Hiển thị các bài đăng có nhãn Cây Ăn Trái. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cây Ăn Trái. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 25 tháng 9, 2012

Sầu riêng bị thối trái - Cách phòng

Phòng trừ bệnh thối trái sầu riêng

Sầu riêng đã từng được mệnh danh là “nữ hoàng” của các lọai cây ăn trái. Có lẽ, ngoài “mùi vị đặc biệt” của trái mà không có loại trái cây nào sánh bằng, chúng còn là lọai cây “khó tính” mà không phải vùng đất nào cũng có thể trồng được. Trong những năm gần đây, phong trào trồng mới và thâm canh sầu riêng đang được đặc biệt chú trọng, do hiệu quả kinh tế cao. Do đó, giải quyết vấn đề sâu bệnh cũng là một thách thức đối với nông dân, trong đó đáng quan tâm nhất là bệnh thối trái.

Bệnh thối trái do nấm Phytophthora  palmivora gây ra. Chúng gây hại trên nhiều bộ phận của cây. Trên thân, nấm tấn công gần gốc, cách mặt đất lên khoảng 1 m. Triệu chứng đầu tiên trên vỏ thân có đốm sậm màu, hơi ướt. Sau đó, vết bệnh chuyển màu nâu đỏ, vỏ bị nứt và chảy ứa ra các giọt nhựa trong vàng, phần gỗ tại vết bệnh cũng hóa nâu, làm lá vàng héo và rụng dần. Đôi khi nấm còn tấn công các cành phía trên cao. Bệnh tấn công trên lá, làm cháy lá. Quan trọng hơn cả, nấm gây hại trên trái, làm trái bị thối hàng loạt. Vết bệnh khởi đầu một vài chấm nhỏ màu nâu đen, thường xuất hiện dọc theo chiều từ cuống trái sầu riêng trở xuống chung quanh trái. Sau đó, phát triển từng lõm lan rộng và ăn sâu vào thịt trái, làm thịt trái bị nhũn thối có mùi hôi chua, khó chịu. Trời ẩm thấp, trên vết bệnh hình thành những tơ nấm trắng. Bệnh làm trái nhỏ, chín sớm (chín háp), bệnh nặng làm thối cả trái và lây lan sang những trái khác. Bệnh có thể gây hại trong mọi giai đoạn của trái và cả trái sau thu hoạch.
 
Nhánh sầu riêng bị thối do Phytophthora palmivora tấn công.
 
Lá sầu riêng bị cháy do Phytophthora palmivora.
Bệnh phát triển nhiều trong điều kiện thời tiết nóng và mưa nhiều, vườn cây rậm rạp, đất ẩm thấp đọng nước và nhất là các chùm trái nằm trong tán. Ngoài ra, vết đục của sâu đục trái còn tạo điều kiện cho bệnh phát triển mạnh. Từ các vết bệnh ban đầu của sợi nấm sẽ sản sinh rất nhiều bào tử và lây lan rất nhanh trong điều kiện có gió, mưa hay lũ lụt. Nguồn nước tưới trong vườn cũng là yếu tố làm cho nấm phát tán, lây lan. Nấm lưu tồn chủ yếu trong đất, trong nước và trong các bộ phận bị bệnh của cây.
 Biện pháp phòng trừ:
+ Đối với vườn mới trồng nên trồng với mật độ thấp, khoảng cách 8-10m, tạo thuận lợi cho cây sầu riêng phát triển thông thoáng.
+ Vệ sinh vườn cây, tỉa bớt cành lá gần mặt đất, thu gom những trái bệnh đem tiêu hủy.
+ Vườn cây cần cao ráo, thoát nước tốt trong mùa mưa.
+ Phủ gốc bằng rơm khô hay cỏ khô, không phủ bằng xơ dừa
+ Bao trái là biện pháp  hiệu quả để hạn chế bệnh thối trái hiệu quả.
+ Bón cân đối NPK.
+ Bón phân chuồng hoai mục ( tốt nhất là sử dụng phần gà) kết hợp sử  dụng chế phẩm sinh học Trico để hạn chế bệnh phát triển.
+ Dùng vôi hòa với thuốc gốc Đồng quét lên thân cây cách mặt đất khoảng 1m vào đầu mùa mưa để ngừa nấm tấn công thân.
+ Phát hiện bệnh mới chớm phun các lọai thuốc hóa học: Aliette, Mexyl-MZ  72WP, Ridomil-Gold, Alpine 80WP, Mataxyl 25WP,.... Chú ý, nếu bệnh xuất hiện trễ vào giai đoạn trái lớn, khi phun thuốc nên đảm bảo đúng thời gian cách ly để tránh dư lượng thuốc tồn trong trái sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng. Tuyệt đối không nên nhúng trái vào thuốc BVTV sau thu hoạch. 
K.S Nguyễn Thị Nguyệt-Chi Cục BVTV Bến Tre

Kỹ thuật chiết - ghép nhân giống cây Sầu Riêng


Kỹ thuật chiết - ghép cành cây Sầu Riêng

3.1. Nhân giống
 
Sầu riêng có thể được nhân giống bằng hột, tháp mắt, tháp cành, tháp đọt và chiết. Cây trồng bằng trái và năng suất không được ổn định, cây rất lâu cho trái (mất từ 7-12 năm) và có chiều hướng phát triển khung tán rất to gây trở ngại cho việc chăm sóc. Do đó phương pháp nhân giống vô tính thường được áp dụng rộng rãi hơn. Hiện nay ở ĐBSCL sầu riêng thường được trồng bằng cây tháp và chiết.
 
3.1.1. Phương pháp tháp mắt
 
Chuẩn bị gốc tháp

Hột thường được chọn từ những trái chín đầy đủ. Sau khi chà sạch cơm, loại bỏ những hột xấu lép rửa sạch, xử lý thuốc sát khuẩn trước khi đem ươm. Hột mất sức nẩy mầm nhanh nên cần gieo ngay. Đem trải đều hột kề nhau trên đất ẩm, phía trên phủ tro trấu, tưới  nước giữ ẩm hàng ngày. Sau khi hột nẩy mầm (8-17 ngày) đem cấy vào liếp.



Đất liếp cấy hột sầu riêng phải cuốc sâu 30 cm để rễ cái phát triển tốt. Cấy hột với khoảng cách 30 x 30 cm. Đặt phần tễ hột úp xuống dưới, 1/2 phần đáy hột hướng lên trên. Khi cấy hột xong tủ cỏ lại và tưới nước giữ ẩm hàng ngày. Rải thuốc trị kiến, xịt thuốc phòng trừ sâu bệnh thường xuyên và dùng phân N-P-K tưới để cây con phát triển tốt. Có thể dùng Derosal, Carbendazim, Bavistime, Appencab để phòng trị chết cây con. Cây con phát triển có 1-3 thân, chỉ cần giữ lại 1 thân chính khỏe mạnh. Nên che mát ánh sáng 50% để cây ít bị cháy lá và chậm tăng trưởng (do quang phân hóa).
 
Có thể ươm hột trong bầu đất. Đặt hột ở 1/3 chiều cao bầu, thêm đất trộn tro trấu vào đầy dần bầu theo sự phát triển của rễ hột.
 
