn hoặc đất cát trong mùa nắng. Cây rất thích độ ẩm cao, cần nước tưới thường xuyên.

3. Kỹ thuật trồng cải xoong
a) Chọn giống
Các giống hiện đang canh tác là giống địa phương, qua chọn lọc cho thấy nó phù hợp với điều kiện canh tác ở địa phương như chống chịu sâu bệnh, chịu nhiệt cao, cho năng suất ổn định, phẩm chất rất ngon, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng

b) Thời vụ
Trồng được quanh năm, mùa thuận là trồng vào các tháng giáp Tết 11 – 12 dl, thời tiết mát mẻ, thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng và cho năng suất cao.

c) Kỹ thuật làm đất
- Trồng mới:
+ Chọn đất giàu hữu cơ, nhiều mùn, không phèn mặn, độ pH = 6 – 7
+ Cây phát triển không thuận lợi trên đất cát hoặc phèn mặn
+ Lên liếp chìm, rộng 2 – 2,2 m, lối đi giữa liếp rộng 30 – 40 cm, cao hơn mặt liếp 10 – 20 cm, xung quanh liếp có rãnh thoát nước rộng 10 cm, sâu 15 cm, giúp thoát nước tốt trong mùa mưa.
+ Đất trồng phải được phơi khô 1 – 2 tuần để diệt mầm bệnh
+ Trước khi trồng cho nước vào ngập ruộng, làm cho đất tơi lên bùn, sau đó cấy cải hoặc rải đều lên liếp, đè nhẹ cho ngập nước, ngày hôm sau rút cạn nước cho rau phát triển.

- Cải gốc:
+ Sau thu hoạch cần vệ sinh đồng ruộng, làm sạch cỏ bờ, vét mương tưới, sửa bờ và rãnh thoát nước.
+ Rải thêm đất mới (đất giàu hữu cơ được phơi khô, đập nhuyễn) lên luống nhằm cung cấp đất cho lứa cải sau phát triển.

d) Bón phân: Lượng phân sử dụng cho 1.000 m2
- Trồng mới:
+ Super lân (lót): 50 kg
+ Vôi bột: 50 kg
+ Phân chuồng hoai: 500 kg. (Có thể thay thế bằng phân dơi)

- Cải gốc:
+ Lân vi sinh: 20 kg
+ Phân tôm: 30 – 40 kg
+ Phân chuồng hoai: 200 kg
+ NPK 16-16-8: 30 – 40 kg
+ Phân Urê: 4 – 5 kg

- Cách bón:
+ Bón lót: Bón phân lân vi sinh khi vừa thu hoạch xong lứa trước.
. Lần 1: (10 – 15 ngày): Phân tôm 10 kg + phân chuồng.
. Lần 2 (17 – 20 ngày): Phân NPK 16-16-8 bón 10 kg
. Lần 3 (24 – 28 ngày): Phân tôm 15 kg + phân chuồng
. Lần 4 (30 – 35 ngày): NPK 16-16-8 bón từ 12 – 15 kg
. Lần 5 (37 – 40 ngày): Phân tôm 15 kg + phân chuồng
. Lần 6 (44 – 47 ngày): NPK 16-16-8 bón 15 kg
+ Giữa hai lần thúc phân có thể bổ sung phân bón lá + 01 kg Urê.

* Lưu‎ ý‎: Ngưng tưới phân hóa học tối thiểu 07 ngày trước thu hoạch

- Tưới nước: Cần tưới đủ ẩm (tưới sương lên lá nhiều lần trong ngày). Mùa nắng tưới bình quân 01 giờ/ lần (10 – 16 lần trong ngày)


- Làm cỏ:
+ Trồng cải xà lách xoong có thể diệt cỏ bằng thuốc hóa học.
+ Diệt cỏ tiền nảy mầm có thể dùng thuốc như Dual, Dual gold, Ronstar,.. dùng diệt cỏ ở đầu vụ.
+ Diệt cỏ hậu nảy mầm (diệt khi cây cỏ có 1 – 2 lá và đất đủ ẩm) dùng các loại thuốc trừ cỏ chọn lọc như: Nabu, Onecide,… các thuốc này rất an toàn cho các loại cây rau thuộc nhóm song tử diệp (hai lá mầm)
+ Diệt cỏ bờ: Sử dụng các loại trừ cỏ không chọn lọc

- Che mát: Cần làm giàn che mát cho cây cải xà lách xoong (cản 40 – 50 % lượng ánh sáng).


e) Phòng trừ sâu bệnh
- Thực hiện nghiêm ngặt qui trình phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM).

