Hiển thị các bài đăng có nhãn Các Loại Dây Leo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Các Loại Dây Leo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2012

Kỹ thuật trồng Bí Đỏ

Kỹ thuật trồng Bí Đỏ


Kỹ thuật trồng bí đỏ by BVCT | Ky thuat trong bi do

1. Tổng quan
- Cây bí đỏ (hay bí ngô) có tên khoa học: Cucurbita pepo Cucurbita moschata Họ bầu bí: Cucurbitaceae

- Bí đỏ có nguồn gốc Trung Mỹ, gồm 25 loài nhưng phổ biến nhất ở vùng nhiệt đới là C. pepo và C. moschata, còn C. maxima thì thích hợp ở vùng khí hậu mát.

- Sản phẩm sử dụng chính là trái giàu vitamin A, trái chứa 85 - 91% nước, chất đạm 0,8 - 2 g, chất béo 0,1 - 0,5 g, chất bột đường 3,3 - 11 g, cho năng lượng 85 - 170 kJ/100 g. Ngoài ra, hoa, lá và đọt non cũng được dùng làm rau ăn.

2. Đặc tính sinh học
- Rễ: Hệ thống rễ phát triển mạnh, rễ chính ăn sâu và rễ phụ ăn lan rộng nên khả năng chịu hạn tốt. Cây có khả năng phát triển trên đất hơi phèn hoặc mặn. Đây là cây rau được chú ý canh tác đầu tiên trên những vùng đất mới khai phá.

- Thân: Thân bò có tua cuốn, thân dài ngắn tuỳ giống, thân tròn hay có gốc cạnh. Thân có khả năng ra rễ bất định ở đốt. Tua cuốn phân nhánh mọc ở đốt thân.

- Lá: Lá đơn, mọc cách, cuống dài, phiến lá rộng, tròn hay gốc cạnh, có xẻ thùy sâu hay cạn, màu xanh hay lốm đốm trắng.

- Hoa: Hoa đơn phái cùng cây, to, cánh màu vàng, thụ phấn nhờ côn trùng. Trong điều kiện khí hậu không thuận hợp cây sinh ra hoa lưỡng tính hay hoa đực bất thụ.

- Trái: Đặc điểm của cuống trái là một đặc tính dùng để phân biệt các loài bí trồng. Cuống trái mềm hay cứng, tròn hay gốc cạnh, đáy cuống phình hay không. Vỏ trái cứng hay mềm, trơn láng hay sần sùi, màu sắc vỏ trái thay đổi từ xanh đậm tới vàng, hơi trắng. Hình dạng trái rất thay đổi từ tròn, oval tới dài. Thịt trái dầy hay mỏng, màu vàng đỏ đến vàng tươi. Ruột chứa nhiều hột nằm giữa trái.


- Bí đỏ thích nghi rộng với điều kiện vùng nhiệt đới, bí có thể trồng ở đồng bằng cho đến cao nguyên có cao độ 1.500 m. Nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển từ 18 – 27 độ C. Cây sinh trưởng tốt trong điều kiện cường độ chiếu sáng mạnh, có khả năng chịu hạn khá nhưng nếu khô hạn quá dễ bị rụng hoa và trái non.

- Nhiệt độ và độ dài ngày đều có ảnh hưởng trên sự hìanh thành tỉ lệ hoa đực và cái trên cây. Ngày dài và nhiệt độ cao thích hợp cho cây ra nhiều hoa đực.

- Cây không kén đất nhưng đòi hỏi phải thoát nước tốt, vì cây chịu úng kém nhưng chịu khô hạn tốt. ẩm độ cao không thích hợp cho cây phát triển vì dễ phát sinh bệnh trên lá.

3. Giống
- Các giống địa phương trồng phổ biến. Hai giống được ưa chuộng nhất là:
+ Giống Bí Vàm Răng: Trồng phổ biến ở Kiên Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng. Trái tròn dẹp, có khía, nặng 3 - 5 kg, trái già màu vàng, vỏ hai da, thịt dầy, dẻo, màu vàng tươi, phẩm chất ngon.
+ Giống Bí trái dài Ban Mê Thuộc: Trồng phổ biến ở miền Đông Nam Bộ và cao nguyên.
- Trái bầu dục dài, nặng 1 - 2 kg, vỏ vàng xanh hay vàng, trơn láng hay sần sùi, thịt mỏng, màu vàng tươi đến vàng cam, ít dẻo, ngon ngọt.

4. Kỹ thuật trồng
4.1. Thời vụ
Bí đỏ trồng được quanh năm, tùy theo điều kiện đất và nước từng nơi mà bố trí trong mùa khô hay mùa mưa. Mùa khô gieo tháng 11 - 1 dương lịch (dl), thu hoạch tháng 3 - 4 dl; mùa mưa gieo tháng 5 - 6, thu hoạch tháng 8 - 9 dl.

4.2. Làm đất
Bí đỏ rất dễ trồng không kén đất, có thể trồng trên đất bờ hoặc đất ruộng sau mùa lúa, nhưng tốt nhất là đất mới khai phá. Kỹ thuật làm đất bí tương tự như làm đất trồng dưa hấu. Đất được cuốc lên líp đôi, khoảng cách giữa 2 tim mương 5 - 6 m, mương rộng 0,4 - 0,6 m, mặt luống rộng 0,7 m, cao 0,2 - 0,3 m, khoảng cách cây trên luống 0,5 - 0,7 m, mật độ 5.500 - 7.500 cây/ha.

4.3. Gieo hạt
Hột gieo thẳng hoặc gieo trong bầu, thường ngâm ủ cho nẩy mầm trước khi gieo. Lượng giống gieo 1 - 1,5 kg/ha tùy giống. Cây con đem trồng có 1 - 2 lá nhám.

4.4. Chăm sóc
a) Bón phân
- Công thức phân áp dụng và cách bón như sau cho 1 ha:
+ N: từ 230 - 250 kg
+ P2O5: 150 - 200 kg
+ K2O: 90 - 100 kg

Bảng Lượng phân bón cho 1ha đất canh tác

- Ngoài lượng phân trên có thể phun phân qua lá định kỳ 7-10 ngày/lần như Bayfolan, HVP, Komix, Bioted... với nồng độ khuyến cáo trên nhản chai thuốc giúp cây khoẻ mạnh, tăng trưởng nhanh, cho trái tốt.

b) Tưới nước
Cung cấp đầy đủ nước trong mùa khô, nhất là giai đoạn ra hoa. Thoát nước tốt trong mùa mưa không để rễ cây bị úng.

c) Tạo hình
Khi bí dài 1m, lấy đất đắp đoạn thân giúp cây phát triển rễ phụ tăng khả năng hút chất dinh dưỡng, cây sinh trưởng tôt hơn. Bí có khả năng đâm nhánh mạnh nên ra rất nhiều nhánh. Mỗi cây chỉ nên chừa 2 - 4 nhánh tốt nhất hoặc dây chánh và 1 - 2 dây nhánh, tiả hết các nhánh khác làm rau ăn để cây tập trung dinh dưỡng nuôi trái. Cũng tỉa bớt các lá chân hoặc lá vàng úa, giúp thông thoáng ong bướm dể tìm hoa hút nhụy, tăng tỉ lệ đậu trái.

d) Để trái
Hoa đực ở bí đỏ rất nhiều gấp hơn 20 lần hoa cái, hoa đực có sớm hơn hoa cái vài ba ngày. Khoảng 35 ngày sau khi trồng hoa cái bắt đầu nở. Hoa nở vào buổi sáng sớm, thường thì hoa đực và hoa cái trên một cây nở hoa không cùng lúc mà hạt phấn chỉ thụ tinh trong vài giờ, vì vậy thụ phấn nhân tạo rất cần thiết để đảm bảo năng suất. Ngắt hoa đực, bỏ hết đài và cánh hoa, quét nhị đực lên nướm vòi nhụy. Không nên phun thuốc trừ sâu xông hơi mạnh trong thời gian chấm nụ. Mỗi cây thường để 1 - 3 trái tùy theo khoảng cách trồng và độ phì của đất.

e) Phòng trừ sâu bệnh
Cách phòng trừ sâu bệnh gây hại trên bí tương tự như trên dưa hấu, khổ qua hay các loại dây leo khác. Nhìn chung sâu bệnh gây hại trên bí đỏ không đáng kể, ít xảy ra, ít có tác hại lớn cho người canh tác.