Cây con sử dụng làm gốc tháp phải có tuổi thích hợp tùy theo phương pháp tháp. Gốc khoảng 3-5 tháng tuổi được dùng làm gốc tháp cành, tháp đọt; gốc 1,5-3 năm tuổi dùng tháp mắt. Lưu ý khi dùng gốc tháp non (tháp cành, tháp đọt) phải chăn sóc thật kỹ khi đem trồng vì cây dễ bị chết do rễ phát triển kém.
 
Mùa vụ tháp

Đối với sầu riêng, tiến hành tháp vào khoảng tháng 6-9 dl hàng năm là tốt nhất vì trong những tháng này có nhiệt độ và ẩm độ thích hợp nên tháp cây rất dễ dính. Sầu riêng cũng được tháp trong mùa nắng, có thể cắt ngọn gốc tháp trước, bứng vô bầu đem đặt vào chỗ thoáng mát để tiến hành tháp. Tỷ lệ tháp dính so với tháp trong mùa mưa kém hơn.
 
Cách làm

Có nhiều kiểu tháp, nhưng kiểu tháp theo chữ U xuôi là phổ biến nhất. Mở miệng tháp trên gốc tháp cách mặt đất khoảng 25-30 cm, nhánh mũi dao làm trầy phần gỗ bên trong. Miệng tháp dài khoảng 2-2,5 cm, rộng khoảng 1-1,5 cm. Dùng dao rọc một đường chia lớp vỏ đậy miệng tháp làm 2 phần lớn của vỏ đậy một lỗ nhỏ tròn để khi đặt mắt tháp vào không bị cấn dập.
 
Mắt tháp (còn gọi là bo tháp) được lấy từ những mầm vừa nhú lên từ nách lá (nông dân thường gọi là hột gạo) trên cành. Cắt cuống lá trước 3-4 ngày trước khi lấy bo tháp. Bo tháp được lấy theo kích thước hơi nhỏ hơn miệng tháp. Luồn bo tháp vào miệng tháp đậy vỏ miệng tháp lại sao cho mầm tháp nhú ra ngoài từ nơi khoét lỗ. Dùng một đoạn lá dừa dài khoảng 5 cm, rộng 2 cm có khoét lỗ ở giữa đậy  lên kín miệng tháp, dùng dây thun buộc lại. Đầu trên lá dừa phải buộc chặt để nước không thấm vào trong, phía ngoài chỗ tháp được quấn dây thu vừa phải làm cấn giập mầm tháp. Nếu phải lấy mắt tháp ở nơi xa, sau khi cắt cành nhúng nước giữ ẩm ở gốc cành rồi dùng lá chuối bó lại. Không được nhúng ướt cả cành vì dễ làm hư mắt tháp. Mắt tháp sầu riêng có thể giữ được tốt trong vòng 1 ngày.
 
Sau khi tháp 20 ngày thì mở dật thun, nếu tháp dính thì ngày thứ 25 có thể cắt đọt gốc tháp cho mầm phát triển. Khoảng 4-6 tháng sau khi cắt đọt , nếu cây con phát triển tốt thì có thể đem trồng.
 
3.1.2. Phương pháp tháp cành
 
Có hai phương pháp tháp cành là tháp nêm (ghép nêm) và tháp ngọn (ghép đọt)
* Tháp nêm:
 
Chuẩn bị gốc tháp
Sử dụng gốc tháp khoảng 3-5 tháng tuổi, phần thân thật (phía trên trục hạ diệp) có đường kính 3-4 m.
 
Chọn cành tháp
 
Chọn cành tháp còn non, lá màu xanh vàng nhạt, đường kính thân cành khoảng 3-4 mm, dài 20-30 cm. Có thể chọn cành non mọc trên các cành chính hay trên thân chính.
 
Chuẩn bị giàn tháp
 
Khi tháp các cành non mọc từ cành chính trên cao thì cần làm giàn treo bầu gốc tháp. Cắm 2 cọc tràm hay tre ở gốc cành chính (sát gốc thân) và phía ngoài ngọn cành, sau đó buộc thắt dài 1 sào tre (hay tràm) nối 2 đầu cọc, song song sát với cành chính buộc các bầu gốc tháp vào tương ứng với các cành tháp.
 
Cách làm
 
Dùng dao cắt ngang thân gốc tháp ở vị trí cách trên trục hạ diệp (phần thân to mềm, mọc ra đầu tiên từ hột) 2-3 cm. Chỗ cắt cách mặt đất 10-15 cm tùy theo trục hạ diệp dài hay ngắn. Dùng lưỡi lam vuốt mỏng dần 2 bên ngọn gốc tháp còn lại thành hình lưỡi gà mỏng, dài khoảng 2cm.
Dùng dây nylon buộc treo gốc tháp vào giàn ở vị trí thích hợp với cành tháp.
Dùng lưỡi lam cắt sâu vào giữa lõi cành tháp theo chiều xiên về phía ngọn cành, dài khoảng 2-2,5 cm để tạo miệng tháp. Luồn phần lưỡi gà của gốc tháp vào miệng tháp. Dùng vải nylon (rộng 1 cm, dài 50 cm) buộc miệng tháp lại từ dưới lên trên theo hình mái ngói để tránh đọng nước.
Tưới giữ ẩm thường xuyên bầu gốc tháp khoảng một tháng sau khi tháp có thể cắt đem bầu cây tháp xuống.
Phương pháp này có nhược điểm là dễ gãy nơi vết tháp nếu trồng trong vùng có gió mạnh (Duyên Hải, Sông Bé,...) dễ chết nếu trồng trong mùa mưa do vết tháp dễ nhiễm vi khuẩn.
 
* Tháp ngọn:
 
Tháp ngọn sử dụng gốc tháp 2-4 tháng tuổi và phải chuẩn bị cành tháp 10-20  ngày trước khi tháp (khấc, bón P, K). Đọt tháp chỉ cần một đoạn có mang lá non (phương pháp Thái Lan). Dùng dao bén hay lưỡi lam cắt ngang gốc tháp ở độ cao thích hợp sau đó chẻ ở vết cắt sâu 1,5 cm. Dùng dao bén vuốt đọt tháp thành dạng mũi nêm và đặt vào vết chẻ trên gốc tháp. Chú ý sao cho tượng tầng gốc tháp và ngọn tháp tiếp xúc với nhau. Sau đó dùng dây cao su quấn chặt chỗ tháp theo kiểu mái ngói. Phương pháp này có ưu điểm là không bị gẫy nơi vết tháp khi trồng sau này.
 
3.1.3. Phương pháp chiết cành
 
Mùa chiết
Từ tháng 3-10 dl (tốt nhất là tháng 3-4 dl).
Chọn cành chiết
Chọn cành mọc xiên ngoài tán khỏe mạnh, dài khoảng 1 mét, đường kính 5-10 mm, lá màu xanh vàng nhạt (mới chuyển từ non qua trưởng thành), lá đọt chưa nở. Nếu chọn cành có lá màu xanh đậm thì chiết khó ra rễ. Các nhánh chèo (nhánh thứ cấp) trên cành chiết cũng có lá non chưa nở ra.
 
Cách làm
 
Khoanh một đoạn vỏ dài 4-8 cm (tùy theo đường kính cành chiết). Chiều dài từ chỗ khoanh vỏ đến ngọn cành dài 50-70 cm. Khoanh theo kiểu tướt vỏ. Sau khi lột vỏ, dùng vải sạch lau tượng tầng libe (rất mỏng). Tránh cọ xát mạnh làm tổn thương lỏi cây dễ gây thối cành.
 