- Các đối tượng gây hại đáng lưu ý như:
+ Sâu tơ, sâu xanh, sâu ăn tạp: Cần luân phiên các nhóm thuốc trong các lần phun xịt trên cùng một lứa cải. Nên phối hợp thuốc hóa học với thuốc trừ sâu vi sinh, ức chế sinh trưởng hoặc dầu khoáng (SK Enpray, D-C Tronplus)… để tăng hiệu lực diệt sâu.
+ Bệnh héo xanh (héo vi khuẩn): Không sử dụng quá thừa phân đạm, có thể phun ngừa các nhóm thuốc gốc đồng, nhóm thuốc kháng sinh (Kasumin, Kasuran, Starner,…)
+ Bệnh thán thư (nổ lá): Có thể phòng trị bằng các nhóm thuốc trừ nấm sau: nhóm thuốc gốc đồng, Mancozeb,Carbendazim, Antracol, Tilt Super, Score, Curzate,..
+ Bệnh đốm vằn: Dùng các loại thuốc đặc trị như: Validacin, Monceren, Rovral, Bonanza, Anvil,…

f) Thu hoạch
- Vào mùa nắng khoảng 60 ngày sau khi cắt lứa trước là thu hoạch.

- Trồng từ tháng 09 – 12 thì thu hoạch vào khoảng 35 ngày sau khi thu hoạch lứa trước.

- Thu hoạch bình quân 6 – 8 lứa trong năm. Năng suất trung bình từ 8 – 10 tấn/ ha/ vụ.

Nguồn: ThS. Trần Thị Ba - Bộ môn Khoa học cây trồng - Khoa Nông nghiệp và sinh học ứng dụng - Trường ĐH Cần Thơ.

Thứ Sáu, 3 tháng 8, 2012

Kỹ thuật trồng Cải Bẹ Xanh

Kỹ thuật trồng Cải Bẹ Xanh


Kỹ thuật trồng cải xanh by ST | Ky thuat trong cai be xanh

1. Chuẩn bị đất
- Cải Xanh trồng được trên nhiều loại đất miễn là tưới tiêu tiêu thuận lợi. Tuy nhiên đất nhiều cát, trồng mùa mưa nhất thiết phải dùng giống chịu mưa và nếu có thể được, nên dùng rơm phủ hoặc lưới nylon che để hạn chế đất cát bắn lên lá và hạn chế sâu bệnh cỏ dại.

- Chuẩn bị đất kỹ tơi xốp, nhặt sạch cỏ dại tàn dư cây trồng vụ trước, nếu có điều kiện phơi khô khoảng một tuần và đảo lớp mặt xuống dưới để thoáng khí cho cây trồng sinh trưởng tốt đồng thời hạn chế các sâu bệnh cư trú trong đất. Khoảng 5 - 6 tháng một lần nên xử lý đất chống sâu bệnh bằng cách bón 50 - 60 kg vôi/1.000m2 đất.

- Lên líp cao 20 - 30cm trong mùa mưa để chống rễ không bị úng và lá cũng không bị đất cát dính vào dễ nhiễm các bệnh thối gốc và phỏng lá. Mùa khô lên líp cạn để giữ ẩm cho cây.

2. Thời vụ
Có thể trồng quanh, mùa nắng cần có đủ nước tưới cải phát triển tốt và cho năng suất cao hơn mùa mưa nhưng có nhiều sâu hại cần lưu ý phòng trừ. Mùa mưa (tháng 5 - 10 dl) khó trồng, cây tăng trưởng kém, dễ bị rách lá nhưng bán được giá cao.

3. Giống
Sử dụng các giống có năng suất cao, chất lượng tốt, thích hợp với sản xuất và tiêu thụ. Cải xanh để giống dễdàng trong vụ Đông Xuân từ tháng 10 - 2 dl, vì vậy nông dân có thể tự túc giống. Do Cải Xanh là cây thụ phấn chéo nên có nhiều dạng hình của thân lá, qua tuyển lựa của nông dân mà giống trồng cũng phong phú, đa dạng ở mỗi địa phương.


a) Cải xanh ta
Thời gian từ gieo đến thu hoạch 40-45 ngày, lá xanh vàng, mỏng, cọng nhỏ, bẹ dẹp, năng suất cao và ăn ngon. Giống của Viện Khoa Học Nông Nghiệp Miền Nam, công ty giống Miền Nam.

b) Cải bẹ xanh mốc (hay cải xanh Tiều)
Cây to, lá xánh đậm, bẹ to, tròn, năng suất cao nhưng vị đắng, thích hợp ăn xào hoặc nấu canh, thời gian cho hoạch 40 - 45 ngày sau khi gieo như Cải Xanh Trang Nông.

