Thứ Ba, 25 tháng 9, 2012

Sầu riêng bị thối trái - Cách phòng

Phòng trừ bệnh thối trái sầu riêng

Sầu riêng đã từng được mệnh danh là “nữ hoàng” của các lọai cây ăn trái. Có lẽ, ngoài “mùi vị đặc biệt” của trái mà không có loại trái cây nào sánh bằng, chúng còn là lọai cây “khó tính” mà không phải vùng đất nào cũng có thể trồng được. Trong những năm gần đây, phong trào trồng mới và thâm canh sầu riêng đang được đặc biệt chú trọng, do hiệu quả kinh tế cao. Do đó, giải quyết vấn đề sâu bệnh cũng là một thách thức đối với nông dân, trong đó đáng quan tâm nhất là bệnh thối trái.

Bệnh thối trái do nấm Phytophthora  palmivora gây ra. Chúng gây hại trên nhiều bộ phận của cây. Trên thân, nấm tấn công gần gốc, cách mặt đất lên khoảng 1 m. Triệu chứng đầu tiên trên vỏ thân có đốm sậm màu, hơi ướt. Sau đó, vết bệnh chuyển màu nâu đỏ, vỏ bị nứt và chảy ứa ra các giọt nhựa trong vàng, phần gỗ tại vết bệnh cũng hóa nâu, làm lá vàng héo và rụng dần. Đôi khi nấm còn tấn công các cành phía trên cao. Bệnh tấn công trên lá, làm cháy lá. Quan trọng hơn cả, nấm gây hại trên trái, làm trái bị thối hàng loạt. Vết bệnh khởi đầu một vài chấm nhỏ màu nâu đen, thường xuất hiện dọc theo chiều từ cuống trái sầu riêng trở xuống chung quanh trái. Sau đó, phát triển từng lõm lan rộng và ăn sâu vào thịt trái, làm thịt trái bị nhũn thối có mùi hôi chua, khó chịu. Trời ẩm thấp, trên vết bệnh hình thành những tơ nấm trắng. Bệnh làm trái nhỏ, chín sớm (chín háp), bệnh nặng làm thối cả trái và lây lan sang những trái khác. Bệnh có thể gây hại trong mọi giai đoạn của trái và cả trái sau thu hoạch.
 
Nhánh sầu riêng bị thối do Phytophthora palmivora tấn công.
 
Lá sầu riêng bị cháy do Phytophthora palmivora.
Bệnh phát triển nhiều trong điều kiện thời tiết nóng và mưa nhiều, vườn cây rậm rạp, đất ẩm thấp đọng nước và nhất là các chùm trái nằm trong tán. Ngoài ra, vết đục của sâu đục trái còn tạo điều kiện cho bệnh phát triển mạnh. Từ các vết bệnh ban đầu của sợi nấm sẽ sản sinh rất nhiều bào tử và lây lan rất nhanh trong điều kiện có gió, mưa hay lũ lụt. Nguồn nước tưới trong vườn cũng là yếu tố làm cho nấm phát tán, lây lan. Nấm lưu tồn chủ yếu trong đất, trong nước và trong các bộ phận bị bệnh của cây.
 Biện pháp phòng trừ:
+ Đối với vườn mới trồng nên trồng với mật độ thấp, khoảng cách 8-10m, tạo thuận lợi cho cây sầu riêng phát triển thông thoáng.
+ Vệ sinh vườn cây, tỉa bớt cành lá gần mặt đất, thu gom những trái bệnh đem tiêu hủy.
+ Vườn cây cần cao ráo, thoát nước tốt trong mùa mưa.
+ Phủ gốc bằng rơm khô hay cỏ khô, không phủ bằng xơ dừa
+ Bao trái là biện pháp  hiệu quả để hạn chế bệnh thối trái hiệu quả.
+ Bón cân đối NPK.
+ Bón phân chuồng hoai mục ( tốt nhất là sử dụng phần gà) kết hợp sử  dụng chế phẩm sinh học Trico để hạn chế bệnh phát triển.
+ Dùng vôi hòa với thuốc gốc Đồng quét lên thân cây cách mặt đất khoảng 1m vào đầu mùa mưa để ngừa nấm tấn công thân.
+ Phát hiện bệnh mới chớm phun các lọai thuốc hóa học: Aliette, Mexyl-MZ  72WP, Ridomil-Gold, Alpine 80WP, Mataxyl 25WP,.... Chú ý, nếu bệnh xuất hiện trễ vào giai đoạn trái lớn, khi phun thuốc nên đảm bảo đúng thời gian cách ly để tránh dư lượng thuốc tồn trong trái sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng. Tuyệt đối không nên nhúng trái vào thuốc BVTV sau thu hoạch. 
K.S Nguyễn Thị Nguyệt-Chi Cục BVTV Bến Tre

Kỹ thuật chiết - ghép nhân giống cây Sầu Riêng


Kỹ thuật chiết - ghép cành cây Sầu Riêng

3.1. Nhân giống
 
Sầu riêng có thể được nhân giống bằng hột, tháp mắt, tháp cành, tháp đọt và chiết. Cây trồng bằng trái và năng suất không được ổn định, cây rất lâu cho trái (mất từ 7-12 năm) và có chiều hướng phát triển khung tán rất to gây trở ngại cho việc chăm sóc. Do đó phương pháp nhân giống vô tính thường được áp dụng rộng rãi hơn. Hiện nay ở ĐBSCL sầu riêng thường được trồng bằng cây tháp và chiết.
 
3.1.1. Phương pháp tháp mắt
 
Chuẩn bị gốc tháp

Hột thường được chọn từ những trái chín đầy đủ. Sau khi chà sạch cơm, loại bỏ những hột xấu lép rửa sạch, xử lý thuốc sát khuẩn trước khi đem ươm. Hột mất sức nẩy mầm nhanh nên cần gieo ngay. Đem trải đều hột kề nhau trên đất ẩm, phía trên phủ tro trấu, tưới  nước giữ ẩm hàng ngày. Sau khi hột nẩy mầm (8-17 ngày) đem cấy vào liếp.



Đất liếp cấy hột sầu riêng phải cuốc sâu 30 cm để rễ cái phát triển tốt. Cấy hột với khoảng cách 30 x 30 cm. Đặt phần tễ hột úp xuống dưới, 1/2 phần đáy hột hướng lên trên. Khi cấy hột xong tủ cỏ lại và tưới nước giữ ẩm hàng ngày. Rải thuốc trị kiến, xịt thuốc phòng trừ sâu bệnh thường xuyên và dùng phân N-P-K tưới để cây con phát triển tốt. Có thể dùng Derosal, Carbendazim, Bavistime, Appencab để phòng trị chết cây con. Cây con phát triển có 1-3 thân, chỉ cần giữ lại 1 thân chính khỏe mạnh. Nên che mát ánh sáng 50% để cây ít bị cháy lá và chậm tăng trưởng (do quang phân hóa).
 
Có thể ươm hột trong bầu đất. Đặt hột ở 1/3 chiều cao bầu, thêm đất trộn tro trấu vào đầy dần bầu theo sự phát triển của rễ hột.
 
Cây con sử dụng làm gốc tháp phải có tuổi thích hợp tùy theo phương pháp tháp. Gốc khoảng 3-5 tháng tuổi được dùng làm gốc tháp cành, tháp đọt; gốc 1,5-3 năm tuổi dùng tháp mắt. Lưu ý khi dùng gốc tháp non (tháp cành, tháp đọt) phải chăn sóc thật kỹ khi đem trồng vì cây dễ bị chết do rễ phát triển kém.
 