5. Thu hoạch
Nếu ăn ngay hoặc tiêu thụ nhanh tại điạ phương có thể thu trái non (khoảng 30 ngày sau khi đậu trái), trái thu non hái được nhiều trái và dây lâu tàn. Nếu để dự trử lâu nên thu khi trái thật già vỏ cứng có màu vàng, có lớp sừng, có phấn, cuống vàng và cứng (khoảng 3 - 4 tháng sau khi trồng) tùy theo giống, dùng dao cắt cả cuống đem về bôi vôi vào mặt cắt giữ nơi thoáng mát. Năng suất 20 - 30 tấn/ha.

6. Để giống
Cần chọn trái đều đặn, nằm trên dây chính, thật già, vỏ cứng chắc, thu hoạch khi dây đã tàn, cất giữ trong nhà ít nhất 1 tháng mới bổ ra lấy hạt. Hạt được rửa sạch, phơi khô để vào chai kín cất giữ.

Thứ Tư, 8 tháng 8, 2012

Kỹ thuật trồng Bí Đao

Kỹ thuật trồng Bí Đao


Kỹ thuật trồng bí đao by BVCT | Ky thuat trong bi dao

I. Đặc tính sinh học
- Bí đao còn gọi là bí xanh, bí phấn hay bí đá. Quả làm thực phẩm phục vụ rau xanh hàng ngày cho mỗi gia đình. Ngoài ra bí xanh còn là nguyên liệu cho công nghiệp bánh kẹo, nước giải khát có giá trị xuất khẩu cao.

- Cây bí xanh là cây rau thuộc họ bầu bí có khả năng sinh trưởng phát triển khỏe, thích ứng rộng, chống chịu sâu bệnh rất tốt, trồng bí xanh ít phải dùng thuốc BVTV nên sản xuất bí xanh được coi là sản phẩm sạch.


- Do có lớp vỏ dày, cứng nên bí xanh có khả năng bảo quản, vận chuyển tốt nên bí xanh góp phần cung cấp cho các vùng thiếu rau và khả năng bảo quản là điều kiện cung cấp rau cho giai đoạn giáp vụ.

- Bí xanh cho năng suất 35 – 50 tấn/ha và là loại rau cho hiệu quả kinh tế cao.

II. Nguồn gốc sinh vật học của bí xanh
- Bí xanh là cây ưa ấm thuộc họ bầu bí. Nhiệt độ thích hợp từ 24 – 28 độ C. Măc dù vậy hạt có thể nảy mầm ở nhiệt độ 10 – 15 độ C nhưng tốt nhất là 25độ C ở giai đoạn cây con (vườn ươm), yêu cầu nhiệt độ thấp hơn khoảng 20 – 22 độ C. Song để cho quả phát triển bình thường thì lại cần cường độ ánh sáng giảm (vừa phải).

- Bí xanh có khả năng chịu hanjkhas nhờ hệ rễ khá phát triển. Thời kỳ cây con đến ra hoa cần yêu cầu độ ẩm đất 65 – 70%, thời kỳ ra hoa kết quả cần độ ẩm đất 70 – 80 %. Bí xanh chịu úng kém, thời kỳ phát dục ra hoa kết quả gặp độ ẩm lớn do mưa hoặc tưới không hợp lý sẽ gây vàng lá, rụng hoa, rụng quả, ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất.

- Bí xanh có thể làm việc ở vùng đất thịt vừa, hơi nặng song tốt nhất ở trên đất thịt nhẹ và phù sa, PH thích hợp 6,5 – 8,0.

III. Kỹ thuật trồng bí đao
1. Thời vụ có hai vụ gieo trồng chính
- Vụ thu: Gieo 20/8 – 5/10.

- Vụ đông xuân: Gieo 1/12 – 15/2.

2. Gieo hạt
- Lượng hạt cần gieo cho 1 ha khoảng 0,9 – 1,1 kg. Hạt nên ngâm từ 4 – 6 giờ rồi đem gieo.

- Gieo hạt trên luống, phủ hạt bằng lớp đất bột mỏng không nên phủ quá dày, hạt không đội lên được. Khi cây mọc được 7 – 8 ngày ( 2 lá mầm rõ) có thể sang bầu, kích thước bầu 7 x 10 cm, để đến khi cây 2 – 3 lá thật thì đem trồng là tốt nhất ( Bầu to 10 x 15cm có thể để cây đến 4 – 5 lá thật mới đưa ra trồng).

- Trồng bầu để tranh thủ thời gian và dễ chăm sóc cây con, đất làm bầu là đất hỗn hợp đất bột + phân mục theo tỷ lệ 1:1.

3. Làm đất
- Nếu làm dàn nên trồng luống rộng: 1,5 – 2,0m, khoảng cách trồng 40 – 50 x80 cm, cây cách cây 40 – 50 cm và hàng cách hàng 80cm. Nếu không làm dàn (cây bò trên mặt luống) nên luống rộng trên 3,5m, trồng 2 hàng giữa luống, khoảng cách trồng cây x cây = 40 – 50 cm, hàng trồng cách mép luống 15 – 20cm vì vậy hàng x hàng 2,5 – 3m.

- Lưu ý: Nếu trồng bí bò cần có rơm, rạ… phủ mặt luống cho bí bò và đỡ quả.

4. Phân bón
- Phân chuồng cần: 800 – 1.000kg/sào.

- Đạm Urê: 10 – 12 kg/sào.

- Lân Super: 15 – 18 kg/sào.

- Kali: 10 – 12 kg/sào.

- Bón lót: Toàn bộ phân chuồng + Lân + 1/4 Kali +1/4 Đạm.

- Thúc lần 1: Khi cây bắt đầu leo hoặc ngả ngọn bò ( Sau khi cây mọc 30 – 40 ngày ). Bón 1/4 Kali +1/4 Đạm.

- Thúc lần 2: Sau khi cây ra quả rộ, bón 1/3 Kali + 1/3 Đạm.

- Số phân còn lại hòa với nước phân chuồng loãng dùng để tưới khi thấy cây sinh trưởng, phát triển kém.

5. Các biện pháp chăm sóc khác
- Vun lần 1 kết hợp với bón thúc khi cây 30 – 40 ngày, vun lần 2 kết hợp với bón thúc khi cây ra hoa rộ (55 – 65 ngày sau trồng). Bí xanh ra nhiều nhánh, mỗi cây cần để 1 – 2 nhánh, mỗi nhánh cho đậu 1 – 2 quả, sau khi quả đậu 5 – 10 ngày có thể định quả sao cho mỗi gốc cây chỉ để 1 – 2 quả.

- Nếu để bí bò, khi cây dài 60 – 70 cm, dùng dây nilon gìm dây khỏi gió lật và tạo điều kiện ra dễ phụ ( bất định) tăng khả năng hút chất dinh dưỡng cho cây.