4. Gieo cấy
- Gieo sạ: Gieo hột trực tiếp ngoài đồng sẽ đở công cấy, nhưng tốn hột giống và công tỉa. Lượng hột gieo sạ cho 1.000 m2 khoảng 500 gram. Hột giống ngâm trong nước sau 3 - 4 giờ vớt ra để ráo nước ủ ấm một đêm rồi đem gieo hột sẽ nẩy mầm nhanh và đều hơn gieo hột khô. Hột cải nhỏ, muốn gieo cho đều nên chia hột nhiều phần và trộn với bột trắng để dễ điều chỉnh hột gieo. Khi cây con được 10 - 15 ngày nhổ tỉa chừa khoảng cách 10x15 cm. Tưới đẩm liếp trước khi gieo, sau khi gieo rãi lớp tro trấu mỏng phủ hột (mùa mưa nên rãi trấu) và rắc thuốc trừ kiến, các sâu hại khác (sâu non, bọ nhẩy, dế kiến, sên nhớt, ốc nhí). Trên mặt líp phủ lớp rơm mỏng và tưới đủ ẩm.

- Gieo cây con: Lượng hột giống cần thiết để đủ cây con cấy trên 1.000 m2 khoảng 100 - 150 g, gieo trên 70 m2 đất. Liếp ương nơi cao ráo có đầy đủ ánh nắng. Cây con có 3-4 lá thật khoảng 15 - 20 ngày tuổi đem cấy, mật độ từ 25.000 - 30.000 cây/1.000 m2. Trồng khoảng cách (15 - 20 cm) x 15 cm, 1 hốc 1 cây để ruộng thông thoáng hạn chế sâu bệnh. Liếp rộng 1 m cấy được 6 - 8 hàng cải, cấy dầy, cây cao, thân lá mhỏ, năng suất cao.

5. Bón phân chăm sóc
- Tổng lượng phân bón cho 1.000 m2 ruộng trồng khỏang 500 - 1.000 kg phân chuồng (phân heo, gà đã ủ hoai), 10 kg Urea, 10 kg super lân, 5 kg KCl, 10 kg hỗn hợp 16-16-8 và 10 kg DAP.

- Bón lót:
+ Vườn ươm: lót 2 - 3 kg phân chuồng hoai mục + 15g phân lân/1m2
+ Ruộng trồng: Toàn bộ phân chuồng + super lân + 2 kg KCl. Rãi trên mặt liếp và xới trộn đều.

- Bón thúc:
+ Vườn ươm: Không cần thiết cung cấp phân, nếu cây con phát triển hơi kém có thể tưới thúc nhẹ 1 lần khỏang 10 - 15 ngày sau khi gieo bằng nước phân hỗn hợp NPK 16-16-8 pha loãng (20 - 30g/10 lít nước). Cây con 18 - 20 ngày tuổi có thể cấy, cấy từng đợt riêng cây tốt và xấu để tiện chăm sóc.
+ Ruộng trồng: Bón phân dựa theo sự sinh trưởng của cây, do Cải Xanh rất ngắn ngày nên chia phân ra nhiều lần tưới sẽ có hiệu quả hơn.


+ Phân cá ủ pha loãng tưới thêm trong thời gian gần thu họach, có thể sử dụng phân bón lá chừng 2 lần (10 - 15cc/8 lít nước) trong 1 vụ cải xanh.

6. Quản lý dịch hại
- Trên ruộng Cải Xanh thường gặp những dịch hại chủ yếu sau: Bọ nhẩy (Phyllotreta striolata), sâu ăn tạp (Spodoptera litura), sâu tơ (Plutella xylostella), sâu đục ngọn (Hellula sp.), bệnh chết cây con (do Pythium sp., Rhizoctonia sp., Sclerostium sp.), bệnh thối bẹ (Sclerostium rolfsii, Rhizoctonia sp.) Bệnh thối nhũn vi khuẩn (Erwinia carotovora). Việc thực hiện nghiêm chỉnh kỹ thuật canh tác nói trên đã là một phần trong quản lý dịch hại tổng hợp, phần này chỉ nhấn mạnh các biện pháp cần thiết cho quản lý các dịch hại cụ thể.