Mùa vụ tháp

Đối với sầu riêng, tiến hành tháp vào khoảng tháng 6-9 dl hàng năm là tốt nhất vì trong những tháng này có nhiệt độ và ẩm độ thích hợp nên tháp cây rất dễ dính. Sầu riêng cũng được tháp trong mùa nắng, có thể cắt ngọn gốc tháp trước, bứng vô bầu đem đặt vào chỗ thoáng mát để tiến hành tháp. Tỷ lệ tháp dính so với tháp trong mùa mưa kém hơn.
 
Cách làm

Có nhiều kiểu tháp, nhưng kiểu tháp theo chữ U xuôi là phổ biến nhất. Mở miệng tháp trên gốc tháp cách mặt đất khoảng 25-30 cm, nhánh mũi dao làm trầy phần gỗ bên trong. Miệng tháp dài khoảng 2-2,5 cm, rộng khoảng 1-1,5 cm. Dùng dao rọc một đường chia lớp vỏ đậy miệng tháp làm 2 phần lớn của vỏ đậy một lỗ nhỏ tròn để khi đặt mắt tháp vào không bị cấn dập.
 
Mắt tháp (còn gọi là bo tháp) được lấy từ những mầm vừa nhú lên từ nách lá (nông dân thường gọi là hột gạo) trên cành. Cắt cuống lá trước 3-4 ngày trước khi lấy bo tháp. Bo tháp được lấy theo kích thước hơi nhỏ hơn miệng tháp. Luồn bo tháp vào miệng tháp đậy vỏ miệng tháp lại sao cho mầm tháp nhú ra ngoài từ nơi khoét lỗ. Dùng một đoạn lá dừa dài khoảng 5 cm, rộng 2 cm có khoét lỗ ở giữa đậy  lên kín miệng tháp, dùng dây thun buộc lại. Đầu trên lá dừa phải buộc chặt để nước không thấm vào trong, phía ngoài chỗ tháp được quấn dây thu vừa phải làm cấn giập mầm tháp. Nếu phải lấy mắt tháp ở nơi xa, sau khi cắt cành nhúng nước giữ ẩm ở gốc cành rồi dùng lá chuối bó lại. Không được nhúng ướt cả cành vì dễ làm hư mắt tháp. Mắt tháp sầu riêng có thể giữ được tốt trong vòng 1 ngày.
 
Sau khi tháp 20 ngày thì mở dật thun, nếu tháp dính thì ngày thứ 25 có thể cắt đọt gốc tháp cho mầm phát triển. Khoảng 4-6 tháng sau khi cắt đọt , nếu cây con phát triển tốt thì có thể đem trồng.
 
3.1.2. Phương pháp tháp cành
 
Có hai phương pháp tháp cành là tháp nêm (ghép nêm) và tháp ngọn (ghép đọt)
* Tháp nêm:
 
Chuẩn bị gốc tháp
Sử dụng gốc tháp khoảng 3-5 tháng tuổi, phần thân thật (phía trên trục hạ diệp) có đường kính 3-4 m.
 
Chọn cành tháp
 
Chọn cành tháp còn non, lá màu xanh vàng nhạt, đường kính thân cành khoảng 3-4 mm, dài 20-30 cm. Có thể chọn cành non mọc trên các cành chính hay trên thân chính.
 
Chuẩn bị giàn tháp
 
Khi tháp các cành non mọc từ cành chính trên cao thì cần làm giàn treo bầu gốc tháp. Cắm 2 cọc tràm hay tre ở gốc cành chính (sát gốc thân) và phía ngoài ngọn cành, sau đó buộc thắt dài 1 sào tre (hay tràm) nối 2 đầu cọc, song song sát với cành chính buộc các bầu gốc tháp vào tương ứng với các cành tháp.
 
Cách làm
 
Dùng dao cắt ngang thân gốc tháp ở vị trí cách trên trục hạ diệp (phần thân to mềm, mọc ra đầu tiên từ hột) 2-3 cm. Chỗ cắt cách mặt đất 10-15 cm tùy theo trục hạ diệp dài hay ngắn. Dùng lưỡi lam vuốt mỏng dần 2 bên ngọn gốc tháp còn lại thành hình lưỡi gà mỏng, dài khoảng 2cm.
Dùng dây nylon buộc treo gốc tháp vào giàn ở vị trí thích hợp với cành tháp.
Dùng lưỡi lam cắt sâu vào giữa lõi cành tháp theo chiều xiên về phía ngọn cành, dài khoảng 2-2,5 cm để tạo miệng tháp. Luồn phần lưỡi gà của gốc tháp vào miệng tháp. Dùng vải nylon (rộng 1 cm, dài 50 cm) buộc miệng tháp lại từ dưới lên trên theo hình mái ngói để tránh đọng nước.
Tưới giữ ẩm thường xuyên bầu gốc tháp khoảng một tháng sau khi tháp có thể cắt đem bầu cây tháp xuống.
Phương pháp này có nhược điểm là dễ gãy nơi vết tháp nếu trồng trong vùng có gió mạnh (Duyên Hải, Sông Bé,...) dễ chết nếu trồng trong mùa mưa do vết tháp dễ nhiễm vi khuẩn.
 
* Tháp ngọn:
 
Tháp ngọn sử dụng gốc tháp 2-4 tháng tuổi và phải chuẩn bị cành tháp 10-20  ngày trước khi tháp (khấc, bón P, K). Đọt tháp chỉ cần một đoạn có mang lá non (phương pháp Thái Lan). Dùng dao bén hay lưỡi lam cắt ngang gốc tháp ở độ cao thích hợp sau đó chẻ ở vết cắt sâu 1,5 cm. Dùng dao bén vuốt đọt tháp thành dạng mũi nêm và đặt vào vết chẻ trên gốc tháp. Chú ý sao cho tượng tầng gốc tháp và ngọn tháp tiếp xúc với nhau. Sau đó dùng dây cao su quấn chặt chỗ tháp theo kiểu mái ngói. Phương pháp này có ưu điểm là không bị gẫy nơi vết tháp khi trồng sau này.
 
3.1.3. Phương pháp chiết cành
 
Mùa chiết
Từ tháng 3-10 dl (tốt nhất là tháng 3-4 dl).
Chọn cành chiết
Chọn cành mọc xiên ngoài tán khỏe mạnh, dài khoảng 1 mét, đường kính 5-10 mm, lá màu xanh vàng nhạt (mới chuyển từ non qua trưởng thành), lá đọt chưa nở. Nếu chọn cành có lá màu xanh đậm thì chiết khó ra rễ. Các nhánh chèo (nhánh thứ cấp) trên cành chiết cũng có lá non chưa nở ra.
 
Cách làm
 
Khoanh một đoạn vỏ dài 4-8 cm (tùy theo đường kính cành chiết). Chiều dài từ chỗ khoanh vỏ đến ngọn cành dài 50-70 cm. Khoanh theo kiểu tướt vỏ. Sau khi lột vỏ, dùng vải sạch lau tượng tầng libe (rất mỏng). Tránh cọ xát mạnh làm tổn thương lỏi cây dễ gây thối cành.
 
Sau khi khoanh vỏ để ráo nhựa khoảng 2-3 ngày. Tiến hành bó bầu bằng rơm trộn bùn sông (nên dùng rơm đã giặt sạch phơi khô và bùn không có phèn). Có thể sử dụng thuốc kích thích ra rễ của Đại học Cần Thơ (1.000 ppm NAA) lên phía trên vết khoanh trước khi bó bầu. Vài ngày sau, khi thấy rơm bó ngoài bầu chiết khô thì tiến hành bó nylon và che lá chuối khô phía trên bầu chiết (hướng nắng phía Tây để hạn chế ánh sáng) giúp rễ mọc ra. Tùy giống và mùa vụ, khoảng từ 35-40 ngày (nếu có sử dụng thuốc kích thích ra rễ) đến 45-60 sau thì bầu chiết ra rễ. Tiến hành cắt cành giâm vào bầu đất, che mát, được 1 tuần thì đưa dần ra nắng. Khoảng 1-2 tháng sau thì đem trồng.
 
