Thứ Năm, 4 tháng 10, 2012

Chôm chôm Sáu Hớn giá 200.000đ/kg

Chôm chôm Sáu Hớn giá 200.000đ/kg


Chôm chôm Sáu Hớn giá 200.000đ/kg by plvn

Lần đầu tiên, một vườn chôm chôm của Sáu Hớn ở Bến Tre được công nhận đạt chất lượng toàn cầu Global GAP. Từ đây, giá bán một ký chôm chôm sang thị trường Mỹ lên đến hơn 200.000đ. “Choáng váng” là hai từ Sáu Hớn nói về sự thành công bất ngờ này

Chôm chôm Global GAP Sáu Hớn













Khu vườn chôm chôm rộng 6,4ha của ông Võ Văn Hớn (Sáu Hớn) nằm sâu trong ruột ấp Phú Đức B, xã Phú Phụng (huyện Chợ Lách, Bến Tre). 1.425 cây chôm chôm giống Java cổ thụ, cây lớn nhất 40 năm tuổi, nhỏ nhất 11 năm tuổi, đang mùa đơm hoa, kết trái.

Lão nông Sáu Hớn đã 80 tuổi nhưng vẫn quắc thước, tinh anh, thâm niên 40 năm trồng chôm chôm. Ông cười giòn: “Thiệt hổng uổng công, mới nhận giấy chứng nhận Global GAP có mấy bữa mà các doanh nghiệp xuất khẩu trái cây điện thoại tới tấp”.
12,5 đôla một ký

Sáu Hớn nói từ năm 1992 ông đã thành công với kỹ thuật siết nước buộc cây chôm chôm cho trái mùa nghịch. Năm 1999, trái chôm chôm Sáu Hớn bắt đầu xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc với giá 20.000 – 21.000đ/kg, trong khi giá bán trong nước cao nhất chỉ có 10.000đ/kg.

Tháng 2.2009, sau khi áp dụng quy trình canh tác theo tiêu chuẩn Global GAP gần một năm, dù chưa được cấp giấy chứng nhận chính thức mà ông Sáu đã xuất được 2.000kg sang thị trường Đức với giá 120.000đ/kg. Sau khi nhận được chứng chỉ Global GAP, ông Sáu choáng váng trước một đơn đặt hàng từ Mỹ, giá 12,5 USD/kg (hơn 200.000đ/kg), có bao nhiêu mua hết bấy nhiêu.

“Bốn chục năm theo nghề trồng chôm chôm, tui chưa bao giờ nghĩ thứ trái cây này lại có giá cao ngất ngưởng như vậy”, ông Sáu Hớn xuýt xoa.

Sáu Hớn kể, chuyện trồng chôm chôm Global GAP đến với ông như một giấc mơ. Đầu năm 2008, ông bất ngờ nhận được tin từ bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT) đến ngành nông nghiệp tỉnh, huyện, xã đều nhất trí giới thiệu vườn chôm chôm của ông cho một Việt kiều Đức hướng dẫn thực hiện quy trình canh tác theo tiêu chuẩn chất lượng toàn cầu Global GAP.

Hỏi thăm, ông Sáu mới biết, ông Việt kiều này ăn trái chôm chôm Global GAP của Thái Lan với giá quá cao, tức mình nghĩ rằng, đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có nhiều nơi trồng chôm chôm chất lượng không thua kém chôm chôm Thái, vậy tại sao giá bán thất thường, rẻ mạt. Thế rồi ông Việt kiều Đức này liên hệ với bộ NN&PTNT, và các quan chức của bộ nhớ ngay đến ông Sáu Hớn, vì hơn 20 năm qua ông Sáu nổi tiếng là người trồng chôm chôm giỏi nhất ĐBSCL
Ngay sau đó, các chuyên viên kỹ thuật của ngành nông nghiệp đổ quân xuống vườn ông Sáu, lấy mẫu đất, mẫu nước tưới, mẫu trái cây về phân tích và kết luận vườn chôm chôm của ông hội đủ những điều kiện để áp dụng quy trình canh tác Global GAP
Lần giở từng trang của bộ hồ sơ canh tác theo tiêu chuẩn Global GAP nặng 4 – 5kg, Sáu Hớn kể: “Khi bắt tay vào thực hiện quy trình canh tác Global GAP, tui thấy sao mà quá khó. Nào là phải ghi nhật ký canh tác, chia lô khu vườn để theo dõi quá trình chăm sóc, bón phân, thu hoạch và áp dụng hàng trăm tiêu chí kỹ thuật khác, rồi phải đi học an toàn lao động về cơ khí – điện, học an toàn thực phẩm sau thu hoạch… tui cảm thấy làm không xuể. Đã có nhiều lần, tui xin rút lui, hổng cần gáp ghiếc gì hết trọi, nhưng mấy ổng không chịu”.
Sau một năm kiên trì, hôm 16.9.2009 ông Sáu Hớn chính thức được Thuỵ Sĩ cấp giấy chứng nhận vườn cây đạt tiêu chuẩn chất lượng toàn cầu. Ngay sau đó đơn đặt hàng tới tấp bay về. Giá xuất khẩu, ông Sáu nói có nằm mơ cũng không ngờ được
Mong cả xóm cùng làm “GAP”
Những ngày này ông Sáu Hớn luôn bận bịu ngoài vườn chôm chôm, chăm sóc cho lứa trái đang lớn. Ông Sáu nói, ước tính 6,4 ha vườn chôm chôm của ông sẽ cho thu hoạch tối thiểu gần 200 tấn trái, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu trái cây đã ngỏ ý bao tiêu toàn bộ với giá rất cao. Nhưng điều mà lão nông Sáu Hớn đang ưu tư là tìm cách khuyến khích những nhà vườn ở xã Phú Phụng cùng trồng chôm chôm Global GAP như ông
“Hiện nay toàn xã Phú Phụng có 160ha đất trồng chôm chôm, nhưng chỉ mới có mình tui được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn Global GAP. Mặc dù mấy chục năm nay dân trồng chôm chôm xã này thoát nghèo, giàu có, nhà tường, nhà đúc, nhà lầu mọc lên ngày càng nhiều, nhưng vẫn không tránh khỏi chuyện được mùa, rớt giá
Tui đang hiến kế với UBND xã Phú Phụng, ngành nông nghiệp huyện Chợ Lách và các cơ quan hữu trách của tỉnh Bến Tre vận động những người trồng chôm chôm tham gia quy trình canh tác Global GAP, thành lập hợp tác xã”, ông Sáu Hớn nói
“Mình làm được thì phải chỉ bảo, hướng dẫn bà con chòm xóm cùng làm để gia tăng lợi nhuận từ vườn cây. Giấu nghề, hưởng một mình, không phải là nông dân miền Tây”, lão nông Sáu Hớn bày tỏ.
Theo Hùng Anh (SGTT)