- Biện pháp canh tác:
+ Luân canh: Để hạn chế các sâu bệnh hại có thể chu chuyển và gây hại nặng, không nên trồng liên tục nhiều vụ cùng họ cải trên cùng một chân đất. Nên luân canh bắt buộc với các cây khác họ như: xà lách, rau dền, mồng tơi hoặc rau gia vị ... tốt nhất nên luân canh với các cây họ hoà thảo như: bắp, lúa nước chẳng hạn.
+ Thường xuyên tưới đủ ẩm để hạn chế sự phát triển sâu non bọ nhẩy sống ở phần gốc cây dưới đất. Nhưng nếu thấy bệnh phát triển nên hạn chế tưới nước.
+ Mật độ gieo trồng vừa phải: Không nên trồng quá dầy nhất là trong mùa mưa dễ tạo thuận lợi cho các bệnh phát triển. Trong mùa mưa có thể che lưới thấp để tránh dập nát, tổn thương đến bộ lá.


+ Vệ sinh đồng ruộng: Làm sạch cỏ trong ruộng và cỏ bờ để hạn chế sự cư trú của các sâu bệnh, sau thu hoạch nên gom đốt các tàn dư.

- Biện pháp cơ lý: Thăm đồng thường xuyên nếu thấy xuất hiện các sâu bệnh hại như trứng sâu ăn tạp, sâu tơ, bệnh thối nhũn ... có thể dùng tay bắt giết nhổ bỏ cây bệnh để hạn chế sự lây lan. Các cây, lá bệnh khi nhổ bỏ không vứt ở ruộng và bờ mà cần gom đốt hoặc đào hố chôn có rãi vôi bột khử trùng, hay đem ủ phân đúng kỹ thuật.

- Biện pháp sinh học: Để bảo tồn các loại thiên địch của sâu hại (nhện, ong ký sinh, bọ rùa ăn sâu...) cần hạn chế các loại thuốc phổ rộng. Phòng các loại sâu non bọ cánh phấn nếu xuất hiện nhiều thì ưu tiên sử dụng thuốc vi sinh gốc Bacillus thuringiensis các loại, riêng với bọ nhẩy có thể dùng các loại thuốc thảo mộc Nicotine (nước ngâm thân lá thuốc lá), Rotenone (thuốc cá) phun trừ.

- Biện pháp hóa học:
+ Trừ sâu hại: Trong vườn ươm cần trừ kiến tha hột giống có thể sử dụng thuốc Basudin 10H (15 - 20g/10m2). Để trừ bọ nhẩy có thể xử lý hột giống trước gieo bằng thuốc. Trường hợp bọ nhẩy xuất hiện nhiều trên ruộng có thể dùng thuốc gốc lân hữu cơ kết hợp với gốc cúc tổng hợp theo khuyết cáo.
+ Trừ bệnh hại: Để phòng trị các bệnh trước khi gieo nên xử lý bằng một trong các loại thuốc sau đây: Rovral 50 WP, Viben-C 50 WP, lượng dùng 5kg/1kg hột.
+ Với bệnh chết cây con: Khi phát hiện phun một trong các loại thuốc: Moceren 25 WP (15g/8 lít), Rovral 50WP (20g/8 lít), Ridomil MZ 72 WP (15g/8 lít).
+ Bệnh thối bẹ: dùng Moceren 25 WP (25g/8 lít), Rovral 50 WP (20g/8 lít), Ridomil MZ 72 WP (15g/8 lít).

* Lưu ý: Một tuần lễ trước khi thu hoạch tuyệt đối không dùng thuốc hoá học chỉ được phép sử dụng thuốc thảo mộc, vi sinh.

Nguồn: ThS. Trần Thị Ba - Bộ môn Khoa Học Cây Trồng - Khoa Nông Nghiệp & Sinh học ứng dụng - Trường ĐHCT.

Thứ Năm, 2 tháng 8, 2012

Kỹ thuật trồng Cải Bắp

Kỹ thuật trồng Cải Bắp


Kỹ thuật trồng cải bắp by Khoa Học | Ky thuat trong cai bap

I. Tổng quan
- Cải bắp thuộc nhóm rau có nguồn gốc ôn đới, nhiệt độ xuân hoá (nhiệt độ cần thiết để phân hoá mầm hoa) là 1 - 10 độ C trong khoảng 15 - 30 ngày tuỳ thời gian sinh trưởng của giống. Do vậy, trong quá trình sinh trưởng, khi gặp điều kiện này, cây sẽ ra hoa, kết quả ngay ở năm đầu.