Nếu chiết vào giai đoạn mưa nhiều (từ tháng 8 dl trở đi) nên dùng rễ lục bình bóc bầu để tránh quá ẩm gây thối. Các điểm cần lưu ý khi chiết cành.
 
- Chọn cành đúng tuổi (quan trọng)
- Bầu chiết bị thối do quá ẩm hay ngộ độc (do rơm tươi, rễ lục bình không được giặt sạch,...).
- Kiến làm tổ do che lá chuối khô gây hư hại cành chiết.
- Khả năng ra rễ còn tùy thuộc vào giống.
 
3.2. Chuẩn bị đất trồng
 
Có thể trồng liếp đơn hay liếp đôi. Nếu bố trí liếp đơn trồng 1 hàng, thì liếp rộng 5-6 m, mương rộng 2-3 m. Nếu liếp đôi trồng 2 hàng. Thì liếp rộng 10-12 m, mương rộng 4-5 m. Lưu ý xẻ thêm mương phèn trên liếp để thoát nước nhanh trong mùa mưa. Ở vùng cao, sầu riêng được trồng trên đất bằng thường có tuổi thọ cao hơn.
 
Cần trồng cây chắn gió (tre, lục bình,...) chung quanh vườn để chắn bốt gió, giảm việc rụng hoa, trái, tổn thương lá,...Trong những năm đầu cho trái nếu cây sai trái thì cần chống đỡ để tránh gãy nhánh.
 
Ở ĐBSCL nên trồng trên mô và bồi liếp tăng dần chiều dầy tầng canh tác, tránh úng rễ do nước ngập hàng năm. Trộn mỗi mô đất với tro trấu, phân chuồng hoai mục và khoảng 0,5 kg super lân. Mô rộng khoảng 1-2 m, cao 0,3-0,5 m tùy địa hình.
 
3.3. Trồng vă chăm sóc
 
3.3.1. Khoảng cách trồng
 
Khoảng cách cây cần thay đổi tùy loại cây giống. Khoảng cách trồng trung bình 8 x 8 m. Trồng một hàng trên liếp đơn hay hai hàng theo hình nanh sấu trên liếp đôi.
 
3.3.2. Trồng vă chăm sóc cây con
 
Loại bỏ vật liệu  làm bầu, đặt cây vào lỗ đào trên mô, lấp đất vừa quá mặt bầu cây con, ém đất xung quanh gốc. Cắm cục giữ cây, tưới đẫm nước. Dùng rơm hay cỏ khô đậy mô giữ ẩm. Cần che mát cây con trong thời kỳ đầu. Khi cây phát triển qua 1 mùa khô thì loại bỏ dần vật liệu che mát.
Nếu bứng bầu đất thì sau khi bứng nên để bầu cây con nằm ngang trên mặt đất ở nơi thoáng mát vài ngày mới trồng vào đất.
Che nắng hướng Tây trong 12 tháng đầu, nhất là vào các tháng nắng chiều, vì cây phát triển rất chậm trong điều kiện nắng gắt.
 
HIỆN TƯỢNG CHẾT CÂY CON SAU KHI TRỒNG
 
Cây sầu riêng con khi đem trồng thường có tỷ lệ chết cao. Hiện tượng này có thể do một hay nhiều nguyên nhân sau:
- Thiếu nước tưới hoặc tưới không đủ làm cây bị hốc. Trồng cây không che mát ở giai đoạn đầu. Đất không thoát nước tốt.
- Đất sét nặng làm rễ cây con kém phát triển, suy yếu dần. Đất nhiễm phèn, mặn, đất mới còn nhiều chất hữu cơ chưa hoai mục gây ngộ độc.
- Cây con có hệ thống rễ nhánh ít, nhất là cây chiết nhánh hoặc cấy tháp đọt, tháp cành. Rễ cây con tương đối giòn, dễ gãy khi vận chuyển bị sốc (đường xe). Cây con không được giữ chắc chắn sau khi trồng, bị gió thường xuyên sẽ làm lung lay rễ, tược tháp.
- Cây con bị thối rễ do nấm bệnh hoặc bị bệnh thán thư nặng (đốm lá) không hồi phục được.
- Bón quá nhiều phân nhất là phân đạm.
- Chọn đất tốt, nhẹ. Phần đất dưới đáy hố trồng cần làm tơi xốp. Nên bón lót phân lân, tro trấu.
- Cây con đem trồng cần có nhiều rễ nhánh.
- Nếu đường xa nên vận chuyển bằng ghe và nên giảm cây 2-3 tháng để dưỡng trước khi trồng.
- Tưới đủ nước
- Cây con cần được che mát tránh ánh nắng trực tiếp trong năm đầu tiên sau khi trồng. Buộc giữ cây chắc chắn.
- Tránh bón quá nhiều phân, bón phân chia làm nhiều lần. Nên pha phân để tưới trong giai đoạn đầu.
- Phòng trị các loại nấm gây hại ở giai đoạn liếp ương (đối với cây tháp) như :Sclerotium, Rhizoctonia, Pythium, Fusarium và thán thư (colletotricum).
 
Sưu tầm: Từ Hội nông dân Cần thơ

Thứ Hai, 24 tháng 9, 2012

Bản tin thị trường Cà Phê tuần 38 (17/9 – 22/9/2012)

Bản tin thị trường Cà Phê tuần 38 (17/9 – 22/9/2012)


Bản tin thị trường cà phê tuần 38 (17/9 – 22/9/2012) by DĐCP | Ban tin thi truong ca phe tuan 38 (17/9 – 22/9/2012)

Biến động trong tuần cho thấy giá cà phê Arabica vẫn còn xu thế suy yếu trong khi giá cà phê Robusta giữ vững ở mức cao.
 
Biểu đồ giá cà phê Robusta kỳ hạn tháng 11/2012 tuần 38 (17 – 22/09/2012)

- Đầu tuần, giá cà phê thế giới sụt giảm trên cả 2 sàn chủ yếu do nhà đầu tư bán ra.

 - Tại sàn Liffe NYSE London, giá cà phê Robusta kỳ hạn giao tháng 11 giảm 19 USD, tương đương 0,92%, xuống 2.064 USD/tấn và kỳ hạn giao tháng 1/2013 giảm 16 USD, tương đương 0,77%, còn 2.081 USD/tấn. Tại sàn Ice New York, giá cà phê Arabica kỳ hạn giao tháng 12 giảm 5,45 cent, tức giảm 3,1 %, xuống 175,65 cent/lb và kỳ hạn giao tháng 3/2013 giảm 5,25 cent, tức giảm 2,92 %, xuống còn 179,6 cent/lb.

- Trong khi giá cà phê London chỉ giảm nhẹ do hoạt động chốt lời thì giá cà phê New York giảm rất mạnh do nhà đầu tư bán tháo sau khi giá không đạt được mức cao 8 tuần.

- Giữa tuần, giá cà phê thế giới sụt giảm khá sâu do nổi thất vọng khi nhà đầu tư đặt cược quá nhiều vào gói QE3. Giá cà phê Robusta kỳ hạn giao tháng 11 giảm 47 USD xuống còn 2.017 USD/tấn và giao tháng 1/2013 giảm 45 USD xuống còn 2.036 USD/tấn, đây là mức giá cà phê Robusta thấp nhất tuần.