Kỹ thuật chọn chim Chào Mào

Kỹ thuật chọn chim Chào Mào


Kỹ thuật chọn chim chào mào by ST | Ky thuat chon chim chao mao
http://www.kythuatnuoitrong.com
Nếu có duyên, có cơ hội, có điều kiện mua hay đổi lấy một chú chim chào mào đã sành sỏi về nuôi thì đáng đồng tiền. Mặc dù mất đi cái cảm giác thích thú khi thấy chú chim tiến bộ từng ngày, mất đi cảm giác chinh phục thành công một thử thách cam go, mất đi cái thú chăm bẵm cho chú chim cưng. Nhưng bù lại, mình được hưởng thụ ngay được sở hữu ngay một dáng, nết, giọng mà mình thích.
1. Về mào 
Gốc mào to, khi mào dựng lên thì phải thẳng cạnh từ giữa mào xuống hết cổ - không gấp khấc ở cổ (nếu gấp khấc càng to thì gốc mào càng nhỏ - chim kém bền). Ở trên đầu con chim, phần lông nào dựng lên thì tính là mào. Từ giữa mào lên đỉnh mào phải gom gọn. Đỉnh mào nhọn, không loe hoe. Mào càng cao thì nhìn chim càng uy nghi, đĩnh đạc. Mào thẳng đứng gọi là mào đinh, chim bền bỉ, nhiều nước chơi hay, nhìn nó hào hoa phong nhã; Mào cong về phía trước là mào lân, chim dữ dằn, bản năng đàn áp, nhìn nó uy nghi oai dũng.

2. Về yếm 
Yếm là nét chính tạo ra sự quyến rũ, thu hút của chim chào mào. Nó cùng với cái mào đặt trùm lên đầu, quàng qua cổ, thả xuống 2 bên vai với màu sắc đen đậm khác biệt với màu nâu và trắng còn lại – tạo cho nó một dáng dấp và phong thái uy nghi mà chỉ chào mào mới có. Yếm đẹp thì phải đen đậm cùng màu với mào, càng dày càng đẹp, càng sâu xuống hai bên vai càng quý phái, càng khít càng quyễn rũ … Hai bên yếm cân đối thì nhìn con chim rất đẹp (hàng này hơi bị hiếm).

3. Về mỏ 
Mỏ chim cần mảnh, thường thì nó bo tròn trịa nhưng vớ được con nào mỏ có cạnh rõ rệt (mỏ ba lá) thì quý – thứ này lắm mồm, to mồm, dễ sung. Hai bên mép càng rộng giọng chim càng to vang, ra đấu càng uy lực.  

4. Về mí, má 
Mí đỏ không những là đặc điểm để báo hiệu chim đã trưởng thành hãy chưa mà nó còn là điểm xuyến độc đáo, tô điểm cho nét mặt của con chim – như thể họa sĩ “điểm nhãn” để lấy cái “sắc thần” cho một bức họa chân dung vậy. Mí đẹp cần gọn, sắc phải thật tươi, thật sáng. Đặc biệt là hai mí phải đều nhau, thật cân đối. Má chim là phần được khoanh bằng một vệt lông đen ở ngay trên xương hàm. Má chim phải cân đối, hơi phồng đều nhau, vệt ngăn cách càng mảnh càng tốt – mặt chim dữ, nhưng không được đứt quãng, lông má phải trắng mịn.

5. Về hầu
 Chim đẹp hay không, cái hầu nó góp phần quan trọng. Hầu chim không những tạo dáng mà nó còn báo hiệu nết chim bền, dữ, giọng chim khỏe, vang. Hầu chim là phần từ gốc mỏ dưới xuống cổ. Hầu to thì làm phần lông phồng căng lên, hầu nhỏ thì phần lông ấy chỉ phùng phùng lên thôi. Các bạn chú ý đặc điểm này để đánh giá về cái hầu cho chính xác. Đôi khi con chim nó có hầu to nhưng mà do phần lông chỗ đó bị bết lại, hoặc bị rụng đi thì nhìn thấy nhỏ hoặc ngược lại, hầu nhỏ nhưng do lông xù lên lại cứ tưởng là to … Để nhìn chính xác thì các bạn nhìn cái xương ở cổ, dưới xương hàm ấy, nó đưa ra làm cho phần hầu căng to ra là com chim có hầu to và ngược lại, còn chỉ nhìn lông lá mà xét thì dễ bị nhầm lắm. Chim có hầu to thì đẹp, thường là nết bền, chim dữ, giọng tốt. Ngược lại chim hầu nhỏ thì thường có giọng đôi, giọng nhỏ nhưng lại đanh, vang.

6. Về dáng vẻ 
Nhìn chung khi nhìn tổng thể mình chim nhìn chung phải thon dài, nhìn như con thoi đan lưới cá thì mới đẹp. Bộ lông chim khỏe là phải bóng như tơ, mượt như nhung, ôm ép gọn vào thân hình.