6. Phòng trừ sâu bệnh
Bí xanh ít phải phun thuốc, khi cây có 2 – 10 lá lục này cây non, mềm thường bị sâu xanh, rệp phá hoại. Dùng Ofatox 0,1 % hoặc dùng Oncol 20EC phun cho cây. Cây bị bệnh sương mai dùng Kasuzan, Zineb 80 WP, bệnh phấn trắng dùng Bavistyl nồng độ 0,25 % phun cho cây.

7. Thu hoạch
Bí xanh rất dễ tiêu thụ. Khi quả 50 – 60 ngày tuổi trở đi có thể thu làm bí rau rất tốt. Nếu tiêu thụ bí già hoặc để bảo quản thì khi quả xuất hiện phân trắng, cắt vào buổi sáng, để cả cuống, xếp cẩn thận nơi thoáng mát có thể bảo quản quả 1 – 2 tháng.
Theo nhanong.net

Thứ Năm, 5 tháng 7, 2012

Kỹ thuật trồng Bầu

Kỹ thuật trồng Bầu


Kỹ thuật trồng bầu by KNQG | Ky thuat trong bau

I. Tổng quan
- Cây bầu có nguồn gốc Châu Phi và Ấn Độ, ngày nay được trồng rộng rãi ở các nước vùng nhiệt đới và á nhiệt đới trên thế giới. Trái non là bộ phận sử dụng để luộc, nấu canh hay xào khi ăn hoặc thái nhỏ, phơi khô để ăn dần. Trái non chứa 90,7% nước, 0,7% đạm, 0,2% chất béo, 6,3% chất bột đường, 1,5% chất xơ và 0,6% chất khoáng. Tỉ lệ chất dinh dưỡng ở bầu kém hơn các cây khác trong họ nhưng thịt trái non ngọt, có tác dụng giải nhiệt, trừ độc, có thể chữa bịnh đái tháo và mụn lở. Hoa và hạt bầu cũng được sử dụng làm thuốc trong đông y. Vỏ trái già rất cứng dùng làm chai, lọ hay chế tạo đồ gia dụng. Ngoài ra bầu dễ trồng, sản lượng cao, thích hợp với điều kiện đất đai và khí hậu rộng rải nên được ưa chuộng trong sản xuất.


- Bầu là loại dây leo, có tua cuốn, phân nhánh. Thân được phủ nhiều lông mềm, có lá hình tim rộng, không xẻ thuỳ hay xẻ thuỳ hơi nông, hoa đơn tính.

- Bầu có nhiều giống nhưng trồng phổ biến ở vùng đồng bằng gồm có:
+ Bầu thước: Trái hình trụ, dài 60 - 80 cm, vỏ màu xanh nhạt, cho nhiều trái trên đất phù sa màu mỡ, trái chứa ít hạt, hạt già màu nâu, trơn, láng. Canh tác bầu thước phải làm giàn.
+ Bầu sao: Trái hình trụ, dài 40 - 60 cm, vỏ màu xanh đậm điểm những đốm trắng. Bầu sao thích nghi với điều kiện đất rộng rãi nên được trồng phổ biến hơn bầu thước. Một số nơi trồng bầu sao bò trên đất, bầu vẫn cho trái nhưng trái ngắn. Bầu sao chứa nhiều hột, hột già màu nâu sậm với nhiều lông tơ trắng.
+ Bầu thúng hay bầu nậm: Trái có hình dáng như cái bình với phần dưới phình to, trái nhiều ruột và hột nên ít được ưa chuộng trong sản xuất.
+ Bầu trắng: Trồng phổ biến ở Tiền Giang và vùng phụ cận thành phố Hồ Chí Minh. Bầu cho trái ngắn, từ 30 - 40 cm, hình trụ, kích thước đầu và cuối trái bằng nhau. Bầu trắng được ưa chuộng nhờ cho nhiều trái, từ 30 - 40 trái/cây, trái nhỏ vừa dễ mua và dễ ăn trong ngày, phẩm chất ngon. Bầu có thể trồng giàn hay bò đất.

II. Kỹ thuật trồng bầu
1.Thời vụ
Có thể trồng quanh năm. vụ mùa nắng cây ít bệnh và cho năng suất cao hơn mùa mưa.

2. Mật độ, khoảng cách
- Liếp rộng 0.7 m, tim liếp này cách tim liếp kia 1m, liếp cao 0,3 m (tuỳ theo mùa vụ và mực thuỷ cấp). Trồng 1 hàng, cây cách cây 0,8 m.

- Lượng hạt giống cần cho 1 ha: 300 – 400gr.

3. Cách trồng
Đào hốc kích thước 50 x 50 x 30 cm, hốc cách nhau 1m, bón nhiều phân chuồng hay phân cỏ hoai mục và khoảng 100 g phân hỗn hợp NPK cho mỗi hốc trước khi trồng.

4. Chăm sóc
a) Tưới nước, bón thúc
- Bầu cần nhiều nước, do đó phải tưới thường xuyên 1 - 2 lần/ngày cho đủ ẩm. Lượng nước tưới cần gia tăng khi bầu mang trái.

- Bón thúc cho bầu vào 2 giai đoạn cần thiết như sau:
+ Giai đoạn tăng trưởng: kể từ khi trồng đến khi bầu lên giàn (60 ngày sau khi trồng). Bón thúc thường xuyên mỗi tuần một lần để chuẩn bị cơ sở vật chất cho cây ra hoa kết trái.
+ Giai đoạn ra hoa, đậu trái: bón thúc nuôi trái 7 - 10 ngày một lần với lượng phân gia tăng dần để trái to và nhiều trái.
+ Trong suốt thời gian canh tác (130 - 140 ngày) mỗi hốc bón từ 1 - 1,5 kg phân hỗn hợp NPK.

b) Lấp dây, làm giàn
Trồng bầu giàn khi bầu mọc dài được 1m bắt đầu khoanh dây vòng gốc, lấy đất chặn lên ngay đốt, cách 1 - 2 đốt lại chặn đất để tranh thủ cho bầu ra rễ bất định, tăng khả năng thu hút dinh dưỡng nuôi trái sau nầy. Trồng được 2 tháng mới nương dây cho bầu leo giàn, cần để dây ở thế tự nhiên, không lật úp hay xoắn dây. Nên làm giàn bằng để bầu đủ diện tích bò, nếu dàn không thích hợp hay quá nhỏ không đủ để bầu bò, bầu cho ít trái hay thay đổi dạng trái và kích thước trái, không đạt tiêu chuẩn trái thương phẩm của giống. Bầu vừa lên giàn là trổ hoa đậu trái, 75 - 90 ngày sau khi trồng bầu bắt đầu cho thu hoạch.

c) Tỉa nhánh, bấm ngọn
Bầu ra nhiều dây nhánh và mang trái ở dây nhánh. Các dây nhánh ở đoạn thân từ gốc lên đến giàn nên tỉa bỏ để gốc được thoáng. Khi bầu lên giàn thì không tỉa nữa để dây nhánh cho trái. Lấy được trái trên nhánh nào thì bấm ngọn để trái phát triển lớn và bầu tiếp tục cho trái ở dây nhánh khác.

d) Phòng trừ sâu bệnh
- Sâu hại bầu gồm ruồi đục lòn lá (Lyriomyza spp.), rầy mềm (Aphis sp.), bọ rầy dưa (Aulacophora similis). Phun thuốc khi thấy các côn trùng nầy xuất hiện.