Sau khi khoanh vỏ để ráo nhựa khoảng 2-3 ngày. Tiến hành bó bầu bằng rơm trộn bùn sông (nên dùng rơm đã giặt sạch phơi khô và bùn không có phèn). Có thể sử dụng thuốc kích thích ra rễ của Đại học Cần Thơ (1.000 ppm NAA) lên phía trên vết khoanh trước khi bó bầu. Vài ngày sau, khi thấy rơm bó ngoài bầu chiết khô thì tiến hành bó nylon và che lá chuối khô phía trên bầu chiết (hướng nắng phía Tây để hạn chế ánh sáng) giúp rễ mọc ra. Tùy giống và mùa vụ, khoảng từ 35-40 ngày (nếu có sử dụng thuốc kích thích ra rễ) đến 45-60 sau thì bầu chiết ra rễ. Tiến hành cắt cành giâm vào bầu đất, che mát, được 1 tuần thì đưa dần ra nắng. Khoảng 1-2 tháng sau thì đem trồng.
 
Nếu chiết vào giai đoạn mưa nhiều (từ tháng 8 dl trở đi) nên dùng rễ lục bình bóc bầu để tránh quá ẩm gây thối. Các điểm cần lưu ý khi chiết cành.
 
- Chọn cành đúng tuổi (quan trọng)
- Bầu chiết bị thối do quá ẩm hay ngộ độc (do rơm tươi, rễ lục bình không được giặt sạch,...).
- Kiến làm tổ do che lá chuối khô gây hư hại cành chiết.
- Khả năng ra rễ còn tùy thuộc vào giống.
 
3.2. Chuẩn bị đất trồng
 
Có thể trồng liếp đơn hay liếp đôi. Nếu bố trí liếp đơn trồng 1 hàng, thì liếp rộng 5-6 m, mương rộng 2-3 m. Nếu liếp đôi trồng 2 hàng. Thì liếp rộng 10-12 m, mương rộng 4-5 m. Lưu ý xẻ thêm mương phèn trên liếp để thoát nước nhanh trong mùa mưa. Ở vùng cao, sầu riêng được trồng trên đất bằng thường có tuổi thọ cao hơn.
 
Cần trồng cây chắn gió (tre, lục bình,...) chung quanh vườn để chắn bốt gió, giảm việc rụng hoa, trái, tổn thương lá,...Trong những năm đầu cho trái nếu cây sai trái thì cần chống đỡ để tránh gãy nhánh.
 
Ở ĐBSCL nên trồng trên mô và bồi liếp tăng dần chiều dầy tầng canh tác, tránh úng rễ do nước ngập hàng năm. Trộn mỗi mô đất với tro trấu, phân chuồng hoai mục và khoảng 0,5 kg super lân. Mô rộng khoảng 1-2 m, cao 0,3-0,5 m tùy địa hình.
 
3.3. Trồng vă chăm sóc
 
3.3.1. Khoảng cách trồng
 
Khoảng cách cây cần thay đổi tùy loại cây giống. Khoảng cách trồng trung bình 8 x 8 m. Trồng một hàng trên liếp đơn hay hai hàng theo hình nanh sấu trên liếp đôi.
 
3.3.2. Trồng vă chăm sóc cây con
 
Loại bỏ vật liệu  làm bầu, đặt cây vào lỗ đào trên mô, lấp đất vừa quá mặt bầu cây con, ém đất xung quanh gốc. Cắm cục giữ cây, tưới đẫm nước. Dùng rơm hay cỏ khô đậy mô giữ ẩm. Cần che mát cây con trong thời kỳ đầu. Khi cây phát triển qua 1 mùa khô thì loại bỏ dần vật liệu che mát.
Nếu bứng bầu đất thì sau khi bứng nên để bầu cây con nằm ngang trên mặt đất ở nơi thoáng mát vài ngày mới trồng vào đất.
Che nắng hướng Tây trong 12 tháng đầu, nhất là vào các tháng nắng chiều, vì cây phát triển rất chậm trong điều kiện nắng gắt.
 
HIỆN TƯỢNG CHẾT CÂY CON SAU KHI TRỒNG
 
Cây sầu riêng con khi đem trồng thường có tỷ lệ chết cao. Hiện tượng này có thể do một hay nhiều nguyên nhân sau:
- Thiếu nước tưới hoặc tưới không đủ làm cây bị hốc. Trồng cây không che mát ở giai đoạn đầu. Đất không thoát nước tốt.
- Đất sét nặng làm rễ cây con kém phát triển, suy yếu dần. Đất nhiễm phèn, mặn, đất mới còn nhiều chất hữu cơ chưa hoai mục gây ngộ độc.
- Cây con có hệ thống rễ nhánh ít, nhất là cây chiết nhánh hoặc cấy tháp đọt, tháp cành. Rễ cây con tương đối giòn, dễ gãy khi vận chuyển bị sốc (đường xe). Cây con không được giữ chắc chắn sau khi trồng, bị gió thường xuyên sẽ làm lung lay rễ, tược tháp.
- Cây con bị thối rễ do nấm bệnh hoặc bị bệnh thán thư nặng (đốm lá) không hồi phục được.
- Bón quá nhiều phân nhất là phân đạm.
- Chọn đất tốt, nhẹ. Phần đất dưới đáy hố trồng cần làm tơi xốp. Nên bón lót phân lân, tro trấu.
- Cây con đem trồng cần có nhiều rễ nhánh.
- Nếu đường xa nên vận chuyển bằng ghe và nên giảm cây 2-3 tháng để dưỡng trước khi trồng.
- Tưới đủ nước
- Cây con cần được che mát tránh ánh nắng trực tiếp trong năm đầu tiên sau khi trồng. Buộc giữ cây chắc chắn.
- Tránh bón quá nhiều phân, bón phân chia làm nhiều lần. Nên pha phân để tưới trong giai đoạn đầu.
- Phòng trị các loại nấm gây hại ở giai đoạn liếp ương (đối với cây tháp) như :Sclerotium, Rhizoctonia, Pythium, Fusarium và thán thư (colletotricum).
 
Sưu tầm: Từ Hội nông dân Cần thơ

Thứ Năm, 19 tháng 7, 2012

Kỹ thuật trồng cây Thanh Trà

Kỹ thuật trồng cây Thanh Trà


Kỹ thuật trồng cây thanh trà by C.ty GCT | Ky thuat trong cay thanh tra

1. Tổng quan
- Cây Thanh Trà có tên khoa học Bouea gandaria Blume hay Bouea macrophylla Griff., thuộc họ Anacardiaceae, bộ Sapindales tên tiếng anh Marian plum, Gandaria, Marian mango hay Plum mango, là cây ăn trái nhiệt đới có nguồn gốc ở khu vực Đông Nam Á. Ở Thái Lan, trái Thanh Trà được người tiêu dùng rất ưa chuộng, diện tích trồng Thanh Trà ở Thái tăng nhanh từ năm 1998. Năm 2001, chính phủ Thái bắt đầu xúc tiến quảng bá xuất khẩu loại trái cây này. Hiện nay, thanh trà Thái được xuất khẩu sang nhiều nước ở châu âu và được bày bán hầu hết trong các siêu thị ở Anh Quốc.