7. Về vai 
Vai phải nở nang nhìn con chim mới có lực, giúp cho bộ cánh nó linh họat. Vai nở thì nhạy cánh – chim siêng giang, búng. Vai nở mà hơi sếch lên nữa thì tuyệt vời, nó làm cho bộ cánh lúc nào cũng xệ xệ như đang cự nhau – chim đẹp, quý. 

8. Về ngực 
Ngực chim phải nở, ưỡn ra, có lằn giữa ngực mới tốt, nhìn con chim nó lực, đẹp. Ngực to thường phổi bự - giọng chim vang, khỏe, chim bền nước.

9. Về lưng 
Lưng chim hơi gù thì đẹp – chim có dáng đứng chữ C (lưng tôm). Phần thắt lưng, là phần phía trên hai đùi chim, cần thon gọn (chim có eo) – phần này chỉ khi chim đứng giang cánh hoặc là khi … làm thịt nó thì mới thấy.

10. Về cặp cánh 
Cánh chim càng gọn, lông cánh không tưa, dài quá phao câu, ốp gọn như 2 cái vỏ trai hai bên hông chim thì nhìn mới thích. Cặp cánh đừng có xếp chéo nhau trên lưng – như vậy chim chưa có lửa, cánh là phải vai sách lên, đầu cánh xệ xuống nom mới khí thế.

11. Về chân 
Đùi, cẳng phải dài. Đùi cần to chứ cẳng đừng to quá – nhìn xấu. Ngón chân thì phải to, dài. Móng thì cần to, ngắn gọn và cong đều. Cẳng chim mà càng tròn, bóng thì chim càng non tơ và ngược lại.

12. Về bộ lông đỏ ở phần hậu môn 
Nhìn như củ tỏi là đẹp, cần nhìn thấy nó phân biệt rạch ròi với phần lông khác thì mới tốt. 

13. Về đuôi 
Đuôi phải dài và phải xếp thật gọn (đuôi một cọng). Đuôi phải đủ và đều để khi giang cánh xòe đuôi nhìn mới đẹp mắt.

Thứ Tư, 3 tháng 10, 2012

Thông tin về chim Chích Chòe Lửa

 Thông tin về chim Chích Chòe Lửa


Thông tin về chim chích chòe lửa by Chim cảnh | Thong tin ve chim chich choe lua


1. Về tên gọi và tập tính sống
- Chim Chích chòe lửa, có tên tịếng Anh là White-rumped Shama, tên khoa học là Copsychus malabaricus. Là một chi nhỏ trong bộ Sẻ của gia đình của họ chim Đớp ruồi. Trước đây, nó được xếp loại đứng giữa của họ Chim chích và họ chim Đớp ruồi trong dòng họ Hoét, nhưng nó được biết dưới dạng họ chim Chích nhiều hơn. Do vậy, nó thường được gọi (tiếng Anh) là White-rumped Shama Thrush (Chích chòe đuôi trắng) hoặc chỉ đơn giản Shama Thrush. Tương đương trong cách gọi của tiếng Việt là Chích chòe lửa hoặc Chòe lửa.


- Chúng có nguồn gốc Nam và Đông Nam Á, Lần đầu tiên, chúng được tìm thấy tại những khu rừng nguyên sinh của đảo Kaua'i, Hawaii, Vào đầu năm 1931 đến năm 1940, nó được giới thiệu lần nữa sự có mặt của chúng tại Malaysia và trên hòn lớn thứ 3 của Hawait tên là Oahu, bởi nhà Điểu học Alexander Isenberger . Và chúng được biết đến như là một đối tượng nuôi lồng phổ biến kể từ đó.

- Tại châu Á, nơi sinh sống của chúng là khu rừng thưa, đặc biệt là ở các khu rừng tre. Ở Hawaii, chúng được phân bố trong các khu rừng thung lũng hoặc trên rặng núi của miền nam Ko'olaus, có xu hướng làm tổ trong các hang cây của rừng mưa vùng đất thấp. - Chim thường cân nặng từ 1 - 1,2 ounce và có khoảng 9 - 11 inches dài. Con trống có màu lông đen bóng với cái bụng màu hạt dẻ và một chùm lông màu trắng trên mông và đuôi. Con mái có màu hơi xám nâu, và thường ngắn người hơn so với con trống. Cả hai giới có chung một dự luật màu đen trên lưng và chân màu hồng. Con non chưa trưởng thành có màu sắc hơi xám hoặc nâu và trông giống như con mái và có màu ngực lấm chấm.

- Chích chòe lửa có tập tính nhút nhát và hay hót lúc bình minh hoặc hòang hôn, chúng bảo vệ mãnh liệt vùng lãnh thổ. Trong mùa sinh sản, cả hai con trống – mái đều bảo vệ lãnh thổ, trung bình mỗi cặp bảo vệ vùng lãnh thổ đến 0,09 ha (khoảng 90m2).

- Giọng hót loài này hết sức phong phú và du dương đã làm cho chúng là một đối tượng nuôi lồng phổ biến ở Nam Á và được tiếp tục phát triển sang các nước ở khu vực Đông Nam Á. Chúng có tập tính thường bắt chước giọng hót của các loài chim khác. Giọng hót của chúng lần đầu tiên được thu âm vào năm 1889 của một con chim chòe lửa được đặt trong một cái lồng hình trụ của Ludwig Koch, Đức. - Chúng ăn côn trùng trong tự nhiên, nhưng khi nuôi nhốt, thức ăn là khô đậu với lòng đỏ trứng và thịt nguyên được đun kỹ.