- Bệnh gây hại cho bầu thường gặp như bệnh héo cây con do nấm Rhizoctonia solani, bệnh khảm do virus, bệnh thán thư do nấm Colletotrichum lagenarium trong mùa mưa và bệnh phấn trắng do nấm Sphaerotheca fuliginea trong mùa khô. Trong thực tế do diện tích trồng ít, giá trị kinh tế của bầu không cao nên nông dân thường không phun ngừa thuốc trị bệnh, chỉ nhổ bỏ cây bịnh hay ngắt bỏ lá bệnh nếu có.

5. Thu hoạch và để giống
- Trái bầu phát triển 10 - 12 ngày sau khi trổ hoa là có thể thu hoach để ăn. Cắt trái khi vỏ còn mềm, trái thon dài, hạt bên trong vừa tượng là ngon. Không nên để trái già, Võ hạt bên trong đã cứng, ăn kém ngon và cây mau tàn. Nếu chăm sóc tốt giàn bầu 100 gốc cho thu trái 2 - 3 ngày/lần; lúc rộ thu hoạch mỗi ngày, thu liên tục 60 ngày bầu mới tàn. Mỗi gốc trung bình cho từ 10 - 15 trái, muốn lấy giống phải để trái già, dây nào để trái giống thì không cho trái tươi nửa.

- Chọn trái tốt gần gốc, giữ cho đến khi dây tàn, Vỏ trái chuyển sang vàng, hóa gổ. Thu trái giống về treo nơi thoáng mát cho hạt bên trong chín đầy đủ, cắt bỏ đầu và cuối trái, bổ phần giữa lấy hạt rửa sạch, phơi khô rồi cất giữ trong chai lọ kín.

Thứ Sáu, 8 tháng 6, 2012

Cách phòng bệnh ngù đọt ở Bầu

Cách phòng bệnh ngù đọt ở Bầu


Cách phòng bệnh ngù đọt ở bầu by Sở NN BT | Cach phong benh ngu dot o bau

Bầu là một loại rau được trồng phổ biến vì đây là loại cây trồng ngắn ngày, dễ trồng và mang lại lợi nhuận cao. Trên một số vùng trồng rau chuyên canh ở xã Hữu Định, Giao Long (huyện Châu Thành),… bầu là loại rau chiếm diện tích khá lớn. Tuy nhiên, hiện nay trên cây bầu nông dân rất quan tâm đến bệnh khảm (nông dân còn gọi là “ngù đọt”) vì bệnh này ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển của bầu, làm giảm năng suất nghiêm trọng.


1. Triệu chứng
- Bệnh ngù đọt thể hiện trên lá và toàn cây. Cây bị bệnh đọt non xoăn lại, lá nhạt màu và lốm đốm vàng loang lổ, các đốt thân co ngắn, dây chùn lại, phát triển chậm, trái ít và biến dạng, méo mó.

- Bệnh do virus gây ra. Virus gây bệnh khảm trên bầu tồn tại trong một số cây hoang dại do rệp và bọ trỉ là côn trùng môi giới lan truyền. Sự xuất hiện và phát triển của bệnh có quan hệ chặt chẽ với sự phát triển của bọ trỉ.

- Bọ trỉ là một loại côn trùng rất phổ biến trên bầu, ngoài tác hại truyền bệnh virus chúng còn chích hút nhựa cây làm cho đọt và lá non bị xoăn lại, có nhiều đốm nhỏ màu vàng nhạt, dây bầu kém phát triển rõ rệt. Mật số bọ trỉ cao làm dây bầu cằn cỗi, chùn đọt, không vươn lóng, lá vàng và khô, hoa rụng, trái ít và nhỏ. Bọ trỉ trưởng thành rất nhỏ dài khoảng 1 mm, có màu vàng hơi nâu với hai đôi cánh dài, hẹp, cả hai đôi cánh đều có tua ở rìa với cấu trúc giống như lông. Ấu trùng có màu vàng nhạt, hầu như trong suốt khi mới nở và giống như con trưởng thành nhưng nhỏ hơn và không có cánh. Bọ trỉ là côn trùng sống thành đàn nên mật số rất cao trên lá. Bọ trỉ sống tập trung đọt non hay mặt dưới lá non. Con trưởng thành chỉ có thể bay một khoảng cách ngắn nhưng có thể phân tán trên phạm vi rộng nhờ gió. Trứng được đẻ mặt dưới lá, khi nở ấu trùng sẽ di chuyển đến các lá non. Vòng đời bọ trỉ ngắn, trung bình 15 - 18 ngày. Bọ trỉ chích hút đọt non và truyền bệnh virus cho cây. Mức độ nhiễm bệnh của các giống cây có khác nhau.

- Ngoài tự nhiên Bọ trỉ có thể bị tấn công bởi một số thiên địch như Bọ cánh lưới (Chrysopha sp), Ong ký sinh,...

2. Biện pháp phòng bệnh
Đối với bệnh virus không có thuốc trị nhưng các biện pháp phòng bệnh mang lại hiệu quả cao. Nên áp dụng tổng hợp các biện pháp như:
- Vệ sinh đồng ruộng, dọn sạch cỏ dại trong ruộng bầu và xung quanh;

- Không nên trồng liên tục các loại cây mẫn cảm vì bọ trỉ có thể lây lan rất nhanh nếu có nguồn thức ăn liên tục;

- Không nên trồng bầu cạnh những cây đã bị nhiễm bọ trỉ;

- Nhổ bỏ và tiêu huỷ cây bị nhiễm bệnh khảm;

- Phun thuốc hoá học để trừ bọ trỉ (côn trùng môi giới). Sử dụng một trong các loại thuốc sau: Confidor 100SL, Map Go 20ME, Actara 25WG,… phun kỹ phần đọt non vì bọ trỉ trú ngụ trên lá non. Bọ trỉ là loại côn trùng rất mau kháng thuốc nên cần sử dụng thuốc luân phiên.

* Lưu ý: Bầu là loại rau được thu hoạch liên tục nên khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cần chọn lọc những loại thuốc ít độc, có thời gian cách ly ngắn. Tuyệt đối bảo đảm đúng thời gian cách ly để an toàn cho sức khoẻ người tiêu dùng.

Thứ Tư, 6 tháng 6, 2012

Cách phòng bệnh Sương Mai hại Dưa Leo

Cách phòng bệnh Sương Mai hại Dưa Leo


Cách phòng bệnh sương mai hại dưa leo by Sở NN BT | Cach phong benh suong mai hai dua leo

Dưa leo là một trong những loại rau được trồng phổ biến và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Dưa leo được trồng quanh năm, nhưng trong mùa mưa thuận lợi hơn vì đỡ tốn công tưới nước. Tuy nhiên, trồng dưa leo vào những tháng mưa có nhiều loại sâu bệnh gây hại, trong đó bệnh sương mai là bệnh quan trọng nhất, ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng và năng suất dưa leo.


1. Triệu chứng bệnh
- Bệnh gây hại phổ biến trên lá, xuất hiện từ lúc cây được 3 lá thật đến cuối vụ. Bệnh thường bắt đầu từ tầng lá phía dưới rồi lan dần lên trên. Bệnh xuất phát từ mặt dưới lá.Vết bệnh rãi rác khắp mặt lá. Đặc trưng vết bệnh hình đa giác góc cạnh rất rõ. Sáng sớm quan sát kỹ mặt dưới lá có lớp bụi màu hơi tím, sũng ướt và dễ mất đi dưới ánh sáng mặt trời. Đây là đặc điểm dùng để nhận biết bệnh này trực tiếp từ đồng ruộng. Lớp bụi này chính là cơ quan sinh sản của nấm và phát tán nhờ gió. Khi già vết bệnh đổi màu cam đến nâu đỏ đến nâu sậm, xung quanh vết bệnh có viền vàng. Lá bệnh khô và rách, lá co rúm lại. Lá bị bệnh khô vàng, rụng đi, trên cây chỉ còn lại những lá non, cây phát triển kém, trái nhỏ. Bệnh có thể lây lan sang cả thân, cành, hoa và trái. Bị nặng cây có thể chết.