- Tương tự, giá cà phê Arabica kỳ hạn giao tháng 12 giảm 7,05 cent xuống còn 168,6 cent/lb và kỳ hạn giao tháng 3/2013 cũng giảm 7,05 cent xuống còn 172,55 cent/lb, đây cũng là mức giá cà phê Arabica thấp nhất tuần.

- Không chỉ giá cà phê mà còn giá cả nhiều hàng hóa khác cũng sụt giảm khiến nhà đầu tư tỏ ra nghi ngờ hiệu quả của các giải pháp được tuyên bố là “không hạn chế” của FED lẫn ECB.

- Cuối tuần, nhờ sự đồng loạt áp dụng biện pháp kích cầu của nhiều nền kinh tế lớn mà giá cả thị trường hàng hóa thế giới trong đó có giá cà phê hồi phục mạnh mẽ. Tại London, giá cà phê Robusta kỳ hạn giao tháng 11 tăng 66 USD, tương đương 3,27%, lên lại mức 2.083 USD/tấn và giao tháng 1/2013 tăng 63 USD, tương đương 3,09%, lên mức 2.099 USD/tấn. Tại New York, giá cà phê Arabica kỳ hạn giao tháng 12 tăng 4,7 cent, tức tăng 2,71%, lên 173,3 cent/lb và kỳ hạn giao tháng 3/2013 tăng 4,85 cent, tức tăng 2,73%, lên 177,4 cent/lb.

- Báo cáo tồn kho của Liffe tiếp tục sụt giảm và lượng hàng xuống tàu của Việt Nam thường rơi vào vùng thấp nhất trong những tháng giáp hạt đã hỗ trợ cho giá cà phê Robusta. Trong khi sản lượng vụ mùa của Colombia không đạt như dự kiến và thông tin nông dân Brazil được hỗ trợ tín dụng để hạn chế bán ra vùng giá thấp giúp cho giá Arabica không giảm sâu.

- Ngày càng thấy rõ xu thế của các nước sản xuất và xuất khẩu cà phê là tìm kiếm đường đi riêng của mình, nhằm hạn chế sự chi phối của đầu cơ tài chính lên giá cà phê, buộc các sàn giao dịch cà phê thế giới phải có biện pháp khả dĩ hơn. - Giá cà phê R2 xuất khẩu, 5% đen vỡ có giá 2.055 USD/tấn, với trừ lùi 30 USD theo giá tháng 11 của London.

- Giá cà phê tại các tỉnh Tây nguyên quay lại mức 42.100 - 42.200 đồng/kg nhân xô. - Tính chung cả tuần, giá cà phê Robusta London giao tháng 11 không thay đổi và giao tháng 1/2013 chỉ tăng 2 USD ; giá cà phê Arabica giao tháng 12 giảm 7,8 cent và giao tháng 3/2013 giảm 7,45 cent ; trong khi giá cà phê nhân xô trong nước giảm 300 đồng và giá cà phê xuất khẩu vẫn không thay đổi.

- Theo Hiệp hội chè-cà phê Nga, cho dù năm nay Brazil được mùa và các nước vùng Trung Mỹ bội thu nhưng ước tính nhu cầu cà phê thế giới sẽ lên tới 137,1 triệu bao, vẫn còn thiếu hụt 5,5 triệu bao (bao = 60kg).

Thông tin về Cua Huỳnh Đế

Thông tin về Cua Huỳnh Đế


Thông tin về Cua Huỳnh Đế by TSTB | Thong tin ve cua huynh de
1. Phân loại
- Ngành: Arthropoda
- Lớp: Malacostraca
- Bộ: Decapoda
- Họ: Raninidae
- Giống: Ranina
- Loài:Ranina ranina Linnaeus, 1758
- Tên gọi:
+ Tên Tiếng Anh: Red frog crab
+ Tên Tiếng Việt: Cua huỳnh đế
+ Tên khác: Spanner crab

2. Đặc điểm sinh học và phân bố
a) Đặc điểm sinh học
- Cua huỳnh đế to bằng bàn tay xòe, mình khum tròn, nhìn giống con bọ khổng lồ hay có con hình dáng như loài rùa, đầu cua hơi chúi xuống, có màu đỏ hồng, mai hình vuông, càng và que ngắn, đầu cua dài và có nhiều râu. Cua Huỳnh đế có những con ở vùng biển nước sâu nặng hơn 1 ký.
 

- Cua có bộ áo giáp dày và cứng có màu vàng rực như hoàng bào hay chiến bào, li ti gai nhọn xuôi theo thân, que và càng to, cạnh sắc lẻm như dao. Thịt cua huỳnh đế thơm ngon, bổ dưỡng, thớ thịt cua săn chắc, trắng muốt nhô và độ đạm cao.

b) Phân bố
Cua phân bố nhiều ở vùng biển phía Đông Nam Thái Bình Dương. Ở Việt Nam, cua Huỳnh đế xuất hiện nhiều ở vùng biển sạch, có đáy cát vàng và nguồn nước trong xanh như các vùng biển Quy Nhơn (Bình Định), Tuy Phong (Bình Thuận), Sa Huỳnh (Quảng Ngãi). Đây là một loài hải sản có giá trị kinh tế cao và được làm nguyên liệu chế biến thành những món đặc sản.

c) Tập tính
Cua Huỳnh đế chỉ rộ nhất vào mùa xuân, khoảng từ tháng 12 đến tháng 3 âm lịch ở Việt Nam. Thông thường những tháng mùa xuân, biển trở ngọn gió nồm, rất êm nên khuyến khích loại cua sinh sản và đi tìm thức ăn.

3. Hiện trạng
- Cua huỳnh đế là đặc sản từ vùng biển Quảng Ngãi đến Bình Định. Loài cua này trước đây dùng để tiếng cống cho các vị vua ở Việt Nam vì tương truyền họ ăn thấy ngon, tốt cho sức khỏe. Cua huỳnh đế có thể chế biến các món như rang me, rang muối, nướng... nhưng ngon nhất và đơn giản trong chế biến vẫn là món hấp ăn với muối tiêu ớt xanh hoặc luộc lấy thịt phi hành, gia vị rồi nấu cháo. So với các loại hải sản khác, cua Huỳnh đế khẳng định đẳng cấp về chất lượng mà lâu nay được ví ngang với cá tuyết đen, cá hồi đỏ...

- Về khai thác ở Việt Nam, khoảng cuối đông đến tháng tư năm sau, khi gió xuân về là lúc ngư dân vào mùa đánh bắt cua huỳnh đế. Giã cào, lưới đánh đằm... là những phương tiện đánh bắt cua thường thấy. Ngư dân miền Trung Việt Nam có thể đánh bắt bằng lưới giã cào, nhưng để có được những chú cua với số lượng nhiều, chắc thịt thì phải dùng một dụng cụ gọi là rập. Rập để bẫy cua huỳnh đế có hình dạng như chiếc nón, được gắn mồi tươi ở chính giữa. Mỗi thuyền ra khơi thường trang bị từ 200 - 300 cái rập, khi thả mỗi cái cách nhau chừng 5m. Cua rúc vào đó ăn mồi và sập bẫy trong các rập.

Chủ Nhật, 23 tháng 9, 2012

Giải pháp phát triển Cà Phê bền vững

Giải pháp phát triển Cà Phê bền vững


Giải pháp phát triển cà phê bền vững by DL24h | Giai phat phat trien ca phe ben vung

Ngày 22/4, tại thành phố Buôn Ma Thuột, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã phối hợp với tỉnh Đắk Lắk tổ chức Hội nghị đánh giá kết quả sản xuất càphê năm 2010 và bàn giải pháp phát triển càphê bền vững trong thời gian tới.