- Mùa sinh sản bắt đầu từ tháng giêng đến tháng chín tại khu vực Nam Á, nhưng chủ yếu trong khỏang tháng tư đến tháng sáu. Mỗi ổ chim có khỏang bốn hoặc năm trứng và tổ đặt trong các hốc rỗng của cây. Hành vi tán tỉnh của chúng: các con trống theo đuôi các con mái với nhiều giọng hót, giọng thầm thì., những cuộc bay – đuổi, rơi tự do theo tần suất ngày càng cao hơn, giọng hót ngày càng dày đặc hơn. Nếu con mái nào “đồng ý” sẽ gãi đuôi và cánh. Còn nếu không, con mái sẽ cắn, dọa nạt con trống hầu bay ra khỏi khỏi lãnh địa của cô mái.

- Tổ được xây dựng do một mình con mái trong khi con trống đứng ngoài bảo vệ. Các tổ chủ yếu được làm bằng rễ, lá, dương xỉ. Thời gian ấp trứng và kéo dài từ 12 đến 15 ngày. Trung bình là 12,4 ngày. Cả hai bố mẹ đều trực tiếp mớm thức ăn cho con, hoặc chỉ có con mái có trách nhiệm ấp ủ và lấy thức ăn từ con trống để mớm lại cho con. Trứng màu trắng, với sắc thái biến của những đốm nâu, và có chiều dài khoảng 0,7 đến 0,9 inch.

2. Về sự phân bố 
- Chích chòe lửa (Copsychus malabaricus) được tìm thấy từ Ấn Độ đến Borneo với nhiều loài khác nhau. Chích chòe lửa Ấn Độ có đuôi ngắn và giọng hót hay. Hiện nay, lòai này không nhập vào Singapore nữa. Về phía Nam qua Miến Điện, Campuchia, Lào và miền trung Thái Lan, chích chòe lửa nhỏ con hơn, dáng thanh mảnh hơn và có đuôi dài hơn giống Ấn Độ. Các loài chim này không được ưa chuộng nhiều ở Singapore vì giọng hót và cách chơi của nó ít được quan tâm.
- Các nghệ nhân ở Malaysia và Singapore tin rằng: những con chim hay nhất đến dọc theo biên giới Thái Lan và Malaysia . Đảo Penang ở Malaysia cùng vậy, đã có một thời gian người ta ghi nhận chòe lửa ở Penang đẹp, hót hay và biểu diễn tốt. Ngày nay, hầu như không còn chòe lửa hoang dã ở Penang nữa vì nạn săn bắt, mua bán bừa bãi. Hiện nay, những con chim được cho là hay nhất đến từ đảo Langkawi và xung quanh các đảo thuộc Malaysia và Thái Lan. Chích chòe lửa đến từ các vùng đất thấp của Malaysia có đuôi ngắn từ 6 - 7 inch. Chúng cũng thường được nuôi ở Malaysia và Singapore. Tuy nhiên, Cục Lâm nghiệp Malaysia gần đây đã cấm việc xuất khẩu chòe lửa và những con lửa đã không còn được nhập khẩu vào Singapore từ Malaysia.

- Tỉnh Acheh của Indonesia là nơi nổi tiếng với lửa đuôi dài, tuy nhiên do chiến tranh và xung đột trong khu vực nên ít có được chim từ khu vực này. Chích chòe lửa từ các vùng khác của Indonesia, và đặc biệt là tỉnh Medan, thường xuyên được nhập khẩu vào Singapore. Chích chòe lửa Indonesia to xác hơn chòe lửa của Malaysia. Giọng hót lớn hơn nhưng cách biểu diển không bắt mắt. Vì thề giọng hót của chích chòe lửa Indonesia được đánh giá cao hơn phong cách chơi của chúng.

- Có một phân loài chòe lửa ở Indonesia với tất cả các đuôi màu đen (chòe lửa đuôi đen) thay vì 8 đuôi trắng và 4 đuôi đen. Theo thời gian, chúng được nhập vào Singapore. Các loài chim này có đuôi ngắn khoảng 4 inch và được bán với giá khoảng US $ 200,00 mỗi con. Chúng hót rất hay và được nuôi phổ biến như là vật nuôi trong nhà. Cũng thấy 3 lòai lửa đuôi đen với đuôi chính của 10 – 11 inch. Các loài chim này có thể là một phụ loài khác cùa lòai có đuôi 4 inch. Chúng hót không hay. Một tính năng của tất cả các lòai lửa đuôi đen là không năng động và can đảm như các lòai chòe lửa khác. Do đó chúng không thích hợp cho các cuộc thi chim hót tại Singapore và Malaysia vì chúng ít hót và dể bị hỏang, không biểu diễn tốt trong môi trường có nhiều lửa dử xung quanh.

- Quần đảo Borneo cũng nổi tiếng với một lọai chòe lửa đặc biệt có đuôi ngắn và mảng lổng trắng ở trên đầu như mang vương miện vậy, gọi là White Crown Shama. Giọng hót của nó cũng rất giống với lửa thông thường.

3. Về giọng hót 
- Chích chòe lửa là một trong số những lòai chim hót hay nhất trên thế giới. Tuy nhiên, không phải tất cả chích chòe lửa đều hót hay như vậy
- Một số loài có sự hạn chế về giọng hót. Một số hót một ‘tông” kéo dài liên tục cũng rất thu hút sự chú ý của mọi người. Số khác lại hót đảo giọng, nhiều tông và chúng kết lại với nhau thành chuỗi làm người nghe thật sự hài lòng. Đó là những con chim hay, chúng biết pha trộn sự đa dạng của giọng hót cùng với âm điệu và phong cách chơi.