- Bệnh do nấm Pseudoperonospora cubensis gây ra. Bệnh phát sinh phát triển nhanh trong điều kiện ẩm độ không khí cao, trời râm mát, đặc biệt là buổi sáng có sương mù lúc đó bệnh có thể tấn công cả lá non ở tầng trên. Nếu thời tiết khô hanh, bệnh lây lan chậm và chỉ xuất hiện ở tán lá dưới. Bệnh xuất hiện quanh năm trên ruộng dưa, nhưng nặng nhất là trong mùa mưa. Trong một vụ, bệnh thường gây hại nặng giai đoạn trổ hoa đến mang trái.

2. Biện pháp phòng trị
- Chọn giống kháng bệnh.

- Không trồng liên tục nhiều vụ dưa trong năm để hạn chế sự tích tụ nguồn bệnh cho vụ sau.

- Sau khi thu hoạch, dọn sạch tàn dư cây trồng.

- Tỉa bỏ những cành nhỏ vô hiệu, làm thông thoáng giàn dưa, làm sạch cỏ gốc để hạn chế sự lây lan.

- Ngắt bỏ bớt các lá già và lá bệnh, dùng màng phủ nông nghiệp, không để lá tiếp xúc với mặt đất.

- Sử dụng các loại thuốc hóa học như : Ridomil Gold 68WP, Daconil 500 SC, Belkute 40WP,… hoặc có thể ngừa bằng những loại thuốc gốc đồng như : Champion 77WP, COC 85WP,…phun khi cây dưa có 3 - 4 lá thật.

* Lưu ý: nên phun ướt đều 2 mặt lá chủ yếu là mặt dưới lá, phun 2 - 3 lần , mỗi lần cách nhau 7 - 10 ngày. Nếu sử dụng thuốc gốc đồng phải phun đúng nồng độ thuốc được khuyến cáo, không phun quá liều vì lá dưa rất mẫn cảm với đồng. Dưa leo là loại rau ăn tươi và được thu hoạch liên tục vì thế khi sử dụng thuốc hóa học nên đảm bảo đúng thời gian cách ly để an toàn sức khỏe cho người tiêu dùng.

Thứ Tư, 16 tháng 5, 2012

Kỹ thuật trồng Mướp Hương

Kỹ thuật trồng Mướp Hương


Kỹ thuật trồng mướp hương by C.ty TKC | Ky thuat trong muop huong

1. Thời vụ
- Có thể trồng quanh năm: Ở miền Nam: vụ chính Đông Xuân, Xuân Hè. Ở miền Trung: vụ chính từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau.

- Trồng vào mùa mưa nên làm giàn như giàn bầu để cho mướp leo tránh trái bị thối do tiếp xúc với đất ẩm.


2. Đất đai
Đất thịt pha cát là tốt nhất, vùng đất phải được thoát nước tốt, độ pH thích hợp từ 6 – 6,5, nếu độ pH < 6 phải tăng lượng phân bón vôi, vụ trước không trồng các cây thuộc họ bầu bí (dưa leo, dưa hấu, bí rợ,…). 3. Mật độ khoảng cách trồng
Trồng giàn: Cây cách cây trên hàng: 0,8 – 1m, hàng đôi cách hàng đôi: 4,5 – 5m

4. Xử lý ngâm ủ hạt giống
a) Ngâm ủ hạt giống
Kỹ thuật ngâm ủ hạt giống: Trước khi ngâm hạt giống, cẩn phải phơi nắng nhẹ khoảng 2 giờ để hạt khô, hút nước mạnh, nẩy mầm tốt. Cho hạt vào túi vải (túi lưới) ngâm trong nước sạch (2 sôi 3 lạnh) từ 3 – 3,5 giờ (nên để hạt chìm hoàn toàn trong nước). Vớt hạt lên để ráo nước, dùng khăn sạch vắt thật ráo nước, gói hạt giống lại. Cuối cùng cho khăn vào bao nylon (polyethylene) cột miệng cho kín tránh bốc thoát hơi nước, ủ hạt ở nhiệt độ từ 280C – 300C là thích hợp nhất. Sau khi ủ khoảng 2 – 3 giờ nên mở gói ủ ra vắt ráo nước khăn ủ một lần nữa (nếu dư nước hạt sẽ không nẩy mầm) sau đó cho hạt vào ủ tiếp tục như quy trình trên. Thông thường hạt bắt đầu nẩy mầm khoảng 20 – 28 giờ sau khi ủ.

b) Gieo hạt
- Hạt mướp bắt đầu nẩy mầm nên tiến hành gieo ngay. Tùy theo thời vụ mà ta có thể gieo thẳng ngoài đồng hoặc gieo vô bầu.

- Vào mùa nắng nên gieo thẳng ngoài đồng để cây phát triển mạnh hơn và đỡ tốn công vô bầu đem trồng. Tuy nhiên liếp ngoài đồng phải chuẩn bị thật tốt, nhất là lỗ gieo phải tơi xốp và xử lý thuốc phòng trừ sâu bệnh đầy đủ và tưới nước định kỳ đủ ẩm để cây phát triển tốt.

- Vào mùa mưa nên gieo vô bầu bằng lá chuối hoặc bằng bao nylon nhỏ để phòng mưa nhiều ta có thể dùng dàn che mưa, hạn chế thừa nước bị thối mầm. Đất vô bầu ở vùng đất cát pha thịt, trộn theo tỷ lệ như sau: 70 % đất mặt, 30 % phân chuồng hoai, 0,5 – 1 % lân và 0,2 – 0,5 % vôi nông nghiệp. Sau khi trộn đều nên sàng qua một lượt để loại bỏ cục đất to và rác. Nếu vùng đất đồng bằng Sông Cửu Long (có nhiều sét) thì thêm 10 – 20 % tro trấu, giảm 10 – 20 % đất mặn. Nên trộn thêm phân vi sinh ra rễ Bảo Đắc giúp cây con phát triển tốt và ngừa chết cây.

- Để tiết kiệm hạt giống, vì hạt giống F1 khá đắt so với giống chọn lọc nên gieo một hạt nảy mầm vào một bầu và gieo thẳng ngoài đồng 1 hạt mầm/1 hốc và cần phải gieo thêm một lượng bầu cây con dự phòng trồng dặm sau khi trồng (thông thường theo tỷ lệ 10 – 15% tổng số cây ngoài đồng). Cách gieo: dùng que nhỏ khoét 1 lỗ nhỏ giữa mặt bầu hoặc trên mặt líp gieo (lỗ ngang bằng chiều ngang hạt, chiều sâu lỗ tương đương chiều dài hạt cộng thêm rễ mầm), dùng tay hoặc kẹp gắp đặt hạt giống có đầu rễ mầm hướng xuống đất và thẳng góc với mặt bầu, phía chóp hạt ngang bằng với hạt bầu, sau đó lấp một lớp đất (trộn với 50 % đất mặt + 50 % phân chuồng hoai đã sàng kỹ) mỏng, rải trên mặt từ 20 – 30 hạt thuốc trừ sâu Basudin hoặc Furadan để phòng trừ sâu, kiến mối. Cuối cùng dùng thùng bông sen tưới đủ ẩm qua một lượt.