- Cải bắp là loại rau chủ lực trong họ Thập tự, trồng trong vụ đông xuân ở các tỉnh phía bắc, miền trung và Tây nguyên. Là loại cây hai năm: năm thứ nhất sinh trưởng thân lá, năm sau qua giai đoạn xuân hoá, sau đó mới ra hoa, kết quả.

- Cải bắp có chỉ số diện tích lá cao, hệ số sử dụng nước rất lớn nhưng có bộ rễ chùm phát triển nên chịu hạn và chịu nước hơn su hào và su lơ.

- Đặc biệt ở cải bắp khả năng phục hồi bộ lá khá cao. Các thí nghiệm cho thấy, khi cắt 25% diện tích bề mặt lá ở giai đoạn trước cuốn bắp, năng suất vẫn đạt 97 - 98% so với không cắt. Điều đó khẳng định việc phun thuốc hoá hoá học trừ sâu tơ lứa 1 trong nhiều trường hợp là không cần thiết.

- Hạt cải bắp nảy mầm tốt nhất ở nhiệt độ 18 - 20 độ C. Cây phát triển thuận lợi nhất ở 15 - 18 độ C.

- Phát sinh từ vùng Địa Trung Hải, cải bắp thuộc nhóm cây ưa ánh sáng ngày dài nhưng cường độ chiếu sáng yếu. Do vậy, trong điều kiện vụ đông xuân ở nước ta, cây cải bắp thường rút ngắn thời gian sinh trưởng so với vùng nguyên sản.

- Độ ẩm thích hợp là từ 75 - 85%, ẩm độ không khí khoảng 80 - 90%. Đất quá ẩm (trên 90%) kéo dài 3 - 5 ngày sẽ làm rễ cây nhiễm độc vì làm việc trong điều kiện yếm khí.
Cải bắp ưa đất thịt nhẹ, cát pha, tốt nhất là đất phù sa bồi, có độ pH= 5,6 - 6,0. Do có lượng sinh khối lớn nên cải bắp yêu cầu dinh dưỡng cao. Các nhà chuyên môn đã tính toán, để có năng suất 80 tấn/ha, cải bắp đã lấy đi của đất 214 kg đạm, 79 kg lân, 200 kg kali, tức là tương đương với 610kg đạm urê, 400kg supe lân, 500kg clorua kali. Vì vậy, phải đảm bảo lượng phân bón sao cho cây có trạng thái tốt, chống đỡ sâu bệnh và cho năng suất cao.

II. Kỹ thuật trồng cải bắp
1. Thời vụ
Ở các tỉnh phái bắc có 3 vụ trồng cải bắp chủ yếu :
- Vụ sớm: gieo cuối tháng 7 đầu tháng 8, trồng cuối tháng 8 và tháng 9 để thu hoạch vào tháng 11, tháng 12.

- Vụ chính: gieo tháng 9 - 10, trồng giữa tháng 10 đến hết tháng 11 để thu hoạch vào tháng 1-2 năm sau.

- Vụ muộn: gieo tháng 11, trồng vào giữa tháng 12 để thu hoạch vào tháng 2 - 3 năm sau.

- Ở Tây nguyên, có thể gieo vụ 9 - 10 và vụ tháng 11.

- Tuỳ thuộc vào thời vụ gieo trồng để tính tuổi cây con, nhưng khi cây có 4 - 6 lá thật là thời điểm trồng tốt nhất (tuổi cây trong khoảng 20 - 30 ngày).

2. Làm đất, bón phân
- Luống cải bắp rộng 1 - 1,2 m, cao 15 - 20cm, rãnh luống rộng 20 - 25cm. Vụ sớm lên luống mai rùa cao để phòng mưa. Vụ chính và vụ muộn làm luống phẳng.

- Mỗi hecta trồng cải bắp bón lót 20 - 25 tấn phân chuồng hoai mục (thời gian ủ trước khi bón ít nhất 3 tháng. Mỗi tấn phân tươi khi ủ rắc thêm 20kg vôi bột và 25kg supe lân). Nếu có lân hữu cơ vi sinh, cần bón 250 - 300kg/ha. Với lượng này có thể rút lượng phân chuồng còn 15 - 20 tấn/ha.

- Để đạt năng suất cao và giữ hàm lượng nitrat dưới 500mg/kg, cần bón mỗi hecta 120 - 150kgN trong vụ sớm (260 - 325kg urê), 150 - 180kgN trong vụ chính và vụ muộn (260 - 390kg urê).