- Cây thanh trà dễ trồng, ít nhiễm sâu bệnh hại, chịu hạn rất tốt, các giống thanh trà thương mại có nguồn gốc ở Thái Lan, Mỹ hầu hết đều có dạng quả dài, mùi vị thơm ngon, thịt trái có nhiều chất bổ dưỡng, màu sắc và mẫu mã trái đẹp nên rất hấp dẫn người tiêu dùng. Ở nước ta mùa thu hoạch trái thanh trà sớm hơn so với nhiều loại trái cây khác nên trái dễ bán được giá cao.

- Thanh Trà ra hoa 2 đợt cách nhau khoảng 1 tháng, thời gian thu hoạch quả kéo dài từ giữa tháng 12 đến tháng 2 âm lịch. Theo tác giả (Chairuangyod, 1996) thanh trà là loại trái cây có nhiều tìm năng trong tương lai và là một trong những loại trái cây mang lại nguồn thu nhập cao nhất cho nhà vườn ở Thái.

2. Kỹ thuật trồng cây thanh trà
- Đất trồng: Cây thanh trà thích nghi rộng nên có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau như: đất đỏ bazan, đất thịt, thịt pha cát, đất phù sa Đồng Bằng Sông Cửu Long,…

- Khoảng cách trồng: Khoảng cách trồng thích hợp trên đất có độ phì thấp là: 7m x 7m (200 cây/ha), 8m x 8m (156 cây/ha) Đối với nền đất có độ phì cao trồng với khoảng cách thưa hơn 9m x 9m (123 cây/ha).

- Chuẩn bị hố trồng: Hố trồng đào 50x50x50 cm, khi đào hố nên để riêng lớp đất trên mặt ra một bên và đất ở lớp phía dưới ra một bên, bón lót mỗi hố 10 - 12 kg phân chuồng đã ủ hoai, 150 - 250 g Super lân, trộn đều với lớp đất mặt xung quanh, trộn thêm với 50 g Basudin 10H và 0,5 kg vôi để phòng trừ mối kiến và nâng cao độ pH đất. Ngoài vật liệu bón lót trên không nên dùng phân hữu cơ chưa hoai hay tro bếp bón lót dễ gây thối rễ và làm mặn đất.

- Trồng cây: Dùng tay móc một lỗ nhỏ giữa hố trồng sâu hơn chiều cao túi đựng thanh trà khoảng 2 - 3 cm, kích thước to hơn bầu cây đôi chút, để túi cây trên mặt đất, dùng dao sắc rạch một đường xung quanh túi nilon, cách đáy 2 - 3 cm, bóc lấy đáy túi ra. Xem xét bộ rễ, cắt bỏ tất cả các phần rễ cái, rễ con ăn ra khỏi bầu đất, sau đó đặt vào hố trồng, lấp đất và rút bọc nilon ra. Dùng tay lấp và ém chặc lớp đất xung quanh để cố định gốc cây con không bị gió lay, chú ý đặt cây vào hố trồng sao cho sau khi trồng cổ rể ngang bằng với nền đất xung quanh, không trồng âm hay lấp phần thân cây. Sau khi trồng cần làm bồn đường kính khoảng 1 m để nước tưới không chảy ra ngoài. Trồng xong lấy cọc cắm, buộc thân cây vào cọc tránh gió lay gốc, nên buộc lỏng bằng dây nilon. Nếu trồng vào mùa mưa thanh trà không cần che mát như sầu riêng hay măng cụt.

3. Kỹ thuật chăm sóc
- Tưới nước: Tưới nước ngay sau khi trồng, trồng vào đầu hay giữa mùa mưa sẽ đỡ công tưới. Nếu trồng trong mùa khô phải tưới nước ít nhất 1 tháng đầu, nên tưới bằng vòi phun với lượng nước tưới vừa đủ.

- Cắt tỉa cành: Thanh Trà là loại cây đa thân, cây tự phân nhánh rất đều do đó việc cắt tỉa cành, tạo tán trong thời kỳ kiến thiết bơ bản đơn giản hơn so với các cây khác. Định kỳ 2 - 3 tháng dùng kéo tỉa bỏ bớt các cành mọc rậm rạp, tạo cho cây có bộ tán cân đối. Khi cây đã cho trái sau mùa thu hoạch, cắt tỉa bớt các nơi có mật độ cành mọc dày, tạo cho tán cây thông thoáng cây sẽ cho năng suất cao ở vụ kế tiếp.

- Bón phân: Hàng năm vào đầu mùa mưa bón mỗi gốc 15 - 25 kg phân chuồng hoai/gốc, mục đích bổ sung thêm các chất dinh dưỡng vi lượng, độ mùn, tăng độ phì và tăng khả năng giữ của đất trong mùa khô. Bón bằng cách rãi đều lên mặc đất xung quanh mặc bồn.

4. Nhu cầu phân bón
- Năm thứ 1: Sau khi trồng 20 ngày bón phân NPK(15-15-15) hay NPK(16-16-8) 100 - 150g/gốc, bón bằng cách rải đều trên mặc đất xung quanh tán, tạo điều kiện cho rễ cây trồng hấp thu dinh dưỡng hiệu quả nhất, sau khi bón dùng cào cỏ cào nhẹ lớp đất mặc để phân dễ thấm sâu, sau đó phủ lên một lớp đất mỏng. Có thể pha loãng phân với nước tưới hiệu quả sẽ cao hơn. Sau đó định kỳ 3 - 4 tháng bón 1 lần, mỗi lần 100 - 200g/gốc kết hợp phun thêm phân bón lá để bổ sung thêm dinh dưỡng cho cây.

- Năm thứ 2: dùng phân NPK trên bón liều lượng 0,5 - 1 kg, chia làm 2 lần bón (đầu và cuối mùa mưa).

- Năm thứ 3 và thứ 4: cây bắt đầu cho trái bón mỗi gốc 1,5 - 3 kg chia làm 3 lần bón: lần 1 sau thu hoạch, lần 2 trước ra hoa, ở lần bón phân 2 có thể trộn thêm 0,5 kg phân lân nung chảy nhằm bổ sung thêm lân, canxi, megiê và một số nguyên tố trung vi lượng khác cho cây, lần 3 bón sau khi trái đậu 1 tháng. Khi cây cho trái ổn định mỗi năm bón 3 - 4 kg NPK, cộng thêm mỗi gốc 0,5 - 1 kg phân kali (K2SO4), phân kali sulphat bón trước thu hoạch khoảng 20 ngày bằng cách rãi đầu khắp mặt bồn sau đó tưới nước 2 - 3 lần để phân thấm sâu sẽ làm tăng đáng kể độ ngọt và màu màu sắt thịt quả.

5. Thu hoạch quả
Cây thanh trà ghép cho trái sau 3 - 4 năm trồng, cây ≥ 7 năm tuổi cho năng suất 120 - 200 kg/cây. Trái thanh trà khi chín có thể neo trên cây 12 - 15 ngày. Dùng dụng cụ thang, kéo cắt trái và túi lưới để thu hoạch quả, hạn chế trèo lên cây vì dễ làm giãn, gãy cành sẽ ảnh hưởng đến năng suất vụ sau. Khi cắt trái nên chừa 1 - 3 lá ở cuốn trái, trái sẽ tươi lâu và dễ bán. Sau khi hái nên phân loại những trái có cùng kích thước và độ chín. Sau khi phân loại, trái được cho vào thùng xốp, mỗi thùng 20 - 25 kg để chuyển đến các khách hàng và đại lý tiêu thụ.