- Thông thường, cây trong bầu vừa nhú lá nhám (lá thật) là bắt đầu đem trồng ngay ngoài đồng, nếu chậm trễ bộ rễ ăn lan ra ngoài bầu khi đem trồng cây đứt nhiều rễ làm cây lên yếu hoặc dễ chết cây ngoài đồng.

* Lưu ý: Sau khi xuống giống được 7 – 8 ngày nên sử dụng phân vi sinh ra rễ Bảo Đắc giúp cho bộ rễ phát triển mạnh, đồng thời tăng khả năng kháng chịu bệnh cho cây giai đoạn sau.

5. Làm đất
Đất phải được cày xới tơi xốp, sạch cỏ, rải vôi, cày luống rải phân lót, rải thuốc Furadan, lên luống lấp phân như trồng dưa hấu, trải bạt plastic, vô nước, cân mặt bằng, ổn định mô, đục lỗ trồng.

6. Phân bón lót cho 1.000m2
- Phân chuồng hoai: 1 – 2 m3.

- Phân vi sinh: 20kg.

- Vôi rải trước theo hàng (băng, líp): 40 – 60 kg.

- NPK 20-20-15: 30 – 40 kg.

- Furadan hạt rải theo hàng: 3 kg.

7. Chăm sóc
- Sau trồng 5 – 6 ngày tưới phân loãng (ngâm DAP hòa loãng) vào quanh gốc.

- Thúc lần 1: (30 ngày sau gieo) Lượng phân NPK 20-20-15: 40 – 50 kg.

- Khi bắt đầu thu hoạch, rải phân thúc lần 2 ở mương tưới. Lượng phân NPK 20-20-15: 10 – 15 kg.

- Sau 10 – 15 ngày, rải phân thúc lần 3, NPK 20-20-15: 10 – 20 kg ở mương tưới giống như đợt trước.

- Chế độ tưới nước: dẫn nước vào mương tưới thấm, mướp rất sợ úng nước, mương tưới bị đọng nước lâu quá 10 giờ phải khai thông thoát nước. Do đó đất cần phải được thoát nước tốt. Tưới nước đều đặn theo chu kỳ, tùy theo độ bốc thoát hơi nước, độ ẩm của đất.

- Làm cỏ: nhổ cỏ xung quanh gốc mướp bằng tay hoặc phun thuốc diệt cỏ như Onecide.

- Làm cỏ dưới mương tưới: có thể làm cỏ bằng tay hoặc phun thuốc diệt cỏ Gramoxon hoặc NuFarm. Phun các loại thuốc này cần phải dùng loa che béc phun để tránh thuốc dính vào lá hoặc thân cây mướp khỏi bị cháy hoặc chết khô.

8. Phòng trừ sâu bệnh
a) Sinh vật gây hại: Các loại côn trùng phá hại quan trọng và cách phòng trừ như sau:


b) Bệnh hại: thường xuất hiện các bệnh trên mướp hương như sau:


9. Thu hoạch
Thu hoạch khi trái còn non, trọng lượng trái trung bình 0,3 – 0,5 kg, không thu trái to hơn 0,5 kg vì rất khó bán, xếp nhẹ nhàng trái vào giỏ tránh bị xây xát và vận chuyển đến nơi tiêu thụ.

Kỹ thuật trồng Mướp Khía

Kỹ thuật trồng Mướp Khía


Kỹ thuật trồng mướp khía by NN VN | Ky thuat trong muop khia

Mướp khía còn gọi là mướp Tàu, tên khoa học Luffa acutangula (L.) Roxb, thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae).


1. Tổng quan
- Cây thân leo dài khoảng 3 - 6m, phân nhánh nhiều, đường kính thân khoảng 2cm, có nhiều rãnh. Lá đơn mọc so le, màu lục, dạng tim, dài 15 - 30cm và rộng khoảng 25cm, mép lá có răng to, có tua cuốn chia thành 5 nhánh. Hoa đơn tính, các hoa đực mọc thành chùm, hoa cái mọc đơn, có bao hoa như hoa đực. Quả lớn hình chùy dài 30 - 40cm, đường kính 7 - 10cm, có 10 cạnh nhọn dọc theo thân quả. Hạt chín màu đen, sần sùi.

- Theo Đông y, xơ mướp dùng trị gân cốt tê đau, đau ngực sườn, bế kinh, sữa không thông, viêm tuyến sữa, thuỷ thũng. Lá dùng trị ho, ho gà, nắng nóng khát nước vào mùa hè, đắp tại chỗ trị trĩ và phong hủi, dùng ngoài trị chảy máu ở các vết thương, chốc lở, bệnh mụn, ở Ấn Độ người ta dùng dịch lá tươi trị đau mắt hột. Hạt dùng trị ho nhiều đờm, sát trùng và đi tiểu khó. Thân dùng trị đau thắt lưng, ho, viêm mũi, viêm khí quản. Rễ dùng trị viêm mũi, viêm các xoang phụ của mũi, nấu nước rửa chỗ lở ngứa chảy nước.

2. Kỹ thuật trồng mướp khía
- Có nhiều giống mướp khía khác nhau, chúng tôi xin giới thiệu một số giống cho năng suất, chất lượng cao như mướp khía cao sản NP - 11: Dễ trồng, cây phát triển tốt, nhiều nhánh hữu hiệu, quả nù, suôn dài 30 - 35 cm, mùi thơm và không bị đắng, năng suất 8 - 10 kg/gốc và thời gian thu hoạch 38 - 40 ngày sau gieo. Mướp khía F1 Long NP - 13: Dễ trồng, cây phát triển rất khỏe, nhiều nhánh hữu hiệu, quả nù, suôn dài 40 - 35 cm, mùi thơm, không bị đắng, năng suất 15 - 20 kg/gốc và thời gian thu hoạch 40 - 50 ngày sau gieo. Mướp khía F1 Long NP - 14: Đặc tính tương tự như NP - 11, nhưng quả dài 50 - 55 cm, năng suất cao. Mướp khía TN 220: Quả thẳng dài 30 - 40 cm, màu xanh hấp dẫn, ruột trắng, mềm, ăn ngon ngọt và thời gian thu hoạch khoảng 50 ngày sau khi gieo…

- Đất trồng phải tơi xốp, sạch cỏ. Mùa nắng nên lên líp thấp, mùa mưa phải được lên líp cao và có rãnh thoát nước tốt nhằm cây không bị úng chết (nếu có điều kiện nên phủ nylon trên mặt luống để chống cỏ dại, giữ ẩm mùa khô và chống úng trong mùa mưa). Khoảng cách, mật độ và cách trồng: Khoảng cách hàng đôi cách hàng đôi 4,5 - 5 m, cây cách cây trên hàng 1m. Mật độ trung bình 400 - 500 cây/1.000m2.

- Làm giàn giống như mướp hương. Trước khi ngâm ủ hạt giống nên phơi nắng hạt giống 1 - 2 giờ để hạt hút nước mạnh, nẩy mầm tốt. Ngâm trong nước sạch khoảng 3 - 4 giờ, vớt hạt lên để ráo nước, dùng khăn sạch đã vắt nước, gói hạt lại và cho vào bao nylon cột kín miệng để tránh bốc thoát hơi nước, ủ ở nhiệt độ 28 – 30 độ C.

- Làm bầu và ươm hạt: Bầu đất nên theo tỉ lệ 1 phần phân chuồng hoai + 1 phần tro trấu + 2 phần đất tơi xốp, trộn thêm phân vi sinh. Bầu thường làm bằng lá chuối hoặc bao nylon (kích thước 7x9 cm) có đục một số lỗ thoát nước ở đáy bầu, sau đó gieo hạt vào bầu. Khi cây được 1 - 2 lá thật có thể đem ra trồng ngay.