- Hội nghị đã thống nhất quy hoạch phát triển càphê Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 là không mở rộng diện tích, chỉ trồng thay thế hoặc tái canh những diện tích càphê già cỗi ở những nơi có điều kiện sinh thái phù hợp, giảm diện tích càphê ở những nơi đất xấu, không có nguồn nước tưới, diện tích bị sâu bệnh nặng để chuyển sang cây trồng khác mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn.

- Theo kế hoạch, quy mô diện tích càphê của Việt Nam đến năm 2030 giảm xuống chỉ còn 480.000ha, giảm trên 75.000 so với năm 2010, nhưng thực hiện đồng bộ các biện pháp thâm canh để sản lượng không thay đổi, phấn đấu đạt trên 1,1 triệu tấn càphê nhân như hiện nay.

- Hội nghị cũng đã xác định 4 địa phương Đắk Lắk, Lâm Đồng, Đắk Nông và Gia Lai là vùng trọng điểm (hiện nay, các địa phương này đã chiếm 90% diện tích và 92% sản lượng càphê của cả nước) và ngoài vùng trọng điểm có các địa phương Kon Tum, Đồng Nai, Bình Phước, Bà Rịa-Vũng Tàu, Quảng Trị, Sơn La, Điện Biên.

- Hội nghị cũng thống nhất trong những năm tới mở rộng diện tích càphê chè ở những nơi có điều kiện để đến năm 2020 đưa diện tích càphê chè tăng lên 40.000ha (chiếm khoảng 8% tổng diện tích càphê của cả nước), càphê vối chiếm 92% diện tích.

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng đã chỉ đạo các ngành chức năng, các địa phương kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ chất lượng cây giống càphê, khẩn trương triển khai, tập huấn để người sản xuất áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác càphê bền vững, nhất là các biện pháp tưới nước tiết kiệm, bón phân hợp lý, trồng cây che bóng, quản lý dịch hại tổng hợp, thực hiện tốt quy trình "3 giảm-3 phải-3 tăng”, trong đó, giảm phân bón - nước tưới - thuốc bảo vệ thực vật, phải trồng mới bằng giống tốt - phải trồng cây che bóng - phải thu hoạch đúng độ chín, tăng chất lượng - hiệu quả - sức cạnh tranh.

- Từng địa phương có cơ chế chính sách phù hợp để khuyến khích mở rộng thực hiện các chương trình sản xuất càphê có chứng nhận: VietGap, càphê Utz, 4C…

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng chỉ đạo Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên tiếp tục triển khai dự án phát triển giống càphê, tập trung nhân, chuyển giao nhanh các giống càphê vối có năng suất, chất lượng cao đã được
- Nhà nước công nhận như TR4, TR5, TR6, TR9, TR11, TR12, TR13 để cung cấp cho các địa phương làm nguồn giống đầu dòng.

- Hội nghị cũng đã thống nhất các giải pháp tái canh, phát triển các hình thức liên kết hợp tác trong sản xuất, chế biến, xuất khẩu càphê, cần vận hành Sàn giao dịch càphê Buôn Ma Thuột có hiệu quả hơn để tạo điều kiện cho người thu mua, xuất khẩu tiếp cận trực tiếp với các thị trường Life, NY vag với các nhà rang xay lớn trên thế giới.

- Hội nghị cũng đề xuất, kiến nghị với Chính phủ cho phép xây dựng Chương trình tái canh càphê giai đoạn 2011 - 2020, có cơ chế chính sách, nguồn lực để đảm bảo tái canh thành công 100.000 ha càphê trong 10 năm đến. Bố trí nguồn vốn tín dụng quay vòng với lãi suất ưu đãi để cho các doanh nghiệp vay, chủ động mua tạm trữ càphê khi cần thiết nhằm can thiệp kịp thời khi giá càphê xuống thấp, khó tiêu thụ, góp phần ổn định đời sống của người sản xuất càphê…

- Theo báo cáo tại Hội nghị, hiện nay, cả nước có 555.065ha càphê, tăng 18.000ha, trong đó, diện tích càphê kinh doanh có 517.390ha, tăng 13.000ha so với niên vụ càphê 2009 - 2010. Trong đó, Đắk Lắk là địa phương có diện tích càphê nhiều nhất với trên 190.765ha (177.890ha càphê kinh doanh), kế đến là tỉnh Lâm Đồng có diện tích 142.900ha, trong đó có 135.500ha càphê kinh doanh.

- Năng suất bình quân niên vụ càphê 2010 của cả nước đạt 21,2 tạ nhân/ha, tăng 3,1% và đạt sản lượng trên 1,1 triệu tấn càphê nhân, tăng 4,6% so với năm 2009, trong đó, Đắk Lắk là địa phương có sản lượng càphê nhiều nhất, với gần 400.000 tấn càphê nhân.

Thứ Sáu, 21 tháng 9, 2012

Một số bệnh thường gặp ở Thỏ

Một số bệnh thường gặp ở Thỏ 

Một số bệnh thường gặp ở Thỏ by ST | Mot so benh thuong gap o tho

1. Bệnh tụ huyết trùng
- Nguyên nhân: do vi khuẩn Pasteurella multocida gây ra, bệnh lây lan nhanh qua đường hô hấp. Bệnh có thể xảy ra trên mọi lứa tuổi của thỏ và được xem là bệnh nguy hiểm bật nhất đối với thỏ.

 
- Triệu chứng: Thỏ kém ăn, sốt cao 41 – 42 độ C, khó thở, kết mạc mắt đỏ, chảy nước mũi có lẫn dịch nhờn, tiêu chảy , gầy yếu dần và chết sau 2 – 5 ngày thể hiện bệnh. Bệnh ở thể cấp tính thỏ chết rất nhanh chỉ trong vài giờ biểu hiện bệnh, hầu như không thể hiện rõ triệu chứng.

- Phòng bệnh: không nên nhốt thỏ vào chuồng gà, chuồng heo vì có nguy cơ lây bệnh từ các loại vật nuôi này. Tăng sức đề kháng cho thỏ bằng cách định kỳ cho thêm vitamin vào thức ăn, hoặc hòa vào nước uống của thỏ. Đặc biệt, vào các thời điểm giao mùa nên sử dụng các kháng sinh (Streptomycin, Kanamycin…) với liều phòng bằng 1/2 liều điều trị để phòng bệnh. Đồng thời, người nuôi cần tăng cường công tác sát trùng tiêu độc chuồng trại bằng các dung dịch như nước Javen (thuốc tẩy quần áo), phenol 2 %, hoặc formol,… Chúng ta có thể phòng bệnh cho thỏ bằng cách tiêm phòng vacxin.

- Cách điều trị: sử dụng thuốc đặc trị Streptomycin với liều 0,01g/ kg thể trọng, hoặc dùng Kanamycin với liều 0,05g/kg thể trọng, hoặc có thể oreomixin, teramixin ... để điều trị.

2. Bệnh ghẻ
 - Nguyên nhân: do một số loại ký sinh trùng ngoại sinh gây ra, ghẻ đầu do loài ký sinh trùng Notoedres gây ra, bệnh thường xuất hiện ở mí mắt, mũi, mép, móng chân, gót chân, da vùng hậu môn và cơ quan sinh dục, ghẻ tai do loài Psoroptes ký sinh, gây bệnh ở lỗ tai và vành tai. Bệnh thường xảy ra khi điều kiện chăn nuôi vệ sinh kém, bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi của thỏ.