Thứ Ba, 10 tháng 7, 2012

Kỹ thuật trồng Chuối phủ bạt

Kỹ thuật trồng Chuối phủ bạt


Kỹ thuật trồng chuối phủ bạt by BVCT | Ky thuat trong chuoi phu bat

Trồng chuối phủ bạt là biện pháp kỹ thuật mới, sử dụng màng phủ nông nghiệp (bạt plastic, sử dụng 6 cuộn khổ 1,2m x 400m/ha) hạn chế được rệp truyền virus cho cây, hạn chế cỏ dại, ổn định nhiệt độ đất, giữ được độ ẩm đất, khi mưa tránh cho đất bị xói mòn gây tổn thương bộ rễ và phân bị rửa trôi...

I. Chuẩn bị đất trồng
- Cây chuối thích hợp trồng trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng trồng chuối thâm canh nên chọn những vùng đất bằng phẳng, tưới tiêu chủ động, pH thích hợp 6 - 7,5.

- Làm đất: Đất tơi xốp, sạch cỏ dại, bằng phẳng, xử lý vôi trước lần làm đất cuối cùng sau đó cày vùi trước khi đào hố trồng 2 tuần.

II. Kỹ thuật trồng
1. Thời vụ, mật độ, khoảng cách
- Thời vụ: Chuối có thể trồng quanh năm, tốt nhất nên trồng vào đầu mùa mưa.

- Mật độ: 2.000 cây/ha. Khoảng cách: 2,5m x 2m.

- Chọn cây giống: Chọn cây con trên cây mẹ đã có buồng, khỏe mạnh. Cây con cao 1,2 – 1,5m, củ chuối lớn, có lá bàng, không sâu bệnh. Gọt bỏ hết rễ trên củ, cắt 2/3 lá xòe, giữ nguyên lá cuốn. Lấy giống từ chuối nuôi cấy mô sạch bệnh.


2. Đào hố, bón lót và phủ bạt
- Đất cày sâu 0,4 - 0,5m, lên luống rộng 1m, cao 20 - 30cm, căn cứ khoảng cách cây cách cây để đào hố.

- Đào hố: Để riêng lớp đất mặt, đào hố sâu 40 - 50 cm, rộng 50 - 60cm.

- Bón lót: Phân chuồng hoai mục 10 - 15kg + 0,3 kg lân supe + 0,1 kg KCl. Trộn đều các loại phân với lớp đất mặt rồi lấp hố. Tiến hành phủ bạt, dùng ghim tre hoặc đất chèn hai bên mí bạt.

3. Cách trồng
- Khoét bạt theo khoảng cách cây cách cây 2m, dùng xẻng tạo 1 lỗ sâu hơn củ chuối 10 - 15cm, sau đó đặt cây vào giữa hố trồng và lấp đất vừa quá cổ gốc chuối, ém đất quanh gốc. Sau khi trồng cần tưới nước, giữ ẩm cho chuối.

- Khi trồng quay sẹo củ của cây (mặt cắt cây giống khi tách ra khỏi cây mẹ) về một hướng để chuối trổ buồng về một phía dễ chăm sóc., thu hoạch.

III. Chăm sóc
- Trồng dặm: Sau trồng 1 tháng nên dặm lại những cây đã chết hay còi cọc ...

- Bón phân: Liều lượng bón/ha: 600-800kg urê, 500 - 800 kg kali (1 gốc: 0,3 - 0,4 kg urê; 0,25 - 0,4 kg kali).

- Bón thúc: Chia làm 2 đợt bón như sau:
+ Đợt 1 (sau khi trồng 1,5 - 2 tháng): ½ urê + ½ kali.
+ Đợt 2 (trước khi chuối trỗ buồng 2 tháng): ½ urê + ½ kali.

- Cách bón: Cuốc rãnh sâu (20 - 25 cm) 2 bên mí bạt, bón phân, đảo đều đất, lắp bằng.

- Tỉa cây con: Thường xuyên tỉa định cây con để tránh cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng, giảm sâu bệnh gây hại vườn chuối, thường để 1cây mẹ và 2 cây con.

- Bẻ bắp chuối: Cắt bỏ hoa đực (bắp chuối) vào buổi trưa khi chuối được 8 - 12 nải. Dùng một nắm lân trộn với đất bịt vết cắt ngăn chặn tình trạng chảy nhựa.

- Chống buồng: Dùng cọc chống buồng quả, kết hợp với “bó giò” thân cây bằng lạt dài hoặc dây nilon.

- Bao buồng: Mục đích hạn chế sâu, bệnh hại, giữ cho trái đẹp. Có thể dùng bao chuyên dùng (Trung Quốc) hoặc bao nilon trắng (xanh) thủng 2 đầu lồng vào buồng chuối, buộc chặt phần đầu trên vào cuống buồng, đầu dưới để hở tự nhiên (nếu buộc kín quả sẽ bị thối).

IV. Phòng trừ sâu bệnh
1. Sùng đục củ
- Làm cho củ thối, cây sinh trưởng kém, buồng nhỏ, trái còi cọc.

- Phòng trị: Thường xuyên vệ sinh vườn chuối, sử dụng Furadan, Regent 0,3G, hoặc Basudin rải vào gốc, hoặc chẻ đôi thân chuối úp quanh gốc để bắt thành trùng.

2. Sâu cuốn lá
Ngắt bỏ lá bị sâu cuốn, giết sâu bằng tay.

3. Bệnh đốm lá
- Sigatoka vàng và Sigatoka đen gây hại trên lá tạo hình bầu dục màu nâu có bệnh màu sậm hơn và xuất hiện mặt dưới lá. Bệnh phát triển mạnh vào mùa mưa, làm buồng chuối nhỏ ...

- Phòng trị: Không trồng chuối trên các chân đất chua. Đất trồng phải thoát nước tốt. Mật độ trồng phải thích hợp. Vệ sinh vườn chuối, cắt và đốt các lá bị bệnh. Phun Score, Benomyl từ 2 - 4 tuần/lần trong mùa mưa.

4. Bệnh héo rũ Panama
- Các lá già vị vàng trước rồi sau đó lan dần đến ngọn, vàng từ bìa lá lan vào gân chính. Cắt ngang thân thấy mạch dẫn có màu nâu đỏ.

- Phòng trị: Khử trùng chuối bằng Manzate, Ridomi trước khi trồng, đào bỏ các gốc chuối bị bệnh.

5. Bệnh chùn đọt
- Trên lá chuối có sọc xanh lợt ở cuống lá và phiến lá song song với các gân lá, lá mọc hơi đúng chứ không xỏe ngang. Bệnh lây lan trực tiếp qua cây giống, qua rầy mềm và tuyến trùng truyền virus từ cây này sang cây khác.

- Phòng trị: Huỷ bỏ cây bệnh, chọn cây giống sạch bệnh để phát hiện bệnh sớm kịp thời nhổ bỏ, chống lây lan.

V. Thu hoạch - bảo quản
Khi quả đã tròn cạnh, ruột vàng, độ già 85 - 90%.Chặt buồng dựng ngược, bảo quản nơi râm mát.

Thứ Năm, 5 tháng 7, 2012

Kỹ thuật trồng Chuối Tiêu Hồng

Kỹ thuật trồng Chuối Tiêu Hồng


Kỹ thuật trồng chuối tiêu hồng by TSTD | Ky thuat trong chuoi tieu hong

I. Đặc điểm chung
- Tính thích nghi rộng.

- Là cây trồng giúp cải thiện vườn tạp.