- Nếu sử dụng lân hữu cơ vi sinh, cần bón thêm 60kg P2O5 (300kg supe lân), ngược lại bón 90kg P2O5 (hay 180kg supe lân).

- Lượng kali cần thiết cho mỗi hecta là 120kg K2O. Tốt nhất nên dùng dạng sulfat. Bón lót toàn bộ phân chuồng + lân hữu cơ vi sinh +1/2 kali +1/4 đạm. Có 2 hình thức bón lót: trải đều trên mặt ruộng trước khi lên luống hoặc bón vào hốc sau khi lên luống. Nếu bón theo cách thứ 2 phải trộn, đảo đều và lấp trước khi trồng.

3. Trồng, chăm sóc
- Chọn những cây khoẻ, cứng cáp, đồng đều để nhổ trồng vào buổi chiều (nếu trời nắng hanh). Trước khi trồng nhúng rễ cây vào dung dịch Sherpa 0,1-0,15%. Nếu sử dụng polietylen phủ đất, sau khi bón lót, phủ kín mặt luống, dùng đất chèn kỹ mép luống và đục lỗ trồng.


- Trồng hai hàng nanh sấu trên luống. Phụ thuộc vào khối lượng bắp và thời vụ, trồng theo kích thước sau:
+ Vụ sớm và muộn: 50 x40cm
+ Vụ chính: 50 x 50cm

- Sau khi trồng, tưới đẫm nước, sau đó tưới đều hàng ngày cho tới khi hồi xanh. Sau khi vun và bón thúc đợt 1, có thể tưới rãnh cho cây. Chú ý, để nước ngấm 2/3 luống phải tháo hết nước. Trước và sau khi mưa không nên tưới rãnh. Nước tưới phải sạch không có nguồn nhiễm bẩn. Đặc biệt không được tưới nước phân tươi.

- Thời gian đầu, khi cải bắp còn nhỏ, có thể trồng xen xà lách, cải xanh và những cây có thời gian sinh trưởng dưới 30 ngày. ở vụ chính có thể kết hợp trồng xen cà chua với tỷ lệ: cứ 2 luống cải bắp lại trồng một luống cà chua. Hình thức này làm giảm rõ rệt mật độ sâu tơ lứa 3.

4. Bảo vệ thực vật
- Áp dụng nghiêm ngặt quy trình quản lý dịch hại tổng hợp đối với cây trồng họ Thập tự: vệ sinh đồng ruộng, cày lật đất sớm để tiêu diệt nguồn sâu non, nhộng của sâu khoang, sâu xám, sâu xanh,... Luân canh với lúa nước ở vùng rau 2 lúa + 1vụ rau, với hành, tỏi, đậu tương ở vùng chuyên canh rau màu. Thường xuyên quan sát đồng ruộng, phát hiện, bắt giết sâu xám đầu vụ, ngắt ổ trứng và ổ sâu non tuổi 1 - 2 của sâu khoang, nhổ bỏ kịp thời cây bị héo, nhũn.

- Khi trồng ra ruộng có thể bón thuốc hạt Oncol 50G vào gốc cây để tiêu diệt sâu gốc. Từ 15-20 ngày sau khi trồng, nếu có sâu tơ tuổi 1 - 2 rộ trên mỗi trà, cần phun 1 - 2 lần thuốc BT. Trường hợp sâu có khả năng phát dịch có thể dùng các thuốc Pegasus 250EC hoặc Sherpa 25EC. Kết thúc phun các loại thuốc trên trước khi thu hoạch 10 ngày.

- Nếu trên ruộng xuất hiện sâu xanh bướm trắng hay rệp nên kết hợp trừ khi phòng trừ sâu tơ.

- Khi có bệnh nên phun một trong các loại thuốc sau: Ridomil MZ 72WP, Kumulus 80 DP hoặc Score 250 ND.

- Sử dụng thuốc phải đúng liều lượng khuyến cáo, phun kỹ, ướt đều 2 mặt lá.

5. Thu hoạch
Khi bắp cải cuốn chắc, đủ độ tuổi sinh trưởng thì thu hoạch. Chặt cao, sát thân bắp để dễ thu và xử lý gốc cây trên đồng ruộng. Loại bỏ lá ngoài, lá xanh trên bắp, rửa kỹ bằng nước sạch, để ráo, cho bao bì để đưa tiêu thụ.

Bài đăng phổ biến