- Một con chim hót hay là chúng có khả năng pha trộn hài hòa các âm điệu học được với chính giọng hót của nó tạo thành một giai điệu hay “tông” và tông này phải thay đổi thích hợp cùng nhịp điệu và phong cách chơi. Chích chòe lửa hót hay được ví như ca sĩ hát Opera. Nghe một con chích chòe lửa hót hay chẳng khác nào thưởng thức một chai rượu ngon, bạn sẽ không muốn nghe giọng của những con chim hót tầm thường nữa. Có 3 loại giọng mà chúng sẽ hót theo tâm trạng của mình. Thứ nhất, đó là giọng đi chuyện, Đây là giọng mềm, nhỏ nhẹ, dường như chỉ là lời thỏ thẻ với chính mình, vừa đủ cho chim và chủ chim nghe, thường vào buổi chiều, khi nó ngồi thoải mái và yên tĩnh. Kế tiếp, là giọng lớn hơn nhưng không hót liên tục. Cuối cùng, là hót sổng nhiều, có khi đinh tai nhức óc. Điều này chỉ bắt gặp khi chích chòe lửa hót tại lãnh địa của nó (ngay cội) hoặc khi nó được kích thích bởi con khác.

- Tôi tin rằng khả năng hót của chòe lửa là do di truyền nhưng đối với chim hót, để phát triển một giọng hót hay, đầy đủ, cần phải có một chim thầy, đặc biệt là trong giai đoạn chim tơ đang tập hót. Tuy nhiên, khả năng học hỏi chim thầy lại tùy ở mỗi con.

- Chích chòe lửa có một khả năng tuyệt vời để bắt chước các giọng hót của các loài chim khác và các âm thanh mà nó nghe được vào giọng hót của riêng mình. Có thể treo lồng ở nơi có nước chảy chúng sẽ kết hợp những âm thanh của nước rơi vào giọng hót của riêng mình. Thường thì chúng bắt chước chuông của điện thoại . Thỉnh thoảng, các âm thanh chúng học có thể khó chịu, đang hót giọng rất hay lại xen vào đó âm mèo kêu.

- Chích chòe lửa có thể hót lúc 14 ngày tuổi. Nó ngồi lặng lẽ trên cành và đi chuyện nho nhỏ. Giọng trẻ con này sẽ tiếp tục cho đến sau đợt thay lông đầu tiên hoặc thậm chí trong một thời gian dài sau đó. Giọng hót thời trẻ con này giống như giọng con mái chỉ một vài nốt đơn điệu. Tiềm năng về giọng hót của chòe lửa sẽ sớm bộc lộ trong giai đọan tiếp theo.

- Những con chim chuyền nào siêng hót và hót nhiều giọng sẽ trở thành một chú chim hay trong tương lai. Ngược lại, một chú chim tơ kém năng động và hót ít giọng sẽ ít có cơ hội trở thành một chàng ca sĩ giỏi được.

- Nên biết rằng, ngay cả một con chim trưởng thành cũng cần phải “tút” lại giọng của nó (cải thiện dây thanh âm) sau một đợt thay lông. Trong quá trình thay lông, chòe lửa sẽ ít hót hơn, thậm chí có thể ngưng hót hoàn toàn. Khi quá trình thay lông dần hòan tất, Chúng sẽ hót trở lại. Ban đầu, giọng hót sẽ ngắn và âm điệu giống như chim tơ. Giọng hót sớm củng cố và sau một tháng đến 1 tháng rưỡi sau khi kết thúc việc thay lông, con chim sẽ có lửa lại và hót to hơn trong điều kiện nuôi tốt.

Thứ Ba, 2 tháng 10, 2012

Bản tin thị trường Cà Phê ngày 3/10/2012

Bản tin thị trường Cà Phê ngày 3/10/2012


Bản tin thị trường cà phê ngày 3/10/2012 by DĐCP | Ban tin thi truong ca phe ngay 3/10

Theo dữ liệu của Giacaphe, cà phê Robusta giao sau đã đạt mức giá cao nhất kể từ ngày 7/8.
 
1. Thị trường London 
- Giá cà phê Robusta trên sàn LIFFE NYSE tiếp tục đà tăng. Kỳ hạn giao tháng 11 tăng 21 USD, tương đương 0,95%, lên 2.200 USD/tấn và kỳ hạn giao tháng 1/2013 tăng 20 USD, tương đương 0,91%, lên 2.208 USD/tấn, mức tăng đáng kể. Tuy nhiên, lượng giao dịch trong phiên vẫn rất mỏng.

- Hãng dự báo thời tiết tư nhân Somar của Brazil cho biết, đợt hoa nở vừa qua ở vùng Trung Tây là tín hiệu tốt đẹp cho niên vụ cà phê 2012/13, nhưng thông tin vùng Đông Nam vẫn chưa có mưa và thời tiết còn đột ngột trở lạnh khiến người trồng cà phê ở đây tỏ ra lo lắng.

- Đồng Euro tăng cao do kỳ vọng vào sự tăng trưởng của Tây Ban Nha, khi nền kinh tế lớn thứ tư của khu vực Eurozone đã sãn sàng để nhận một gói cứu trợ. Trong khi đồng USD suy yếu cũng thu hút đầu cơ vào hàng hóa của những nhà đầu tư nắm giữ các đồng tiền có giá khác.

2. Thị trường New York 
- Giá cà phê Arabica trên sàn ICE tiếp tục tăng mạnh. Kỳ hạn giao tháng 12 tăng 4,2 cent, tức tăng 2,3 %, lên 182,25 cent/lb và kỳ hạn giao tháng 3/2013 tăng 4,15 cent, tức tăng 2,23 %, lên 186,1 cent/lb. Đây cũng là mức giá Arabica cao nhất kể từ tháng 7.

- Thông tin về thời tiết khô hạn ở Brazil sau khi cây đã bung hoa và doanh số bán hàng chậm lại của quốc gia sản xuất cà phê số 1 thế giới do kế hoạch hỗ trợ mua dự trữ khiến sức mua của thị trường mạnh thêm lên.

3. Thị trường trong nước 
Giá cà phê Robusta nhân xô tại các tỉnh Tây nguyên tăng lên 43.100-43.300 đồng/kg, lập lại mức giá của đầu tháng 8.