  
- Triệu chứng: Bệnh xảy ra khá phổ biến trên thỏ, thường xuất hiện vào mùa hè. Bệnh không gây chết thỏ ngay nhưng thiệt hại về kinh tế rất lớn, do mức độ lây lan trong đàn rất nhanh, làm thỏ gầy yếu, chậm lớn. Một số dấu hiều để nhận biết thỏ bệnh: thỏ thường gãy ngứa, rụng lông và đóng vảy. Ở các điểm ghẻ ban đầu thấy rụng lông, sau đó thấy các vảy rộp máu trắng xám, dầy dần lên và khô cứng lại. Đôi khi dưới vảy ghẻ có mủ do nhiễm trùng gây viêm da. Thỏ không yên tĩnh, kém ăn, gầy dần và chết.

- Phòng bệnh: thỏ nuôi cần được đảm bảo vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt. Chuồng nuôi phải khô ráo, sạch sẽ, thoáng mát, mật độ nuôi vừa phải. Thường xuyên kiểm tra, cách ly và điều trị kịp thời những con có biểu hiện bệnh. Có thể sử dụng thuốc Ivermectin để phòng bệnh ghẻ với liều phòng bằng 1/2 liều điều trị, cách 3 tháng tiêm lặp lại.

- Cách điều trị: thuốc đặc trị là Ivermectin 2.5 (hoặc Bivermectin), sử dụng tiêm dưới da. Liều dùng: 1 ml/ 12 - 15 kg thể trọng, tiêm dưới da. Ngoài ra có thể dùng hỗn hợp gồm 1 phần iodoform, 10 phần ête, và 25 phần dầu thực vật để bôi vào vết ghẻ. Sau khi các vết ghẻ bong da thì lặp lại điều trị một lần nữa kéo dài 6 - 10 ngày, hoặc lau vết thương bằng xà phòng khi vẫy (mài ghẻ) đã mềm thì nhẹ nhàng lấy ra, sau đó bôi dung dịch benzoat benzin. Giữ vệ sinh chuồng trại sạch sẽ và cách ly những con thỏ bị bệnh.

 3. Bệnh tiêu chảy, bụng chướng hơi
- Nguyên nhân: Bệnh xảy ra do thỏ ăn phải thức ăn chất lượng xấu; thức ăn bị chua, ôi thiu, ẩm mốc có độc tố; hoặc do thay đổi thức ăn quá đột ngột làm rối loạn tiêu hóa. Các loại thức ăn thô xanh chưa xử lý chứa quá nhiều nước cũng có thể là nguyên nhân gây bệnh. Bệnh tiêu chảy thường xảy ra trên thỏ giai đoạn sau cai sữa và thỏ trưởng thành.

- Triệu chứng: Thỏ bị chướng hơi, bụng phình to, không yên tĩnh, khó thở, chảy nước dãi ướt lông quanh 2 mép và thỏ bị tiêu chảy. Hiện tượng tiêu chảy có nhiều dạng: Phân lỏng, màu xám lẫn màng nhày, bọt khí, lòng dạ dày có chất nhày trắng, ruột có màu hồng; Phân ra ít, lỏng, mềm, bụng thỏ căng, ruột tích hơi, chảy máu; Phân lỏng như nước, màu đen, rất hôi thối. Thỏ có thể chết nhanh do mất nước, chất điện giải và ngạt thở.

- Phòng bệnh: Sử dụng thức ăn sạch, đảm bảo chất lượng, hợp vệ sinh; Khi thay đổi nguồn thức ăn, cần chuyển tiếp từ từ cho thỏ quen dần; cần phơi hoặc dự trữ trước 1 ngày đối với các loại thức ăn xanh có chứa quá nhiều nước.

- Điều trị: Ngưng ngay các loại thức ăn, nước uống và những yếu tố gây mất vệ sinh. Có thể sử dụng Streptomycin pha loãng cho uống 2 – 4 lần/ ngày, hoặc cho uống ta-nin 1%, hoặc xintominxin, biomixin theo hướng dẫn của nhà sản xuất, kết hợp với việc sử dụng nước chiết xuất từ các loại lá có chất chát như búp ổi, búp trà,... và tiêm hoặc uống Vitamin A, B để tăng sức đề kháng.

4. Bệnh xuất huyết truyền nhiễm (Rabbit Hemorrhagic Disease – RHD)
 - Nguyên nhân: Bệnh xuất huyết truyền nhiễm (PHD) do vi rút Calicivirus gây ra. Theo Ngô Đức 2012. Bệnh xuất huyết do vi rút trên thỏ do vi rút Calicivirus là một bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm cho cả thỏ nuôi và thỏ hoang dại. Mần bệnh tấn công lên thỏ ở mọi lứa tuổi, tuy nhiên những biểu hiện lâm sàng chỉ quan sát được ở thỏ từ 2 tháng tuổi trở lên. Tỷ lệ chết trong đàn thỏ nuôi bị nhiễm bệnh có thể biến động từ 40 – 100%.

- Phương thức truyền lây bệnh: bệnh có thể lây truyền bằng nhiều con đường khác nhau, lây trực tiếp do tiếp xúc trực tiếp với thú bệnh hoặc gián tiếp thông qua xác thú đông lạnh hoặc các sản phẩm từ thỏ bênh; qua trang thiết bị, thức ăn bị nhiễm mầm bệnh; qua các véc tơ truyền bệnh từ chuột, người nuôi… Vi rút hiện diện trong dịch bài tiết, máu và nội tạng, trong giai đoạn muộn, vi rút có thể tìm thấy ở da và niêm mạc. Khả năng lây bệnh qua không khí và côn trùng trung gian chưa được chứng minh.

- Triệu chứng: bệnh có thể biểu hiện dưới 3 thể lâm sàng.
+ Thể siêu cấp tính: thỏ chết đột ngột sau khi bị nhiễm 10 - 12 giờ mà không có triệu chứng lâm sàng nào, biểu hiện rõ nhất là thỏ giãy giụa mạnh trước khi chết. Thể này thường gặp vào giai đoạn đầu của ổ dịch.
+ Thể cấp tính: thỏ sốt cao 41 độ C; lúc đầu thỏ có biểu hiện lờ đờ, di chuyển chậm chạp, trước khi chết trở nên bị kích động, chạy khắp chuồng, co giật, run cơ, kêu ré lên. Một vài thỏ có biểu hiện nghẹt thở do xoang mũi có dịch lẫn máu và bọt. Thể này thường xảy ra ở giai đoạn giữa của vụ dịch.
+ Thể mãn tính: thường thấy ở thỏ con dưới 3 tháng tuổi có trọng lượng cơ thể từ 1,0 - 2 kg và thường xảy ra ở giai đoạn sau của vụ dịch. Thỏ bị bệnh lờ đờ, giảm ăn và biếng ăn trong 1 - 2 ngày, biểu hiện gầy mòn, xù lông và tử vong.
+ Bệnh tích: Niêm mạc khí quản xuất huyết nặng, có thể chứa bọt lẫn máu; Phổi sung huyết, xuất huyết điểm kèm theo phù; Tim sung huyết, có thể kèm theo xuất huyết điểm ở nội tâm mạc; Tuyến ức phù dịch keo; Lách sưng to, sung huyết màu tím xanh; Gan sưng to, dễ vỡ, bề mặt nhám, xuất huyết nặng; Túi mật sưng to và dày; Tử cung ở thỏ có chửa sung huyết màng nhầy kèm theo xuất huyết điểm, chết thai; Thận sưng to từng phần, màu tím nhạt, sung huyết, xuất huyết điểm đầu đinh ghim ở vỏ thận; Bàng quang ứ đọng nước tiểu.