- Phân bón (tính cho 1.000 m2): Bón lót khoảng 100 kg phân hữu cơ khoáng Vedagro dạng viên + 50 kg super lân. Bón thúc loại phân NPK 20-20-15, lần 1 sau gieo 30 ngày bón khoảng 40 kg. Lần 2 sau gieo 40 ngày khoảng 10 - 15 kg. Lần 3 sau gieo 50 ngày khoảng 10 - 15 kg và lần 4 sau gieo 60 ngày khoảng 10 - 15 kg. Ngoài ra có thể phun thêm phân bón lá có chứa các chất dinh dưỡng trung và vi lượng. Nếu chăm sóc tốt, thời gian thu hoạch có thể kéo dài khoảng 30 ngày và năng suất có thể đạt từ 3.500 - 4.000kg/1.000m2. Chú ý về mùa nắng, nhiệt độ cao nên tưới đủ nước để cho năng suất cao và chất lượng trái được ngon ngọt, nếu tưới không đủ nước trái sẽ bị đắng.

Thứ Ba, 15 tháng 5, 2012

Kỹ thuật trồng Dưa Leo

Kỹ thuật trồng Dưa Leo


Kỹ thuật trồng dưa leo by C.ty BKC | Ky thuat trong dua leo

Cây dưa leo phát triển thích hợp ở vùng nhiệt đới, nhiệt độ ngày thích hợp cho dưa tăng trưởng là 30 độ C và nhiệt độ ban đêm 24 – 26 độ C. Ở các tỉnh miền Nam và miền Trung có thể trồng dưa leo quanh năm.


1. Thời vụ
Cây dưa leo phát triển tốt trong mùa mưa hơn mùa khô, các vụ trồng có những thuận lợi và khó khăn khác nhau:
- Vụ Hè Thu: gieo vào tháng 4, 5, 6 mùa này đễ trồng dưa cho năng suất cao, ít sâu bệnh, ít tốn công tưới nước.

- Vụ Thu Đông: gieo vào tháng 7, 8, 9 mùa này mưa nhiều, đậu trái kém dễ bị bệnh đốm phấn.

- Vụ Đông Xuân: gieo vào tháng 10, 11, 12 vụ này ít mưa, thường có dịch bọ trĩ, sâu vẽ bùa và bệnh đốm phấn nên phải có biện pháp phòng trừ tốt.

- Vụ Xuân hè: gieo vào tháng 1, 2, 3 mùa này không mưa, nhiệt độ cao, nếu tưới không đủ nước cây sinh trưởng kém, trái thường bị đắng, bọ trĩ sâu xanh thường xuất hiện nhiều, ảnh hưởng năng suất rất lớn.

2. Chuẩn bị đất
- Đất 3 năm trước đó không trồng họ bầu bí như dưa leo, dưa hấu, khổ qua, bí đỏ,… là tốt nhất, không trồng gần những ruộng dưa gần tàn vì nếu không sẽ bị nhiễm sâu bệnh làm thất thu năng suất.

- Đất trồng không bị phèn mặn, độ pH thích hợp từ 6 – 6,5, nếu độ pH thấp hơn 5,5 phải bón thêm vôi để tăng độ pH thích hợp. Cây dưa phát triển tốt ở đất pha cát, đất thịt nhẹ thoát nước tốt, có nhiều chất hữu cơ. Vì rễ dưa leo yếu có thể được phủ Plastic hay rơm rạ để giữ ẩm cho đất.

3. Khoảng cách trồng
- Tùy theo thời vụ, mùa mưa hay nắng

- Tùy theo giống lai F1, hay giống thường (giống thụ phấn tự do)

- Tùy theo giống ra chèo được nhiều hay ít.

a. Đối với các giống dưa leo lai F1:
- Trồng bò giàn: hàng cách hàng 1,2m, cây cách cây trên hàng 50 – 55cm. Mật độ trồng từ khoảng 1.700 cây/1.000m2

- Trồng bò đất: hàng đôi cách hàng đôi 4,2 – 4,5m, cây cách cây trên hàng 50 – 55cm. Mật độ trồng từ khoảng 1.000 cây/1.000m2.

- Đối với giống dưa leo có nhiều nhánh (nhiều chèo) trồng vào mùa mưa thì khoảng cách cây cách cây trên hàng tăng thêm 10 cm.

b. Đối với các giống dưa leo chọn lọc (giống thụ phấn tự do):
- Trồng bò giàn: hàng cách hàng 1,2m, cây cách cây trên hàng từ 40 – 45cm. Mật độ trồng từ khoảng 2.000 cây/1.000m2.

- Trồng bò đất: hàng đôi cách hàng đôi 4,2 – 4,5m, cây cách cây trên hàng 40 – 45cm. Mật độ trồng từ khoảng 1.200 cây/1.000m2.

4. Gieo hạt
- Lượng giống gieo trồng trên 1.000m2 cần phải có từ 70 – 100g, tùy thuộc vào độ lớn của hạt giống, khoảng cách trồng, mật độ trồng.

- Ngâm ủ hạt giống: ngâm hạt giống trong nước sạch không bị phèn mặn khoảng 4 giờ, sau đó vớt hạt, rửa sạch nhớt, để thật ráo nước, để hạt vào khăn ẩm gói vào bao nylon (polyethylene) cột kín miệng đem ủ hạt ở nhiệt độ từ 29 – 31 độ C, thường xuyên kiểm tra nhiệt độ và độ ẩm của hạt, 1 – 2 giờ sau ủ mở gói hạt lấy khăn ủ vắt lại cho ráo nước nếu dư nước hạt bị hư không nẩy mầm. Thông thường sau khi ngâm khoảng 24 – 30 giờ hạt bắt đầu nảy mầm. Chọn hạt nứt nanh (nẩy mầm đem gieo), ủ lại những hạt chưa nảy mẩm.

- Gieo giống: Có 2 cách gieo:
+ Gieo thằng ngoài đồng
. Ưu điểm: là cây mọc mạnh hơn, ít tốn công lao động hơn.
. Nhược điểm: khó chăm sóc quản lý hơn vì gieo ngoài đồng trên diện tích rộng nếu gặp mưa hoặc sâu bệnh thì không chủ động được. Phải chuẩn bị đất gieo tốt thì tỷ lệ cây chết sẽ ít. Dùng phân chuồng hoai mục bỏ vào lỗ gieo, đất phân giải được trộn đều để cây con mọc mạnh.
.Tuy nhiên cũng cần gieo hạt vô bầu, khoảng 10 – 15% so với tổng số cây để dự phòng, trồng giậm cây chết ngoài đồng.

+ Gieo vào bầu
. Ưu điểm: dễ chăm sóc cây con hơn, chủ động trong việc phòng trừ sâu bệnh và vật hại như chuột phá hại.
. Nhược điểm: tốn nhiều công lao động đem cây con trồng ngoài đồng, cây con phát triển chậm hơn gieo thẳng.
. Bầu làm nylon (polyethylene) hoặc lá chuối thành phần gồm đất mặt tơi xốp khoảng 60%, 30% phân chuồng hoai mục và 10% tro trấu, ở đất pha cát tùy theo mức độ cát pha mà ta giảm bớt tỉ lệ tro trấu lại. Riêng vùng đất Đồng bằng Sông Cửu Long thì phải sử dụng tro trấu ở tỉ lệ cao.