- Cho thu hoạch sớm.


- Năng suất cao (1buồng có trên chục nải, Mỗi buồng chuối nặng từ 25 - 40kg).

- Thích hợp trong bảo quản và vận chuyển đi xa.

- Giá trị thu nhập cao (gấp 4 - 5 lần trồng lúa và các cây hoa màu khác).

1.Giá trị dinh dưỡng
- Trong 100g quả chín chứa:
+ 74g nước.
+ 1,5g protid.
+ 0,4g axit hữu cơ.
+ 22,4g glucid (glucoza: 20%, fuctozo: 1,5%, saccharoza: 65%).
+ 0,8g xenluloza.


- Cung cấp tới 100 calo (như cam: 43calo, đu đủ:36calo, nhãn: 49 calo…).

- Ngoài ra còn cung cấp nhiều muối khoáng (canxi, photpho, sắt, đăc biệt: kali có gần 400mg/100g chuối).

- Các vitamin:
+ Caroten: 0,12mg.
+ Vitamin B1: 0,005mg.
+ Vitamin B2: 0,7mg.
+ Vitamin B6.
+ Vitamin C,PP…

2.Tác dụng của chuối tiêu
- Chữa táo bón.

- Giảm huyết áp cao và phòng trúng gió.

- Tăng khả năng miễn dịch.

- Giúp điều trị các bệnh về tâm lý.

- Ngăn ngừa bệnh thiếu máu.

- Bệnh nóng dạ dày.

- Các bệnh về da.

II. Kỹ thuật trồng
1. Chuẩn bị đất trồng
- Thích hợp với nhiều vùng đất.

- Phát triển tốt trên đất phù sa, thịt nhẹ, cát pha nhiều màu.

- Vùng đất trũng, thoát nước kém phải lên luống cao.

- Đào hố: Dài 40cm, rộng 40cm, sâu 40cm.

- Khoảng cách giữa các hố: từ 2m – 2,5m.

2.Phân bón lót cho 1 hố
- Trung bình 1 cây chuối cần khoảng 20 - 25kg phân chuồng hoai mục, 0,8 - 1kg đạm, 1 - 1, 5kg lân, 2 - 3kg kali trong 1 năm.

- Bón lót toàn bộ phân chuồng, phân lân + 0,1kg đạm + 0,1kg kali. Bón thúc lần 1 sau khi trồng 1- 1,5 tháng, kết hợp với làm cỏ, xới xáo quanh gốc. Bón 1/2 lượng đạm và 1/3 lượng kali còn lại, cách gốc 30 - 40cm.

- Bón thúc lần 2 sau lần 1 từ 1,5 - 2 tháng. Bón 1/2 lượng đạm và kali còn lại, cách gốc 1m.

- Bón thúc lần 3 với lượng đạm và kali còn lại khi cây trổ buồng, bón cách gốc 1,5 - 2m. Nên đào 4 hốc xung quanh gốc, lấp phân sâu 7 - 10cm, tiến hành bón khi đất có độ ẩm 70 - 80%.

- Khi chuối trổ buồng 15 - 20 ngày có thể dùng bao nylon trắng trùm kín buồng để hạn chế sâu bệnh.

3. Chọn giống
a. Giống cây nuôi mô:
Là giống được sản suất, nhân giống hoàn toàn trong phòng thí nghiệm đạt đầy đủ các tiêu chuẩn quy định.

b. Giống được tách từ cây mẹ:
- Có chiều cao từ 70 - 1,2m, thân thẳng, sạch sâu bệnh và đã được sử lí kỹ thuật.

- Cách trồng:
+ Bới hỗn hợp đất + phân trong hố.
+ Tháo bỏ bầu túi nilon.
+ Đặt gốc chuối vào giữa hố, vừa độ nông, sâu,cây thẳng đứng.
+ Lấp kín đất,dùng chân giậm nhẹ.
+ Tưới đủ nước ngay sau khi trồng.
+ Sau khi chuối trổ hoa ra khoảng 10 đến 13 nải tiến hành bẻ bắp.
+ Cột chống buồng chuối tránh gió, bão.

4.Sâu bệnh hại chính
- Sâu vòi voi: sâu đục thân hại chuối.
- Bọ nẹt: sâu ăn lá.
- Bọ vẽ quả: bọ trưởng thành gặm nhấm chất xanh vỏ quả, đọt chuối.
- Tuyến trùng: hại rễ cây.
- Bệnh than thư (bệnh đốm trứng quốc).
- Bệnh chuối rụt (chùn đọt chuối).
- Bệnh đốm lá.

5. Cách phòng trừ
a. Sâu vòi voi
- Sâu đẻ trứng vào gốc chuối, trứng nở thành sâu đục vào củ rồi lan lên thân giả, làm chận phát triển.

- Phòng trừ:
+ Cắt bỏ lá già, bẹ thối, lá khô, bẹ khô, thu gom đem đốt.
+ Dùng đoạn cây 30 - 50cm áp vào gốc cây ban đêm nhử sâu lên ăn để diệt.
+ Rắc thuốc BVTV quanh gốc chuối: Bauin 10H, Badan 4H, BAM 5H vào mùa mưa.

b. Bọ vẽ quả
- Bọ vẽ quả gặm nhấm ăn chất xanh của đọt chuối và vỏ quả non.

- Phòng ngừa:
+ Không trồng với mật độ quá dầy.
+ Vệ sinh vườn sạch sẽ,thông thoáng.

- Phun thuốc: Dùng Metinparation 0,01% (1/1.000) để phun.

c. Bọ nẹt
- Bám trên lá ăn trụi dần đến hết làm ảnh hưởng đến cây quang hợp của cây.

- Phòng trừ:
+ Làm vệ sinh vườn,phát hiện sâu non kịp thời.
+ Phun Vofatox 0,1%.

d. Tuyến trùng
- Tuyến trùng gây hại làm thối rễ chuối.

- Phòng chống:
+ Chọn giống đạt tiêu chuẩn sạch bệnh.
+ Xử lý đất trước khi trồng.
+ Không nên trồng chuối nơi đất cát.

- Phun thuốc BVTV: Dùng các loại thuốc trị trùng như: Bơm NB.C.P (Nemagan) một hoặc hai lần/năm.

e. Bệnh chuối rụt
- Còn gọi là bệnh chùn đọt chuối, do siêu vi trùng gây bệnh. Cây bị bệnh cần đào bỏ mang ra khỏi vườn huỷ để không lây lan.

- Phòng ngừa:
+ Tuyển chọn cây giống sạch bệnh.
+ Nên trồng bằng giống sạch bệnh.
+ Nên trồng bằng giống nuôi cấy mô.
+ Phòng và diệt trừ rệp (vật môi giới truyền bệnh bằng wofatox) 0,1%, Sumithion 50ND.

f. Bệnh thán thư
- Còn gọi là bệnh đốm trứng quốc. Bệnh do nấm gây ra, gây các vết chám đen trên vỏ quả làm xấu mã quả do đó không xuất khẩu được.

- Phòng trừ:
+ Vệ sinh sạch sẽ vườn.
+ Tránh không làm xây xát quả trước khi thu hoạch 10 ngày.

f.Bệnh đốm lá
- Bệnh do nấm gây ra, trên lá xuất hiện các vết đốm. Bệnh phát sinh trong các tháng mưa nhiều, nhiệt độ cao.