- Phòng trị bệnh: Khi thỏ đã phát bệnh việc điều trị hầu như không có kết quả do mầm bệnh là virus, vì vậy người nuôi chỉ phòng bệnh cho thỏ. Việc phòng bệnh xuất huyết thỏ trước tiên là áp dụng các biện pháp an toàn sinh học như: Kiểm dịch, cách ly nghiêm ngặt, không nhập thịt thỏ, con giống, thức ăn ở những vùng đang có dịch bệnh; công tác vệ sinh, sát trùng chuồng trại định kỳ, dùng các loại thuốc sát trùng chuồng trại theo hướng dẫn của cán bộ thú y hoặc có thể dùng Benkocid theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Tiêm vắc xin phòng bệnh cho thỏ là phương pháp phòng bệnh quan trọng nhất. Liều dùng 1 ml/ 1 con thỏ từ 2 tháng tuổi trở lên, tiêm dưới da hoặc bắp thịt, cách 4 – 6 tháng có thể tiêm lặp lại.

* Lưu ý: Hiệu quả tốt nhất đối với người nuôi thỏ áp dụng phương pháp phòng là quan trọng nhất. Cần tiêm vắc xin phòng bệnh cho thỏ khi thỏ đạt từ 2 tháng tuổi trở lên, tiêm dưới da hoặc bắp thịt, cách 4 – 6 tháng có thể tiêm lặp lại.

Đặc điểm sinh học Tôm Hùm

 Đặc điểm sinh học Tôm Hùm


Đặc điểm sinh học tôm hùm by BNN | Dac diem sinh hoc tom hum

 I. Đặc điểm sinh học 
1.1. Vị trí phân loại
Tôm hùm là tên gọi chung của nhóm giáp xác mười chân thuộc 4 họ: Palinuridae, Scyllaridae, Nephropidae và Synaxidae, giữa chúng có những điểm đặc trưng về tập tính và môi trường sống. Với sự phong phú về thành phần giống loài, chúng tạo nên mắt xích quan trọng trong chuỗi thức ăn và có vai trò thiết yếu trong hệ sinh thái của biển và đại dương. Ở Việt Nam, cho đến nay đã xác định được 9 loài thuộc họ tôm hùm gai (Palinuridae), 9 loài thuộc họ tôm mũ ni (Scyllaridae) và 4 loài thuộc họ Nephropidae. Trong đó, một số loài thuộc họ tôm hùm gai được nuôi phổ biến hiện nay như tôm hùm Bông (tôm hùm Sao, tôm hùm Hèo), tôm hùm Đá (xanh chân ngắn), tôm hùm Đỏ (hùm lửa), tôm hùm Sỏi (xanh chân dài, hùm ghì), tôm hùm Tre (Tề Thiên). Sau đây là vị trí phân loại một số loài tôm hùm nuôi ở Việt Nam:
- Ngành chân đốt (Arthropoda)
- Lớp giáp xác (Crustacea)
- Bộ mười chân (Decapoda)
- Họ tôm hùm gai (Palinuridae)
- Giống Panulirus
+ Loài P. ornatus (Fabricius, 1798) - tôm hùm Bông
+ Loài P. homarus (Linnaeus, 1758) - tôm hùm Đá
+ Loài P. longipes (A. Milne Edwards, 1868) - tôm hùm Đỏ
+ Loài P. stimpsoni Holthuis, 1963 - tôm hùm Sỏi
+ Loài P. polyphagus (Herbst, 1793) - tôm hùm Tre  


1.2. Hình thái

 
 Cơ thể tôm hùm Panulirus spp. chia thành phần đầu ngực và phần bụng. Phần đầu ngực gồm 14 đốt hợp lại với nhau, mỗi đốt có một đôi phần phụ ngực; 6 đốt đầu tiên tạo nên phần đầu và 8 đốt cuối tạo nên phần ngực. Các phần phụ trên phần đầu ngực gồm có: 5 đôi chân bò; 1 đôi mắt kép có thể cử động, bất động, hoặc co ngắn lại; có 2 đôi anten, anten thứ nhất có phân nhánh, anten thứ hai rất dài và có nhiều gai nhỏ; phần miệng có hàm trên, hàm dưới và các mảng chân hàm. Phần bụng gồm có 6 đốt, các đốt được bảo vệ bằng lớp vỏ kitin ở cả phần lưng, phần bên và phần bụng. Từ đốt bụng thứ 2 đến thứ 5 có 4 đôi chân bơi, đốt bụng thứ 6 biến thành chân đuôi và telson rất cứng và chắc chắn.

II. Đặc điểm dinh dưỡng, sinh trưởng và sinh sản 
2.1. Đặc điểm dinh dưỡng 
- Trong tự nhiên, tôm hùm là động vật ăn tạp, thường đi kiếm ăn và ăn mồi nhiều vào chiều tối; chúng thích các loại mồi sống như tôm, cua, ghẹ đang lột xác, sò, vẹm hoặc cá rạn,...

- Thức ăn là nguồn cung cấp năng lượng duy nhất cho tôm hùm sinh trưởng và phát triển. Tuy nhiên, chúng chỉ sử dụng 7 - 10% lượng thức ăn ăn vào cho tăng trọng cơ thể; còn lại tiêu tốn vào các quá trình hoạt động sống khác. Nhu cầu dinh dưỡng của tôm hùm khác nhau tùy từng giai đoạn phát triển, tôm càng nhỏ nhu cầu dinh dưỡng càng cao, ở giai đoạn trước lột xác 2 - 5 ngày tôm ăn rất mạnh và ngược lại ở giai đoạn lột xác chúng sẽ ăn ít lại.

2.2. Đặc điểm sinh trưởng 
 - Sinh trưởng của tôm hùm đặc trưng bởi quá trình lột xác, qua đó có sự tăng lên về kích thước và trọng lượng. Chu kỳ lột xác của mỗi loài tôm hùm phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh như: nhiệt độ nước, ánh sáng, độ mặn, thức ăn,.... và các yếu tố nội tại của cơ thể như sự điều tiết của các hormon lột xác hay hormon ức chế lột xác,... Các yếu tố này luôn có mối quan hệ mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau. Chu kỳ lột xác của các loài hay giữa các giai đoạn khác nhau của từng loài không giống nhau. Ở giai đoạn tôm con (chiều dài giáp đầu ngực - CL = 8-13 mm), thời gian giữa hai lần lột xác của tôm hùm Bông và tôm hùm Đá khoảng 8 - 10 ngày, tôm hùm Sỏi khoảng 15 - 20 ngày. Còn ở giai đoạn tôm lớn (63 - 68 mm CL) thời gian giữa 2 lần lột xác tương ứng là khoảng 40 ngày và 50 ngày.


- Các yếu tố môi trường có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của tôm hùm, đặc biệt ở giai đoạn tôm con, những thay đổi đột ngột của môi trường thường dẫn đến tôm chết. Chẳng hạn như khi nhiệt độ tăng lên 3 – 5 độ C, hoặc nồng độ muối tăng lên 8-10‰ hầu như tôm con đều bị chết. Độ muối thấp 20 - 25‰ kéo dài 3 - 5 ngày cũng gây nên tình trạng chết từ từ ở tôm con. Giai đoạn trưởng thành khi độ mặn giảm xuống 20‰ tôm hùm rất yếu và không bắt mồi.