Kỹ thuật phòng bệnh cho cá giai đoạn chuyển mùa

Kỹ thuật phòng bệnh cho cá giai đoạn chuyển mùa


Kỹ thuật phòng bệnh cho cá giai đoạn chuyển mùa by ST Báo AB | Ky thuat phong benh cho ca giai doan chuyen mua

Hiện nay, với xu hướng thâm canh hóa trong nghề nuôi thủy sản thì bệnh cá xảy ra trong quá trình nuôi - nhất là vào giai đoạn chuyển mùa – là điều khó tránh khỏi và nó cũng đã gây ra nhiều tổn thất cho người nuôi. Tuy nhiên, nếu người nuôi tuân thủ tốt một số yêu cầu kỹ thuật sau đây sẽ góp phần hạn chế tối đa thiệt hại có thể xảy ra do các bệnh.
1. Những nguyên nhân có thể dẫn đến bệnh cá
- Chất lượng nước bị thay đổi: Nhiệt độ nước thay đổi đột ngột vào tháng 12 đến tháng 2 (có thể xuống thấp đến 18 – 22 độ C) hoặc nhiệt độ tăng cao vào tháng 3 đến tháng 5 (lên đến 30 – 35 độ C) đều làm cho cá bị sốc bỏ ăn, suy yếu, tạo điều kiện cho sinh vật gây bệnh cá phát triển, làm cho cá dễ bệnh. Nước ao kém chất lượng do quản lý không đúng kỹ thuật hoặc nguồn nước cấp bị ô nhiễm hóa chất độc, vi khuẩn, vi rút.

- Chất lượng thức ăn kém: Chất lượng thức ăn kém, không đủ dinh dưỡng cho cá sẽ tạo môi trường thuận lợi cho các tác nhân gây bệnh phát triển và làm ô nhiễm nước ao.

- Thiếu cẩn thận khi chăm sóc: Các dụng cụ cho ăn không được vệ sinh thường xuyên là nơi ẩn chứa mầm bệnh. Các dụng cụ vận chuyển, bắt cá như lưới vợt, thùng... có thể làm xây xát cá trong quá trình thao tác và vì thế mầm bệnh có điều kiện xâm nhập vào cá nuôi.

- Nguồn giống thả kém chất luợng: Cá có thể đã bị mắc bệnh từ nguồn giống thả nuôi chưa được kiểm tra chất luợng, mang sẵn mầm bệnh mà chưa được xử lý diệt trùng, khi cá thả xuống nuôi một thời gian gặp thời tiết thay đổi sẽ thuận lợi cho mầm bệnh phát triển.

2. Phòng bệnh cho cá
Trong giai đoạn chuyển mùa, thời tiết thay đổi đột ngột dễ làm cho cá bị sốc, tác nhân gây bệnh có điều kiện phát triển và xâm nhập vào vật nuôi. Nên điều cơ bản để giữ sức khỏe và phòng bệnh cho đàn cá là việc tránh sốc bằng cách duy trì chất lượng môi trường nước tốt qua việc chăm sóc đúng kỹ thuật.
a) Vệ sinh ao đìa sạch sẽ trước mỗi vụ nuôi
Dọn sạch cỏ; vét bùn đáy ao; lắp hết các lỗ mọi hang hóc xung quanh bờ ao; bón vôi để tiêu diệt mầm bệnh, ổn định pH và diệt tạp.

b) Chọn loài cá nuôi phù hợp
- Hiện nay có rất nhiều loài cá nuôi. Để chọn được loài cá nuôi thích hợp với điều kiện từng nông hộ cần phải xem xét 3 vấn đề sau:
+ Thức ăn: Khả năng cung cấp thức ăn là tự có hay mua.
+ Mục đích sử dụng: Nuôi để bán hay nuôi để ăn.
+ Tùy từng vùng sinh thái khác nhau mà chọn loại cá nuôi cho phù hợp. Ví dụ vùng khó thay nước hay mô hình VAC có thể nuôi cá trê, tra...; vùng phèn có thể nuôi cá rô đồng, sặt rằn, trê...

- Từ cơ sở đó mà nông hộ có thể chọn loài cá nuôi phù hợp với điều kiện thực tế của mình để có thể tận dụng hết những tiềm năng sẵn có tại nông hộ.

3.Chất lượng con giống
Chọn giống tốt, không mang mầm bệnh, cá tương đối đều cỡ, màu sắc sáng đẹp, bơi lội nhanh nhẹn, phản ứng nhanh, không bị dị hình, trầy sướt, nên mua giống ở những nơi có uy tín... Trước khi thả giống nên tắm cá giống qua nước muối 2 - 3% trong 5 - 10 phút và phải theo dõi cá trong quá trình tắm.

4. Mật độ thả thích hợp
Nên thả đúng mật độ tùy theo từng loài cá: Nhóm cá không có cơ quan hô hấp phụ (rô phi, mè hoa, trắm cỏ, chép, mè vinh...) thả với mật độ dưới 5 con/m2; nhóm cá có cơ quan hô hấp phụ (tra, trê, tai tượng, rô đồng, sặt rằn...) thả với mật độ 5 - 10 con/m2. Thả cá đúng mật độ để cá lớn nhanh lớn đều, ít bệnh, rút ngắn được thời gian nuôi, đạt cỡ thương phẩm lớn bán được giá cao, không phải tốn tiền nhiều để mua con giống và thức ăn nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao.

5. Nuôi ghép
- Trong cùng một ao có thể nuôi ghép các loài cá với nhau để tận dụng không gian mặt nước và tất cả các loại thức ăn có trong ao vì mỗi một loài cá sống ở một tầng nước và có loại thức ăn riêng. Khi nuôi ghép cần lưu ý:
+ Số loài cá thả ghép dưới 4 loài.
+ Đối tượng nuôi chính trên 50% tổng các loại cá, còn lại là các đối tượng ghép thêm.
+ Các loại cá thả ghép phải tương đối đều cỡ nhau và thả cùng thời gian.
+ Các loài cá ghép phải không cùng tính ăn và không gian sống.
+ Thời gian nuôi và giá cá thương phẩm các loài cá gần bằng nhau để dễ bán.