* Lưu ý: Khi gieo hạt thì cho đầu rễ hướng thẳng góc xuống đất, chiều cao lỗ gieo bằng chiều dài hạt cộng với chiều dài rễ mầm, nghĩa là đầu hạt ngang bằng với mặt đất. Sau đó dùng phân chuồng sàng kỹ lấp hạt, rải Basudin hạt phòng trừ kiến, dế, sâu đất…
Sau khi gieo thẳng ngoài đồng từ 5 – 6 ngày (hoặc 2 – 3 ngày sau khi trồng), cần tiến hành trồng giậm lại những cây đã chết, nên nhanh chóng trồng giậm liên tục để đảm bảo mật độ cây trồng.

5. Bón phân
- Kết hợp bón phân, làm cỏ, vun gốc lấp phân. Lượng phân bón tính trên diện tích 1.000m2 (áp dụng cho dưa leo bò giàn).

- Bón vôi nông nghiệp: lượng bón từ 30 – 50 kg tùy theo độ pH rải vôi đều trên mặt ruộng, kết hợp cày bừa đất tơi xốp. Bón vôi nên trước bón lót ít nhất 10 ngày.

- Bón lót: lúc làm đất, chôn toàn bộ phân chuồng và bỏ lỗ lúc gieo hạt, tổng cộng khoảng 2 – 3m3

- Bón thúc: tùy tình hình cây phát triển giữ 2 lần bón thúc và sau bón thúc lần 4, nên tưới phân DAP hoặc NPK 16 – 16 – 8, hoặc phun phân bón lá Báo Đắc bổ sung để cho cây phát triển tốt nhất. Dưới đây là loại bón và lượng bón cụ thể như sau: bón phân vào mùa mưa:
+ Bón thúc đợt 1: 10 ngày sau gieo: 3kg DAP + 2kg Urê + 1kg KCl
+ Bón thúc đợt 2: 15 – 20 ngày sau gieo: 19kg DAP + 12kg Urê + 7kg KCl
+ Bón thúc đợt 3: 30 ngày sau gieo: 20kg DAP + 12kg Urê + 8kg KCl
+ Bón thúc đợt 4: 40 ngày sau gieo: 10kg DAP + 6kg Urê + 4kg KCl
+ Bón thúc đợt 5: 50 ngày sau gieo: 10kg DAP + 6kg Urê + 4kg KCl

- Nếu trồng vào mùa khô, thời gian giữa 2 lần bón dài hơn và số lần bón ít hơn, tuy nhiên lượng phân bón không thay đổi.

- Nếu trồng dưa leo có trải bạt, ngoài bón lót có phân chuồng, phải bón thêm phân hóa học khoảng 40% lượng phân cả vụ, các lần bón thúc cần rải phân dưới đường mương sau khi dẫn nước vào.

6. Tưới nước
- Lượng nước tưới và số lần tưới tùy thuộc vào ẩm độ đất. Vào mùa nắng tưới nước 2 lần/ngày: buổi sáng và chiều mát. Nếu trồng dưa có trải Plastic một chu kỳ tưới có thể 2 – 3 ngày tưới 1 lần, cách tưới dẫn nước vào mương tưới thấm. Nếu cây thiếu nước cây phát triển kém, khó đậu trái, trái phát triển không bình thường, chất lượng thương phẩm kém có thể thịt trái bị đắng.

- Nếu thừa nước năng suất giảm, lá bị vàng, bị chết héo do bộ rễ không phát triển được.

7. Làm giàn cho dưa bò
Khi cây dưa bắt đầu vươn ngọn chuẩn bị bò khoảng 15 – 20 ngày sau khi gieo, có nghĩa là sau bón thúc lần thứ 2, nên tiến hành cắm le làm giàn, dùng cây le dài khoảng 2,5 – 3 m, cắm thành hình chữ A, chiều dài giàn tùy theo thiều dài của líp, dàn cây le thả lên nóc và 2 bên hông hình chữ A có cột dây, cần dùng cây cắm chéo gốc cắm đỡ 2 đầu líp để đề phòng gió, sau đó phủ lưới nylon mắt lưới rộng 20cm lên giàn để cho dưa leo bò.

8. Phòng trừ sâu bệnh
- Sâu hại quan trọng gốm có:

- Bệnh hại quan trọng gồm có:


9. Thu hoạch
Thời gian từ gieo đến bắt đầu thu hoạch tùy giống, thu hoạch lúc trái còn non, trái da láng có màu xanh non, có thể thu hoạch hàng ngày hoặc thu cách ngày một lần, tùy theo yêu cầu của thị trường cần kích thước trái nhỏ hay trái lớn. Số lần thu hoạch một trà dưa có thể từ 15 – 25 lần. Năng suất trái thông thường có thể đạt như sau:

- Giống thường (giống thụ phấn tự do): 2 – 3 tấn/1.000m2.

- Giống lai F1: 4 – 6 tấn/1.000 m2.

Kỹ thuật trồng Mướp

Kỹ thuật trồng Mướp


Kỹ thuật trồng mướp by Hội Nông Dân | Ky thuat trong muop

I. Tổng quan
- Có nhiều loại mướp: mướp trâu, mướp hương, mướp khía, …

- Mướp là cây thân thảo, leo.


- Lá mọc so le, hình tim, có 5 – 7 thuỳ có răng.

- Quả dài 25 – 30 cm hoặc hơn tuỳ giống. quả không khía, không có góc.

- Hoa đơn tính.

- Dùng để nấu canh hay xào.

II. Kỹ thuật trồng mướp
2.1. Thời vụ
- Gieo từ tháng 2 đến tháng 6 hằng năm.

- Khi cây có 2 – 3 lá thật thì đem trồng.

2.2. Làm đất, bón lót và gieo hạt
- Đất được cày, bừa kỹ và lên luống. Luống rộng 2,5m

- Bón lót:
+ 20 tấn phân chuồng/ha
+ 120 kg lân
+ 30 kg kali

- Gieo hạt: Rạch hàng, mỗi luống rạch 1 hàng, chọt lỗ để gieo hạt, mỗi lỗ 2 - 3 hạt, mỗi lỗ cách nhau 30 cm. Khi cây có lá thật, tỉa bớt chừa lại 2 cây.

2.3. Chăm sóc
- 2 tháng sau khi gieo hạt tiến hành vun xới lại đất kết hợp với tỉa cây.

- Lượng phân bón thúc cho mướp. (Lưu ý: cây xấu thì mới bón phân)
+ NPK 300 kg.
+ Urê 200 kg.
+ Kali 30 kg.

- Thời gian bón: chia đều lượng phân cho nhiều lần bón.
+ Khi cây được 20 ngày thì bón thúc bằng nước phân pha loãng.
+ Sau đó 20 ngày lại bón thúc lại (lúc cây có hoa).

- Nước tưới: Tưới nước nhằm để hạn chế sự bốc thoát hơi nước và cỏ dại nên sử dụng màng phủ nông nghiệp. Tưới nước 1 lần/ngày.

- Khi cây cao 20 cm phải cắm mỗi hốc 1 cây để mướp leo lên giàn. Làm giàn khi cây bắt đầu xuất hiện 3 lá thật thì làm giàn cho dây mướp leo. Cũng có thể làm giàn trước khi cây có tua. Làm giàn mái bằng. Mái giàn làm bằng dây thép lớn để đỡ quả. Khi cây có quả phải nương quả, thả thõng quả xuống giàn cho quả thẳng, đẹp.

- Sửa dây: Khi dây leo lên giàn, cần sửa dây phân bố đều, tỉa bỏ nhánh nhỏ, sâu bệnh giúp giàn thông thoáng, giảm sâu bệnh hại. Khi mướp đã lên giàn thì tỉa bỏ hết lá chân.

2.4. Thu hoạch
Từ lúc gieo hạt đến khi thu hoạch khoảng 80 – 100 ngày (tuỳ theo giống).

Bài đăng phổ biến