2.3. Đặc điểm sinh sản 
Dọc biển miền Trung, rải rác quanh năm đều có thể bắt gặp tôm hùm ôm trứng. Các loài tôm hùm khác nhau thì kích cỡ tham gia sinh sản lần đầu và mùa vụ sinh sản cũng khác nhau. Chẳng hạn, ở loài tôm hùm Bông (Panulirus ornatus), kích cỡ tham gia sinh sản lần đầu của con đực là 110,6 mm CL và ở con cái là 97,3 mm CL (chiều dài giáp đầu ngực); ở tôm hùm Đá (P. hormarus) kích cỡ tham gia sinh sản lần đầu khoảng 66,7 mm CL ở con đực và 56,9 mm CL ở con cái. Đỉnh cao sinh sản của loài tôm hùm thường tập trung vào tháng 4 và tháng 9 hàng năm, riêng tôm hùm Sỏi đỉnh cao sinh sản xuất hiện vào tháng 5 và tháng 6. Sức sinh sản của tôm hùm tương đối lớn, chúng có thể đẻ từ 2 đến nhiều lần trong năm. Khi sinh sản, trứng được giữ ở các chân bơi, sau một thời gian trứng sẽ nở ra ấu trùng và ấu trùng sẽ trải qua các giai đoạn biến thái để trở thành tôm con.

3. Đặc điểm môi trường vùng phân bố tôm hùm 
Hầu hết các giống có thành phần loài phong phú thuộc họ tôm hùm Gai (Palinuridae) đều tập trung ở vùng biển nhiệt đới. Chúng sống từ vùng trung triều đến vùng biển sâu tới 3.000 m, thành bầy đàn trong hang để bảo vệ nhau và trốn tránh kẻ thù. Tìm hiểu về môi trường vùng phân bố tôm hùm sẽ giúp hiểu được những đặc điểm sinh thái tự nhiên của chúng, từ đó lựa chọn được vùng nuôi có đặc điểm môi trường thích hợp, đồng thời điều chỉnh các thông số như độ sâu, độ mặn,... theo từng giai đoạn phát triển, giúp tôm thích nghi tốt với điều kiện nuôi lồng.

3.1. Nền đáy 
Cấu tạo nền đáy là một trong những yếu tố môi trường quan trọng, quyết định sự phân bố của tôm hùm, đặc biệt là tôm hùm trưởng thành. Tôm hùm thường tập trung chủ yếu trong các hang hốc có nền đáy là đá, san hô, đá tảng, bùn, cát hoặc thảm thực vật (tảo bẹ). Riêng tôm hùm Bông (Panulirus ornatus), tôm hùm Đá (P. homarus), tôm hùm Đỏ (P. longipes) và tôm hùm Sen (P. versicolor) thường sinh sống ở những hang đá tảng và hang đá nhỏ có ánh sáng rọi tới; tôm hùm Tre (P. polyphagus) lại thích vùi mình dưới cát vì thế hay gặp loài này phân bố ở những vùng đáy cát, đá cuội có rong phát triển.

3.2. Độ sâu 
 - Độ sâu có ảnh hưởng đến sự phân bố của các loài tôm hùm trong tự nhiên. Ở giai đoạn tôm con, chúng phân bố ở độ sâu 1 - 5m nước, nhưng đến giai đoạn trưởng thành thì hầu hết các loài tôm hùm phân bố ở độ sâu trong khoảng từ 5 - 100m nước, cá biệt cũng gặp ở độ sâu đến 180 - 400m như loài Panulirus delagoae. Nghiên cứu của một số tác giả cho thấy, ở vùng biển miền Trung Việt Nam, tôm hùm con bắt gặp ở độ sâu từ 0,5 - 5m nước.

- Tuy nhiên, trong cùng một vùng nhưng các loài khác nhau lại sống ở độ sâu khác nhau, theo mức độ tăng dần như sau: tôm hùm Sỏi (Panulirus stimpsoni); tôm hùm Bông (P. ornatus); tôm hùm Đá nhỏ (P. homarus); tôm hùm Đỏ (P. longipes), khoảng 4 - 6m sâu. Do vậy, khi ương nuôi tôm hùm cần chú ý đến độ sâu khi đặt lồng, thường ở 2 - 3m. Giai đoạn trưởng thành, tôm hùm phân bố ở độ sâu trên 10m cho tới 35 - 50m, thường là các rạn san hô, ven bờ và hải đảo.

3.3. Nhiệt độ nước 
- Nhiệt độ nước là một trong những tham số sinh thái quan trọng, quyết định sự phân bố của các giống tôm hùm trong họ Palinuridae. Hầu hết các loài thuộc giống Panulirus sống ở vùng nước ấm, nhiệt độ dao động từ 20 – 30 độ C, trung bình khoảng 25 độ C, đó là những vùng thềm lục địa, vĩ độ thấp khoảng 35 – 40 độ.

- Ở vùng biển miền Trung nước ta, những số liệu điều tra cho thấy, nhiệt độ nước trong vùng phân bố tự nhiên của tôm hùm Bông nhỏ dao động từ 24 – 31 độ C; còn của tôm hùm trưởng thành từ 26 – 29 độ C vào mùa hè và khoảng 22 – 27 độ C vào mùa đông. Hơn nữa, khi nhiệt độ nước thay đổi đột ngột, chẳng hạn như tăng lên 3 – 5 độ C thì hầu như tôm hùm con các loài đều bị chết, khi giảm nhiệt độ nước xuống 5 độ C pha lột xác của tôm hùm sẽ chậm dần và dừng lại hoàn toàn.

3.4. Độ mặn 
- Độ mặn là một trong những yếu tố gây ảnh hưởng mạnh đến đời sống của tôm hùm, đặc biệt là tôm con. Những số liệu điều tra cho thấy vùng phân bố tôm hùm con ngoài tự nhiên có độ mặn dao động trong khoảng 33 - 34‰. Sự thay đổi đột ngột độ mặn (từ 5 - 15‰) sẽ làm hoạt động bắt mồi của tôm con giảm từ 30 - 90%, khi độ mặn giảm xuống đến 20 - 25‰ và kéo dài 3 - 5 ngày sẽ gây nên tình trạng chết từ từ ở tôm con. Độ mặn vùng biển có tác động đến hoạt động bắt mồi, khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu ở tôm hùm con,... từ đó những thay đổi bất lợi hoặc kéo dài thời gian lột xác hoặc gây chết đối với chúng.

- Số liệu điều tra ở khu vực miền Trung Việt Nam cho thấy, tôm hùm trưởng thành sống ngoài khơi ở độ sâu dưới 10m nước, độ mặn dao động từ 30 - 35‰.  

3.5. Nguồn thức ăn tự nhiên 
- Tôm hùm được coi là những động vật ăn mồi sống chủ yếu trong hệ sinh vật đáy ở biển. Chúng bắt mồi vào ban đêm trên những vùng rạn có nguồn thức ăn phong phú gồm các loài liên quan với rạn san hô và có ảnh hưởng trực tiếp tới cấu trúc chung của hệ sinh thái hoặc một vùng sinh thái, kể cả thành phần loài và độ phong phú của các sinh vật là mồi của chúng. Ở nước ta, nghiên cứu của một số tác giả cho thấy, thành phần động thực vật thường gặp ở vùng tôm hùm phân bố bao gồm: các động vật thuộc giáp xác nhỏ (tôm, cua), thân mềm (sò, vẹm, ốc), cầu gai, sao biển, một số loài cá (cá đáy, cá rạn san hô), huệ biển, hải sâm và các loài rong, rêu.

- Một số khu vực nền đáy có tôm hùm phân bố:

 

(A): nền đáy cát (B): san hô có thảm thực vật (C,D,E): rạn đá/đá tản.
 
- Các loài tôm hùm nuôi tại vùng biển miền Trung: 

 
(A): tôm hùm Đá (B): tôm hùm Đỏ (C): tôm hùm Bông (D): tôm hùm Tre (E): tôm hùm Sỏi.

Bài đăng phổ biến