- Một số đối tượng thường kết hợp nuôi ghép và tỷ lệ nuôi ghép: Cá tai tương 80% ghép sặt rằn 20%; hoặc cá tra 80% ghép rô phi 20% hoặc cá rô đồng 70% ghép sặt rằn 30%...

6. Chăm sóc đúng kỹ thuật, cho ăn phải đạt 4 yêu cầu
Định lượng, định chất, định vị trí, định thời gian để đảm bảo cho cá khỏe mạnh, ít nhiễm bệnh. Nếu thức ăn là tấm cám nấu thì nên để vô sàng cho cá ăn để dễ quản lý được thức ăn.

7. Quản lý chất lượng nước ao nuôi
Ao phải thông thoáng, độ sâu ao nuôi cá thịt 1,2 - 2m, độ sâu ao ương cá giống: 0,5 – 1,2m, pH ổn định từ 6,5 – 8,5 tức là nước ao nuôi cá có màu xanh vỏ đậu hoặc xanh lá chuối non là tốt, hàm lượng oxy hòa tan 3 - 8mg/l, nhiệt độ nước: 28 – 30 độ C.

8. Đối với ao khó thay nước hoặc không thay nước được
Khi nuôi cá vào các tháng cuối gần thu hoạch, nước ao và nền đáy ao rất dơ do thức ăn dư thừa và phân cá thải ra trong suốt quá trình nuôi nên cá có nguy cơ phát sinh bệnh rất cao, do đó có thể xử lý bằng cách dùng các chế phẩm sinh học.

9. Phòng bệnh cho cá lúc giao mùa
Vào mùa mưa, nhất là giai đoạn chuyển muà nắng sang mưa, ao rất dễ bị xì phèn làm pH nước ao giảm thấp; pH thay đổi đột ngột như vậy làm cá bị sốc sẽ giảm sức đề kháng và mầm bệnh dễ dàng có cơ hội xâm nhập vào cơ thể cá. Nên phòng bằng cách: Định kỳ 2 tuần/lần rải vôi xung quanh bờ ao hoặc đào rãnh xung quanh bờ ao rải vôi vào rãnh để ngăn nước mưa mang phèn và chất dơ bẩn từ trên bờ ao xuống. Đồng thời, ngâm vôi vào nước để nguội, lấy phần nước vôi tạt đều khắp ao lượng 1 - 3 kg/100m3 nước, có tác dụng ổn định pH nước và phòng bệnh cho cá.

10. Một số lưu ý
Trong suốt quá trình nuôi nên phòng bệnh cho cá là tốt nhất, vì khi các bị bệnh việc điều trị rất khó khăn, tốn kém và hiệu quả không cao. Vì vậy định kỳ 2 lần/tuần, trộn Vitamin C vào thức ăn cho cá ăn để tăng sức đề kháng cho cá. Lưu ý: Vitamin C rất dễ tan trong nước nên khi trộn Vitamin C vào thức ăn phải dùng chất kết dính như dầu mực, bột gòn... để tăng hiệu quả sử dụng. Hoặc có thể sử dụng những cây thuốc Nam sẵn có tại chỗ để phòng bệnh cho cá như: Lá giác, lá xoan, cỏ mực…

Bản tin thị trường Cà Phê ngày 2/10/2012

Bản tin thị trường Cà Phê ngày 2/10/2012


Bản tin thị trường cà phê ngày 2/10/2012 by DĐCP | Ban tin thi truong ca phe ngay 2/10/2012

Giá cà phê Robusta nhân xô tại các tỉnh Tây nguyên vẫn xoay quanh mức 43.000 đồng/kg.
1. Thị trường cà phê London 
- Giá cà phê Robusta vừa có thêm phiên điều chỉnh giảm. Kỳ hạn giao tháng 11 giảm 3 USD xuống còn 2.179 USD/tấn và kỳ hạn giao tháng 1/2013 giảm 7 USD xuống còn 2.188 USD/tấn, mức giảm khá nhẹ. Trong phiên, lượng giao dịch rất mỏng và biên độ dao động cũng khá hẹp.

- Theo Tổ chức Cà phê Quốc tế, trong năm nay giá cà phê Robusta đã tăng 20% trong khi giá cà phê Arabica giảm 24 %. Người tiêu dùng ngày càng ưa chuộng loại cà phê có giá rẻ và đậm đà hơn.

2. Thị trường cà phê New York 
- Giá cà phê Arabica quay đầu tăng mạnh sau phiên điều chỉnh. Kỳ hạn giao tháng 12 tăng 4,55 cent, tức tăng 2,56 %, lên 178,05 cent/lb và kỳ hạn giao tháng 3/2013 tăng 4,45 cent, tức tăng 2,45 %, lên 181,95 cent/lb. Đây cũng là mức giá Arabica cao nhất trong 2 tuần.

- Dow Jone vừa đưa tin cho biết, Chính phủ Brazil đã phê duyệt thêm 600 triệu Reals (tương đương 295 triệu USD) tiền mặt hỗ trợ cho các nhà thu mua cà phê để tồn trữ, hãng này dẫn theo một phát biểu của Hiệp hội Cà phê Quốc gia Brazil (CNC). Theo số liệu mới nhất, vụ mùa năm nay sản lượng của quốc gia sản xuất cà phê nhiều nhất hành tinh này đạt 50,48 triệu bao (bao = 60kg).

- Người đứng đầu của Ngân hàng Dự trữ Liên bang tại Chicago, ông Charles Evans cho biết rằng các ngân hàng trung ương Mỹ có thể làm nhiều hơn nữa để thúc đẩy nền kinh tế trong khi có quan ngại rằng lạm phát sẽ tăng tốc độ.

- Chỉ số giá cả của nhiều loại hàng hóa cũng tăng lên mức cao của 2 tuần.