- Phòng trừ:
+ Vệ sinh sạch sẽ vườn thường xuyên.
+ Phun dung dịch booc đô 1% hoặc ôits clorua đồng 0,2 - 1%, phun phòng từ cuối tháng 3 đến hết tháng 8, mỗi thang 1 lần.

III. Thu hoạch
- Sau khi trổ buồng 3,5 - 4 tháng, quả căng và chuyển từ màu xanh thẫm sang xanh nhạt thì tiến hành thu hoạch. Sau khi cắt buồng, bà con nên dựng vào nơi thoáng mát cho chảy bớt nhựa trong 2 - 3 ngày. Dùng dao, kéo sắc ra nải đem rấm bằng đất đèn hoặc lá xoan + đốt hương đen.

- Ngoài nguồn thu từ Chuối quả người trồng cây chuối tiêu hồng còn có nguồn thu thường xuyên từ lá chuối, chồi chuối, bẹ chuối và các cây nông nghiệp chồng xen ngắn ngày khác(đậu tương, lạc, bí...).

Thứ Ba, 5 tháng 6, 2012

Kỹ thuật trồng Ổi

Kỹ thuật trồng Ổi


Kỹ thuật trồng ổi by Hội Nông Dân | Ky thuat trong oi

1. Chuẩn bị đất trồng
ở ĐBSCL, trước khi trồng cần phải thiết kế mương, liếp. Liếp trồng rộng khoảng 6m, trồng 2 hàng trên liếp. Mô trồng rộng 0,6 - 0,8m, cao 0,3 - 0,5m, đất mô được trộn với phân chuồng và tro trấu.


2. Cách trồng
Cây con đem trồng tránh lúc ra đọt non. Khoảng cách trồng khoảng 3x3m. Đặt cây vào hố đã đ¬ược đào sẵn trên mô, lấp đất vừa quá mặt bầu cây chiết, cắm cọc buộc giữ, tưới đẫm nước. Có thể cắt bớt các lá dưới cùng của cây chiết để hạn chế bốc thoát hơi nước của cây.

3. Bồi gốc, bồi liếp, tưới nước
- Giai đoạn 1 - 2 năm sau khi trồng, hàng năm nên bồi đất vào chân mô, kết hợp trong các lần làm cỏ. ở cây trưởng thành đang cho trái, việc bồi gốc cũng được thực hiện sau khi cuốc xới gốc và bón phân để kích thích cây ra hoa. Việc bồi liếp có thể thực hiện khoảng 2 năm/lần.

- Mặc dù ổi chịu hạn khá tốt nhưng việc tưới cho cây vào mùa nắng sẽ giúp cây phát triển khỏe. Tưới nước vào lúc cây cho trái giúp tăng năng suất và kích thước trái. Lượng nư¬ớc tưới và thời gian tưới thay đổi tùy theo tuổi cây và mùa trong năm.

4. Xử lý ra hoa
- Ổi có thể ra hoa trái quanh năm, tuy nhiên trong sản xuất để có sản lượng tập trung vào thời điểm nhất định, hạn chế sâu bệnh phá hại cũng như bán được giá cao, ổi được xử lý ra hoa đồng loạt.

- Sau khi thu hoạch vụ ổi trước, vào tháng 11 - 12 (mùa nước rút, trong điều kiện đất không cao lắm) hoặc tháng 2 - 3 (nếu đất không bị ảnh hưởng ngập lũ), cắt cành tạo hình để hạn chế chiều cao cây để dễ chăm sóc và cây kịp cho trái vào mùa khô năm sau. Sau đó cuốc xới đất chung quanh gốc sâu 5 - 7 cm, rộng 1 - 1,5m và bón phân, tưới nước để cây mọc chồi non mới. Khoảng một tháng sau chồi có 4 - 5 cặp lá, tiến hành tỉa bớt chồi xấu, chồi mọc rậm trong tán, bắt đầu tấm bỏ ngọn, chừa từ 3 - 4 cặp lá trên mỗi chồi. Mỗi cặp hoa sẽ mọc ra ở nách cặp lá thứ 2 hay 3, còn nách cặp lá trên cùng sẽ mọc 2 chồi mới. Tiếp tục bấm ngọn như vậy khi những chồi này có 4 - 5 cặp lá và có được một cặp hoa mới. Việc bấm đọt thường làm 5 - 7 ngày/lần và kéo dài cho đến tháng 4 - 5 dương lịch (dl) hoặc 7 - 8 dl (khoảng 5 - 6 tháng sau khi làm gốc) mới ngưng, lúc này bắt đầu thu hoạch trái. Trong khi bấm ngọn cần tỉa bớt chồi và lá để các cành nhận đầy đủ ánh sáng, hạn chế sâu bệnh và tập trung dinh d¬ưỡng nuôi trái. Việc bấm ngọn như trên có hiệu quả cao đối với ổi Xá Lị Nghệ và Xá Lị Đỏ. Riêng đối với ổi Bôm, phải hạn chế bớt cành vô hiệu kết hợp với bấm ngọn thì mới có hiệu quả. ở các giống ổi Ta (BạchTuyết Đỏ...) hiệu quả của việc bấm ngọn không rõ ràng, cây có khả năng ra hoa tự nhiên mà không cần bấm ngọn. Vụ thu trái không nên kéo dài đến mùa lũ vì dễ làm cây bị kiệt sức trong mùa ngập lũ.

- Nông dân th¬ường tỉa bỏ lá "đồng tiền" (dạng lá tròn) ở mỗi gốc chồi và xoa gãy các lá dài (ở chóp trái) để tránh chỗ ẩn nấp của sâu đục trái.

- Theo Singh (1982), phun Mg nồng độ 0.4% trên ổi vào tháng 3 hoặc tháng 7 dl đã giúp tăng một cách có ý nghĩa chiều dài chồi, số lá, diện tích lá, số mầm hoa, tăng đậu trái, khả năng giữ trái đến thu hoạch và năng suất. Nồng độ Mg thấp (0,1 - 0,3%) thì ảnh hưởng kém.

- Việc làm ổi chậm ra hoa cũng đ¬ược thực hiện bởi Gupta và CTV. Các tác giả đã thực hiện các thí nghiệm trong 2 năm trên giống ổi Allahabad Safeda 8 năm tuổi bằng cách phun Sevin (carbaryl), NAA và 2,4-D vào tháng 5 dl để làm ổi chậm ra hoa, tránh thu hoạch trong mùa m¬a, nhằm tập trung vụ thu hoạch vào mùa đông với trái có phẩm chất tốt hơn. Kết quả cho thấy nghiệm thức NAA nồng độ 600 ppm giúp cây ra hoa chậm nhất.

- Theo Preez và các tác giả (1988), thí nghiệm trên giống ổi Fan Retief, cây đư¬ợc cắt tỉa cành định kỳ hàng tháng từ giữa tháng 9 đến giữa tháng 12. Kết quả cho thấy thời gian ra hoa không bị ảnh hưởng bởi các thời điểm cắt tỉa. Thời gian giữa hoa xuất hiện và thụ phấn là 35 - 42 ngày. Trái từ các cây được cắt tỉa trong tháng 11 hoặc tháng 12 dl chín chậm hơn 5 - 6 tuần so với trái trên những cây cắt tỉa sớm hoặc không cắt. Trái rụng khi có trọng lượng 2 - 4g, xuất hiện 3 - 6 tuần sau khi cây ra hoa.