3. Giá cà phê trong nước 
Giá cà phê nhân xô vẫn xoay quanh mức 43.000 đồng/kg.

Bản tin giá cả thị trường tháng 10

Bản tin giá cả thị trường tháng 10

Bản tin giá cả thị trường tháng 10 by Sở NNBT | Ban tin gia ca thi truong thang 10

- Trong tuần, ở các tỉnh ĐBSCL, giá thu mua lúa khô các loại dao động khoảng 6.000 – 6.500 đồng/kg, tăng 100 – 300 đồng/kg so tuần trước và tăng 200 – 700 đồng/kg so với mười ngày trước. So với nhiều loại lúa khác, giá lúa IR 50404 dù đứng ở hàng thấp 5.900 – 6.000 đồng/kg, nhưng khoảng cách chênh lệch không lớn, đây là điều đáng ngại cho ngành nông nghiệp các tỉnh khi dự báo tỷ lệ gieo sạ loại giống lúa này trong vụ đông xuân tới sẽ tăng cao hơn khuyến cáo dưới 15%.
- Giá gạo nguyên liệu các loại đang dao động trong khoảng 7.700 – 7.900 đồng/kg, tăng bình quân 200 đồng/kg so tuần trước. Giá gạo xuất khẩu Việt Nam ngày 24/10 ở mức 460 USD/tấn, FOB cảng Sài Gòn, tăng khá mạnh từ mức 445 USD/tấn vào thứ Tư tuần trước nhờ đơn hàng từ Indonesia. Giá gạo 25% tấm của Việt Nam đã lên mức 430 USD/tấn, từ mức 425 USD/tấn vào tuần trước. Từ nay đến cuối tháng 12, Việt Nam sẽ xuất khẩu 300.000 tấn gạo 15% tấm sang Indonesia theo hợp đồng kỳ kết giữa hai Chính phủ. Tuy nhiên, giới thương nhân cho rằng, mức cầu hiện nay của thị trường là không đủ để giúp giá gạo tăng trong dài hạn.

- Giá tôm nguyên liệu các loại sau một thời gian dài dao động quanh mức thấp đã tăng trở lại. Giá tôm sú loại 20 con/kg hiện ở mức 215.000 – 225.000 đồng/kg, tăng 2.000 – 3.000 đồng/kg so với mười ngày trước; giá tôm thẻ chân trắng các cỡ cũng tăng 1.000 – 2.000 đồng/kg, tương ứng loại 50 con/kg hiện ở mức 92.000 – 100.000 đồng/kg, loại 100 con/kg cũng không dưới mức 78.000 - 80.000 đồng/kg. Trong khi đó, giá các loại tôm sú cỡ 30 – 40 con/kg thường có biến động giá trong những tháng trước đây, nay ở mức giá 118.000 – 140.000 đồng/kg.

- Hiện nay, giá heo hơi các trang trại bán ra còn 36.000 - 37.000 đồng/kg, giảm từ 2000 - 3000 đồng/kg so với dịp đầu tháng 9/2012. Giá heo hơi giảm trong khi giá thức ăn chăn nuôi từ đầu tháng đến nay đã được các công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi điều chỉnh tăng 3-5 lần khoảng 500 – 1.000 đồng/kg. Theo các chủ trang trại, sau khi giá thức ăn chăn nuôi được điều chỉnh tăng, giá thành của heo hơi khoảng 4,6 - 4,7 triệu đồng/tạ. Với giá bán 36.000 – 37.000 đồng/kg, tính ra mỗi tạ heo hơi xuất chuồng nông dân chịu thua lỗ từ 900.000 - 1.100.000 đồng/kg. Hơn 10 năm qua, chưa khi nào giá heo hơi giảm liên tiếp và người nuôi phải chịu thua lỗ trong gần 7 tháng liền. Hiện đa số các trang trại đều phải giảm đàn, một số ngưng nuôi để bớt lỗ.

- Từ tháng 1 đến tháng 5/2012, giá gà Lương Phượng (Tam Hoàng) bán tại chuồng từ 30.000 - 40.000 đ/kg, đỉnh điểm là 50.000 ngàn đ/kg. Từ tháng 5 đến tháng 9/2012 , giá gà xuống còn 25.000 – 27.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí đầu tư, mỗi con gà người chăn nuôi thua lỗ trên 10 ngàn đồng. Riêng gà công nghiệp, sau khi tăng mạnh từ 16.000 đồng/kg lên 31.000 đồng/kg vào cuối tháng 8/2012, giá gà công nghiệp lại quay đầu giảm mạnh, hiện còn ở mức 23.000 - 24.000 đồng/kg, thấp hơn giá thành 6.000 - 7.000 đồng/kg. Lý giải của một số thương lái và người chăn nuôi gà thì do điều kiện giao thông không thuận lợi nên vận chuyển khó khăn tốn kém, giá kiểm dịch xuất chuồng cao. Quan trọng người chăn nuôi gặp khó trong bán buôn do giờ kiểm dịch để xuất chuồng giữa ngành thú y và thương lái không phù hợp (thương lái đến mua gà từ 5 - 6 giờ sáng, còn ngành thú y thì từ 7 giờ trở đi mới tiến hành kiểm dịch). Từ đầu năm đến nay, ngoài các hộ chăn nuôi heo lao đao, thua lỗ do giá cả xuống thấp và dịch bệnh, đến nay đến các hộ nuôi gà phải chịu cảnh thua lỗ nặng. Nhiều người chăn nuôi đang tính đến chuyện bỏ chuồng để tìm hướng làm ăn mới an toàn, ít rủi ro hơn. Đây là tín hiệu dự báo nguy cơ thiếu nguồn cung ứng thực phẩm trong nước trong thời gian tới.

- Bảng tin giá một số nông – thủy sản – Vật tư Nông nghiệp:

Bài đăng phổ biến