5. Bón phân
- Ổi yêu cầu nhiều phân, do đó cần cung cấp liên tục cho cây từ khi trồng đến khi cho trái. L¬ượng phân bón cung cấp cần gia tăng dần khi cây lớn. Ở Philippines trong những năm đầu khuyến cáo bón 100 - 150g phân SA/cây và bón làm 2 lần vào đầu và cuối mưa cho ổi. Khi cây bắt đầu cho trái bón từ 300 - 500g phân hỗn hợp/cây/năm, trong đó N và K chiếm tỉ lệ cao. Cây từ 10 năm trở đi cần bón khoảng 2kg phân hỗn hợp/năm.

- Lượng phân bón cho ổi như sau:
+ Năm thứ 1: L¬ượng phân bón cho cây từ 2 kg Greenfield 555. Bón lót cho cây trước khi trồng. Sau đó cách khoảng 2 - 3 tháng/lần.
+ Năm thứ 2: cây bắt đầu cho trái tuy năng suất còn thấp, bón cho mỗi cây/năm từ 3 kg Greenfield 555. Có thể xới đất bón chung quanh gốc.
+ Từ năm thứ 3 trở đi cây cho nhiều trái, lượng phân được bón vào các thời điểm sau:
. Bón lúc làm gốc xử lý ra hoa: xới đất bón chung quanh gốc từ 1,5 - 2 kg Greenfield 555.
. Bón nuôi trái: khoảng 1 - 1,5 tháng sau lần bón đầu tiên, tiến hành bón định kỳ 15 ngày /lần xen kẽ giữa những lần bấm ngọn để kích thích cây đâm chồi và nuôi trái. Ngưng bón phân khi ngưng bấm đọt. Mỗi lần bón từ 1,5 - 2 kg Greenfield 555 /cây, bón khoảng 10 lần trong thời gian nuôi trái.

- Trong thời gian bấm ngọn có thể phun thêm phân bón lá để nuôi trái, khoảng 10 ngày/lần. Vào giai đoạn cây đang mang trái kinh tế tốt nhất là phun vào một ngày sau khi hái trái (để tránh ô nhiễm).

Thứ Hai, 21 tháng 5, 2012

Kỹ thuật trồng cây Hồng Xiêm

Kỹ thuật trồng cây Hồng Xiêm


Kỹ thuật trồng cây hồng xiêm by Giống Cây Trồng | Ky thuat trong cay hong xiem

Hồng xiêm là loại thân gỗ, trồng trên cả 3 miền của nuớc ta, dễ trồng, không kén đất. Ít sâu bệnh, chịu được úng.Trồng bằng cành chiết sau 3 năm cho quả. Thời gian cho quả kéo dài từ tháng 5 - 10. Quả chín có hương vị thơm ngon, rất thích hợp cho người bị đau dạ dày, người già và trẻ em.


1.Giống
- Có một số giống Hồng Xiêm nổi tiếng như Hồng Xiêm Xuân Đỉnh, Hồng Xiêm Thanh Hà, Hồng Xiêm quả trám, Hồng Xiêm quả dài và một số giống có tên địa phương khác.
Có thể giâm hạt hoặc chiết cành. Thông thường người chiết cành vì cây sẽ chóng cho quả.

- Chiết cành: vào tháng 2 - 3 dơng lịch người ta bắt đầu chiết cành. Chọn cây độ tuổi 7 - 15 năm để chiết. Chọn cành già tán, hướng nam hoặc hướng tây. Đường kính cành 1,5 - 2cm. Khi bóc khoanh vỏ chiết. Kinh nghiệm người chiết là lấy một đất bột xoa phía trên khoanh cắt để hạn chế mủ chảy xuống làm ảnh hưởng đến ra rễ của cành.Khoanh vỏ xong, để 2 - 3 ngày mới bó bầu. Hiện nay, người ta dùng chất kích thích ra rễ như NAA, IAA, IBA nồng độ 2.000 – 4.000 ppm bôi trực tiếp vào và cắt đảm bảo tỉ lệ cành chiết ra rễ cao, thời gian cắt bầu rút ngắn xuống 2 tháng so với không dùng chất kích thích. Khi rễ ra nhiều (tháng 5 - 6) thì hạ bầu chiết đem ươm vào sọt tre có đường kính 15 - 20cm cao 25cm, cho thêm đất bột vào đầy sọt rồi tưới nước. Sọt ươm bầu cây chiết được đặt dưới bóng cây to che nắng, gió để cây tiếp tục phát triển. Hai tháng sau ươm bầu có thể đem cây đi trồng. Tốt nhất là trồng vào mùa xuân (ở miền Bắc), vào đầu mùa m¬ưa (ở miền Nam).

2.Kỹ thuật trồng và chăm sóc
- Trồng Hồng Xiêm vào đầu mùa mưa cây dễ sống, không trồng cây trần mà trồng có cả bầu. Đào hố trư¬ớc 1 - 2 tháng để cho đất ải. Kích thước hố 70x70cm sâu 60cm. Khoảng cách hố 8 - 10m. Cây mới trồng cần được tưới giữ ẩm thường xuyên.

- Tưới phân lợn đã ngâm ủ pha với nước có nồng độ tăng dần theo sức phát triển cuả cây, tỉ lệ phân/nước lã: 1/10 đến 1/3,5. Khi cây vào thời kỳ cho nhiều quả cần bón phân chuồng 60 - 100 kg/cây, urê 0,6 - 1 kg/cây, lân 1 kg/cây và kali 1 kg/cây.

- Bón phân bằng cách đào rãnh sâu 30cm, rộng 30 - 40cm theo tán cây. Cho toàn bộ phân chuồng, lân và ẵ kali, lấp kín đất. Số phân đạm và kali còn lại dùng bón thúc. Bón thích hợp nhất là vào tháng 2 - 3 và tháng 6 - 7 và bón sau thu hoạch quả. Nên dùng bùn ao phơi khô bón vào gốc.

- Phòng trừ sâu hại hoa, quả non, búp non bằng Bi 58 phun dung dịch nồng độ 1/1.000 đến 2/1.000 (dùng 1 đến 2 lọ penicilin thuốc pha vào bình 10 lít nước, phun ướt đẫm lá). Phòng dơi ăn quả bằng cách giăng lưới vào chập tối và ban đêm.

3.Thu hoạch và ủ quả
Khi cuống quả nhỏ lại, tai quả vểnh lên (lá dài vểnh lên không dính sát vào quả), lớp phấn nâu xám ngoài quả rạn nứt và bong ra ngoài, vỏ quả chuyển sang màu xanh vàng và nhẵn., khi đó thịt quả chuyển sang màu nâu vàng là lúc hái đem ủ. Ngâm quả trong nước độ 30 phút hoặc ngâm trong nước vôi trong sau đó lấy giẻ lau ướt sạch phấn ở vỏ quả và nhựa ở cuống quả rồi hong khô nơi thoáng gió. Cho vào thùng hoặc chum vại có lót rơm xung quanh, đốt 1 nén h¬ương rồi đậy kín lại. Mùa hè ủ 2 ngày với 2 lần thắp hương. Mùa đông không cần ngâm nước mà chỉ lau sạch phấn ngoài vỏ quả. Khi ủ phải đảm bảo ấm xung quanh. ủ mùa đông phải mất 4 - 5 ngày và thắp 4 hướng mới chín. Mỗi lần thắp 7 - 10 nén hương.

Bài đăng phổ biến